Nguyễn Văn Tình

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyễn Văn Tình
Chính ủy Nguyễn Văn Tình.jpg
Tiểu sử
Quốc tịchFlag of Vietnam.svg Việt Nam
Sinh1945
Giao Yến, Giao Thủy, Nam Định
Binh nghiệp
ThuộcFlag of the People's Army of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ2005-2008
Cấp bậcVietnam People's Navy Vice Admiral.jpg Phó đô đốc
Đơn vịQuân chủng Hải quân
Chỉ huyFlag of Vietnam.svg Quân chủng Hải quân
Khen thưởngAnh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.


Nguyễn Văn Tình (sinh năm 1945), là một sĩ quan cấp cao trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, hàm Phó Đô đốc, nguyên Phó Tư lệnh Binh chủng Đặc công, nguyên Chính ủy Quân chủng Hải quân, Ủy viên Trung ương Đảng khóa 9.[1][2][3], danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (1969)[4].

Thân thế và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 2 tháng 10 năm 1945, quê tại xã Giao Yến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

Nhập ngũ ngày 10 tháng 10 năm 1963, được kết nạp Đảng ngày 15 tháng 9 năm 1966 (chính thức 15.9.1967). 

Tháng 10 năm 1963,  ông là chiến sĩ Lữ đoàn 330, Sư đoàn 304; 2.1964, chiến sĩ cận vệ thuộc Phòng Hành chính Bộ Tư lệnh Hải quân. 

Tháng 3 năm 1965, hạ sỹ đơn vị Đặc công nước thuộc Đội 1, Bộ Tư lệnh Hải quân

Tháng 11 năm 1965, trung sỹ Đại đội 1 Đặc công nước, Đội 1, Bộ Tư lệnh Hải quân

Tháng 11 năm 1966, phân đội phó rồi phân đội trưởng, Phó Bí thư Chi bộ Phân đội 1, Đội 1 Đoàn 126 Đặc công Hải quân

Tháng 10 năm 1968, trợ lý Tham mưu, Ban Tham mưu Đoàn 126 Đặc công Hải quân

Tháng 6 năm 1969, đội phó, Đảng uỷ viên Đội 33 Đoàn 126 Đặc công Hải quân

Tháng 9 năm 1969, đội trưởng, Chi uỷ viên Đội 11, Đoàn 126 Đặc công Hải quân

Tháng 7 năm 1970, học viên tại Tiểu đoàn 9, Học viện Chính trị

Tháng 9 năm 1971, chính trị viên lớp đào tạo sĩ quan đặc công nước thuộc Tiểu đoàn 8 Đoàn 126 Đặc công Hải quân. 

Tháng 8 năm 1972, chính trị viên phó Tiểu đoàn 8, Đoàn 126 Đặc công Hải quân, Đảng uỷ viên Tiểu đoàn

Tháng 2 năm 1973, chính trị viên phó Tiểu đoàn 3, Đoàn 126 Đặc công Hải quân, Đảng uỷ viên Tiểu đoàn

Tháng 1 năm 1974, trợ lý Ban Chính trị Đoàn 126 Đặc công Hải quân

Tháng 7 năm 1974, tổ trưởng tổ học tập, Chi uỷ viên lớp đào tạo cán bộ chủ trì chính trị trung cấp thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 9, Học viện Chính trị. 

Tháng 8 năm 1976,  chính trị viên Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 126 Hải quân, Bí thư Đảng uỷ Tiểu đoàn, Đảng uỷ viên Lữ đoàn

Tháng 11 năm 1977, tổ trưởng học tập, Chi uỷ viên Đội 1, Đoàn 564 Trường Văn hoá Quân khu 3. 

Tháng 10 năm 1978, học viên Trường Ngoại ngữ Quân sự

Tháng 10 năm 1980, học tại Học viện Quân chính Lê Nin Liên Xô, Đảng uỷ viên Tuỳ viên Quân sự 343

Tháng 7 năm 1984, đoàn trưởng Đoàn Đặc công 861 (Nay là Đoàn 126 Hải quân), Phó Bí thư Đảng uỷ Đoàn. 

Tháng 9 năm 1989, học viên lớp đào tạo 10, Hệ đào tạo thuộc Học viện Quân sự cấp cao

Tháng 8 năm 1991, đoàn trưởng Đoàn 126, Đảng uỷ viên Binh chủng Đặc công, Phó Bí thư Đảng uỷ Đoàn 126

Tháng 4 năm 1994, Phó Tư lệnh Binh chủng Đặc công

Tháng 7 năm 1997, học bổ túc tại Học viện Chính trị Quân sự

Tháng 8 năm 1998, Phó Tư lệnh Binh chủng Đặc công

Tháng 11 năm 1999, Phó Tư lệnh Quân sự Quân chủng Hải quân

Tháng 2 năm 2000, Phó Tư lệnh về chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân chủng Hải quân[5]

Tháng 7 năm 2008, nghỉ hưu.[6]

Chuẩn Đô đốc (12.2001), Phó Đô đốc (2004).

Khen thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (1969)
  • Huân chương Chiến công (2 hạng Nhất, 2 Nhì, 2 Ba)
  • Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba)
  • Huân chương Chiến sĩ Giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba)
  • Huy chương Quân kỳ quyết thắng

Kỷ luật[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 19 tháng 6 năm 2019, Ban bí thư đã kỷ luật cảnh cáo Nguyễn Văn Tình.[7] Cụ thể, Ban thường vụ Đảng uỷ Quân chủng Hải quân đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; vi phạm thẩm quyền và quy định pháp luật về quản lý đất đai; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát. Trong thời gian ông giữ cương vị Uỷ viên Trung ương Đảng, Uỷ viên Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Bí thư Đảng uỷ Quân chủng Hải quân (từ tháng 11/2005 đến tháng 1/2008), Chính uỷ Quân chủng Hải quân, chịu trách nhiệm người đứng đầu cấp uỷ về những vi phạm, khuyết điểm nghiêm trọng của Ban thường vụ Đảng uỷ Quân chủng Hải quân nhiệm kỳ 2005 - 2010.[8]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]