Ophthalmolepis lineolata

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Ophthalmolepis lineolata
Ophthalmolepis lineolata Maori wrasse m PC280309.JPG
Cá đực
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Actinopterygii
Bộ (ordo)Perciformes
Họ (familia)Labridae
Chi (genus)Ophthalmolepis
Bleeker, 1862
Loài (species)O. lineolata
Danh pháp hai phần
Ophthalmolepis lineolata
(Valenciennes, 1839)
Danh pháp đồng nghĩa
  • Julis lineolatus Valenciennes, 1839

Ophthalmolepis lineolata là loài cá biển duy nhất thuộc chi Ophthalmolepis trong họ Cá bàng chài. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1839.

Phân bố và môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

Cá con của O. lineolata

O. lineolata là một loài đặc hữu của vùng biển phía nam nước Úc; được tìm thấy từ vịnh Byron ở phía bắc bang New South Wales, trải dài dọc theo bờ biển phía nam của Úc đến quần đảo Houtman Abrolhos (Tây Úc); tuy nhiên O. lineolata lại hiếm khi được bắt gặp tại eo biển Bass. O. lineolata sống xung quanh những rạn san hô ở độ sâu khoảng 60 m trở lại[1][2].

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

O. lineolata có chiều dài cơ thể tối đa được ghi nhận là 47 cm[3]. Cá mái và cá con đang trưởng thành có màu đỏ cam ở thân trên; dải màu trắng dọc theo hai bên lườn và màu vàng nâu ở thân dưới. Cá đực có thân dưới màu vàng nâu; thân trên có dải màu đỏ gạch; bên dưới dải màu trắng là một dải màu đen. Đầu và thân của cá đực trưởng thành có nhiều chấm và vệt màu xanh ánh kim (trên cả các vây)[3][4].

Số gai ở vây lưng: 9; Số tia vây mềm ở vây lưng: 12 - 13; Số gai ở vây hậu môn: 3; Số tia vây mềm ở vây hậu môn: 13; Số tia vây mềm ở vây ngực: 14[3].

Thức ăn của O. lineolatagiun nhiều tơ và những loài động vật giáp xác. O. lineolata trưởng thành thường bơi thành những nhóm với số lượng lớn các cá thể; cá con lại sống đơn độc ở gần cửa sông[1].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]