Phoebe (vệ tinh)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Phoebe
Phoebe closeup cassini NASA.jpg
Cassini mosaic of Phoebe
Khám phá
Khám phá bởiW.H. Pickering
Ngày khám phá17 March 1899 & 16 August 1898
Tên chỉ định
Saturn IX
Tính từPhoebean
Đặc trưng quỹ đạo[1]
Bán trục lớn12.96 Gm
Độ lệch tâm&0000000000000000.1562420.1562415
Chu kỳ quỹ đạo&0000000047568784.550400550.564636 d
Độ nghiêng quỹ đạo173.04° (to the ecliptic)
151.78° (to Saturn's equator)
vệ tinh củaSaturn
Đặc trưng vật lý
Kích thước(&0000000000000218.800000218.8+2.8) × (&0000000000000217.000000217.0+1.2) 
× (&0000000000000203.600000203.6+0.6) km
[1]
Bán kính trung bình&0000000000106500.000000106.5+0.7 km[1]
Khối lượng&2000000000000000.000000(8.292+0.010)×1018 kg[1]
Mật độ khối lượng thể tích&0000000000000001.6380001.638+0.033 g/cm³[1]
Hấp dẫn bề mặt0.038–0.050 m/s2[1]
Tốc độ vũ trụ cấp 2≈ 0.10 km/s
Chu kỳ tự quay&0000000000033384.6000009.2735 h (9 h 16 min 25 s ± 3 s) [2]
Độ nghiêng trục quay152.14° [3]
Suất phản chiếu0.06
Nhiệt độ≈ 73(?) K

Phoebe (/ˈfbi/ FEE-bee; Tiếng Hy Lạp: tiếng Hy Lạp cổ: Φοίβη Phoíbē) là một vệ tinh dị hình của Sao Thổ với đường kính trung bình 213 km. Nó được phát hiện ra bởi William Henry Pickering vào ngày 18 tháng 3 năm 1899[4] từ các tấm kính ảnh được chụp bắt đầu từ ngày 16 tháng 8 năm 1898 tại Đài quan sát Boyden gần Arequipa, Peru, bởi DeLisle Stewart. Nó là vệ tinh tự nhiên đầu tiên được phát hiện thông qua ảnh chụp.

Phoebe là đối tượng đầu tiên bắt gặp trong lần ghé thăm của tàu vũ trụ Cassini tới hệ Sao Thổ vào năm 2004, và do đó được nghiên cứu kĩ lưỡng một cách khác thường đối với một irregular satellite ở kích cỡ của nó. Quỹ đạo của Cassini với sao Thổ và thời gian ghé thăm được lựa chọn một cách đặc biệt để cho phép cuộc bay ngang qua này.[5] Sau lần bắt gặp và tiến vào quỹ đạo của nó, Cassini không đi quá nhiều ngoài quỹ đạo của Iapetus.

Phoebe thì đại khái có hình cầu, là một vệ tinh có phân tầng bên trong. Ở thời kì đầu trong lịch sử của mình, Phoebe đã từng có hình cầu và nóng và bị biến đổi khỏi hình dạng cầu do các cú va chạm diễn ra liên tục. Các nhà khoa học tin là nó là một centaur bị bắt giữ mà có nguồn gốc từ Vành đai Kuiper. [6]

Bản đồ[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, P. C. (tháng 7 năm 2010). “Sizes, shapes, and derived properties of the saturnian satellites after the Cassini nominal mission” (PDF). Icarus 208 (1): 395–401. Bibcode:2010Icar..208..395T. doi:10.1016/j.icarus.2010.01.025. 
  2. ^ Bauer, J.M.; Buratti, B.J.; Simonelli, D.P.; Owen, W.M. (2004). “Recovering the Rotational Lightcurve of Phoebe”. The Astronomical Journal 610: L57–L60. Bibcode:2004ApJ...610L..57B. doi:10.1086/423131. 
  3. ^ Porco CC và đồng nghiệp (25 tháng 2 năm 2005). “Cassini Imaging Science: Initial Results on Phoebe and Iapetus”. Science 307 (5713): 1237–1242. Bibcode:2005Sci...307.1237P. PMID 15731440. doi:10.1126/science.1107981. 
  4. ^ Kovas, Charlie. “On This Day”. What Happened on March 18, 1899. Unknown. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2017. 
  5. ^ Martinez, Carolina; Brown, Dwayne (9 tháng 6 năm 2004). “Cassini Spacecraft Near First Stop in Historic Saturn Tour”. Mission News. NASA. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2008. 
  6. ^ Jewitt, David; Haghighipour, Nader (2007). “Irregular Satellites of the Planets: Products of Capture in the Early Solar System” (PDF). Annual Review of Astronomy and Astrophysics 45: 261–95. Bibcode:2007ARA&A..45..261J. arXiv:astro-ph/0703059. doi:10.1146/annurev.astro.44.051905.092459. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]