Pandora (vệ tinh)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Pandora
PIA21055 - Pandora Up Close.jpg
Hình ảnh bán cầu phía tây của vệ tinh Pandora.[a]
Khám phá
Khám phá bởi Collins, Voyager 1
Ngày khám phá October, 1980
Đặc trưng quỹ đạo[1]
Kỷ nguyên 31 tháng 12 năm 2003 (JD &0000000002453005.5000002453005.5)
Bán trục lớn &0000000141720000.000000141720+10 km
Độ lệch tâm &-1-100000000000000.0042000.0042
Chu kỳ quỹ đạo &0000000000054302.7640030.628504213 d
Độ nghiêng quỹ đạo &-1-100000000000000.0008730.050°+0.004° ° so với xích đạo của Sao Thổ
vệ tinh của Sao Thổ
Đặc trưng vật lý
Kích thước 104 × 81 × 64 km [2]
Bán kính trung bình &0000000000040700.00000040.7+1.5 km [2]
Thể tích &0000000000280000.000000≈ 280000 km3
Khối lượng &7100000000000900.000000(1.371+0.019)×1017 kg[2]
Mật độ khối lượng thể tích &0000000000000000.4900000.49+0.06 g/cm3[2]
Hấp dẫn bề mặt 0.0026–0.0060 m/s2[2]
Tốc độ vũ trụ cấp 2 &0000000000000019.000000≈ 0.019 km/s
Chu kỳ tự quay đồng bộ chuyển động quay
Độ nghiêng trục quay không
Suất phản chiếu 0.6
Nhiệt độ ≈ 78 K

Pandora ( /pænˈdɔərə/ pan-DOHRpan-DOHR; tiếng Hy Lạp: Πανδώρα) là một vệ tinh bên trong của Sao Thổ. Nó được khám phá vào năm 1980 từ những bức ảnh chụp bởi tàu vũ trụ Voyager 1, và được đặt ký hiệu tạm thời là S/1980 S 26.[3] Vào cuối năm 1985, nó được đặt tên chính thức theo Pandora từ thần thoại Hy Lạp.[4] Nó cũng được đặt ký hiệu là Saturn XVII.[5]

Pandora đã từng được nghĩ rằng là một vệ tinh vành đai rìa ngoài của Vành F. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng nó không có vai trò như thế, và rằng chỉ duy nhất vệ tinh Prometheus, vệ tinh vành đai rìa trong, góp phần cho sự giam hãm của vành đai hẹp.[6][7] Vệ tinh này bị va chạm bề mặt nặng hơn nhiều so với vệ tinh Prometheus ở gần đó, và có ít nhất hai hố va chạm lớn có đường kính 30 kilômét (19 mi). Phần lớn các hố va chạm trên vệ tinh Pandora đều nông vì là kết quả của việc bị lấp đầy các mảnh vỡ. Các ngọn núi và các khe rãnh cũng xuất hiện trên bề mặt vệ tinh này.[8]

Quỹ đạo của Pandora có vẻ lộn xộn, vì là kết quả của một chuỗi gồm 4 cộng hưởng chuyển động đều 118:121 với vệ tinh Prometheus.[9] Những biến đổi đáng kể nhất trong quỹ đạo của chúng xảy ra xấp xhir mỗi 6,2 năm,[1] khi cận điểm quỹ đạo của Pandora xếp thẳng hàng với viễn điểm quỹ đạo của vệ tinh Prometheus và các vệ tinh lại gần trong khoảng 1.400 kilômét (870 mi). Pandora cũng có cộng hưởng chuyển động đều 3:2 với vệ tinh Mimas.[1]

Với mật độ rất thấp và suất phản chiếu khá cao, có vẻ như có khả năng Pandora là một thiên thể phủ băng hết sức xốp. Tuy nhiên, có rất nhiều sự không chắc chắn trong những giá trị này, nên điều này vẫn còn cần phải được xác nhận trong tương lai.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú
  1. ^ Bức ảnh này được chụp bởi Cassini, trong một lần bay qua gần của tàu vũ trụ này vào ngày 18 tháng 12 năm 2016. Bức ảnh được chụp từ khoảng cách 40,500 kilômét (25,166 dặm); lần tiếp cận gần nhất của tàu vụ trụ trong số 14 năm ở trong hệ thống sao Thổ.
Trích dẫn
  1. ^ a ă â Spitale Jacobson et al. 2006.
  2. ^ a ă â b c Thomas 2010.
  3. ^ IAUC 3532.
  4. ^ IAUC 4157.
  5. ^ USGS: Planet and Satellite Names and Discoverers.
  6. ^ Lakdawalla, E. (ngày 5 tháng 7 năm 2014). “On the masses and motions of mini-moons: Pandora's not a "shepherd," but Prometheus still is”. Planetary Society. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2015. 
  7. ^ Cuzzi, J. N.; Whizin, A. D.; Hogan, R. C.; Dobrovolskis, A. R.; Dones, L.; Showalter, M. R.; Colwell, J. E.; Scargle, J. D. (tháng 4 năm 2014). “Saturn’s F Ring core: Calm in the midst of chaos”. Icarus 232: 157–175. Bibcode:2014Icar..232..157C. ISSN 0019-1035. doi:10.1016/j.icarus.2013.12.027. 
  8. ^ Solar System, NASA: Pandora.
  9. ^ Renner et al. 2005.
Nguồn

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Pandora at NASA's Solar System Exploration
  • Pandora at The Planetary Society