Rạch Ông Chưởng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đầu vàm rạch Ông Chưởng tại thị trấn Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Rạch Ông Chưởng, còn được gọi là sông Ông Chưởng, Lòng Ông Chưởng[1], Lễ Công Giang, Ngư Ông Đà (tên chữ), Péam prêk chaufay (người Khmer gọi) [2]; là một con rạch tự nhiên tại tỉnh An Giang, Việt Nam.

Giới thiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Rạch Ông Chưởng là một phân lưu của sông Tiền, đưa một phần nước từ sông Tiền qua sông Hậu. Rạch có hình dạng uốn khúc, chảy theo hướng Đông Bắc-Tây Nam, dài 23 km, rộng chừng từ 80 m đến 100 m (dao động theo mùa), sâu chừng 8 m, khả năng tải nước mùa lũ ở mức 800 m³/s với tốc độ trên 1 m/s. Rạch lấy nước Sông Tiền ở đầu thị trấn Chợ Mới qua 6 xã là Long Điền A, Long Điền B, Long Kiến (đều thuộc tả Ngạn, bên phải bản đồ) và xã Kiến An, Kiến Thành, Long Giang (đều thuộc hữu ngạn, bên trái bản đồ) rồi đổ nước vào sông Hậu tại đỉnh cua cong của cù lao Mỹ Hòa Hưng, thuộc thành phố Long Xuyên, chia huyện Chợ Mới thành hai khu vực.

Trước đây, tên rạch có thể được gọi là "rạch Cây Sao" (hay "rạch cồn Cây Sao"), bởi chảy cạnh bên cồn Cây Sao[3], theo thói quen của người dân Nam Bộ. Đến khi con rạch được gọi là rạch Ông Chưởng (gọi tên theo chức danh của Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh khi ông đến đất này vào khoảng năm 1700), thì tên cồn cũng thay đổi theo.

Đề cập đến con rạch này, sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức có đoạn:

Tục gọi là vàm [4] Ông Chưởng; cửa sông nầy rộng 8 tầm, sâu 8 thước ta. Trước cửa sông có cù lao nhỏ và nhân tên sông mà gọi tên cù lao ấy (cù lao Ông Chưởng), ở cách phía tây đạo Đông Khẩu 90 dặm rưỡi. Sông chảy vào nam 60 dặm rưỡi đến hạ khẩu rồi hợp lưu với Hậu Giang. Bờ phía tây có sở thủ ngự Hùng Sai, bờ phía tây thượng khẩu có miếu thờ Khâm sai Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn (Nguyễn Hữu Cảnh) vì dân ở đấy cho rằng ông có công dẹp yên Cao Miên, khai thác đất này, nên nhân dân nhớ công đức mà lập miếu thờ...[5]

Lợi ích, di tích[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ mô tả rạch Ông Chưởng (được in màu xanh đậm)

Nhờ rạch nằm trong, ít chịu ảnh hưởng bởi thời tiết và không bao giờ cạn, nên tàu thuyền trọng tải vừa và nhỏ có thể đi lại ở cả hai mùa. Do tầm quan trọng về mặt giao thông đường thủy, rạch Ông Chưởng được đưa vào danh sách sông, kênh do chính quyền trung ương của Việt Nam quản lý.

Ngoài ra, lượng phù sa mà con rạch đem lại, đã biến hai bên bờ mà nó chảy qua thành những vùng đất màu mở, với nhiều ruộng vườn tươi tốt, xum xuê. Do vậy, vào lối năm 1875, thời vua Tự Đức, nơi đây đã đặt một trạm để thu thuế thủy lợi.

Và trước kia, mỗi khi nói đến vùng đất này, người ta hay thường hay nhắc đến 2 câu ca dao:

Bao phen quạ nói với diều
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm.

Nhưng do buông lỏng quản lý cùng việc đánh bắt thiếu cân nhắc của người dân, nên nguồn lợi thủy sản giàu có mà thiên nhiên ban tặng nơi này, giờ đây đã gần như cạn kiệt.

Dọc theo hai bên bờ rạch, có nhiều đình chùa, nhưng nổi tiếng hơn cả là Tây An cổ tự, đền thờ Nguyễn Trung Trực (xưa cả hai đều thuộc Long Kiến, nay thuộc xã Long Giang) và bốn đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh tọa lạc tại Chưng Đùng, Long Kiến, Kiến An, Long Điền A.

Thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Rạch Ông Chưởng, đoạn trước Dinh Long Kiến thờ Nguyễn Hữu Cảnh.
Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca
Trích:
Sông Lễ Công chỗ cù lao,
Miếu quan Chưởng Lễ thuở nào lưu lai.
Đồng Nai cũng có miễu ngài,
Nam Vang, Châu Đốc lại hai chỗ thờ.
Coi ra hiển hách bây giờ,
Cù lao ông Chưởng tư cơ đứng đầu.
(Nguyễn Liên Phong, 1909)
Và bài thơ luật Đường của T.T.T:
Cù lao Ông Chưởng
Noi dấu tôi công tự thuở giờ,
Cù lao ông Chưởng đó trơ trơ.
Xanh om mấy cụm bần theo bãi,
Trắng xóa đôi bên sóng phủ bờ.
Người chết nhang đèn chong vẫn tỏ,
Tên còn tre lụa nét không mờ.
Ngàn thu trở xuống nhuần ơn sót,
Châu Đốc, Nam Vang có miếu thờ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Còn được gọi tắt là Lòng Ông, Địa chí An Giang (Tập 2) giải thích lòng là một trong những danh từ chỉ sông.
  2. ^ Tên Khmer ghi theo Vương Hồng Sển, Tự vị tiếng nói miền Nam, Nhà xuất bản Trẻ, 1999.
  3. ^ Sách Gia Định Thành thông chí chú thích rõ: "Cù lao này lúc trước có nhiều cây sao, tức là cù lao Ông Chưởng ngày nay". Sử nhà Nguyễn gọi cồn Cây Sao là Cù lao Sao Mộc hay Tiêu Mộc hoặc châu Sao Mộc. Đây là một cù lao rộng lớn, gồm 5 xã là: Kiến An, Kiến Thành, Mỹ Hội Đông, Nhơn Mỹ và Long Giang. Tất cả đều thuộc huyện Chợ Mới.
  4. ^ Vàm do chữ Pãm của Khmer biến ra, có nghĩa cửa biển, cửa sông. (Vương Hồng Sển, Tự vị tiếng Việt miền Nam, Nhà xuất bản. Trẻ, tr. 626). Địa chí An Giang (tập 2) giải thích "vàm" là nơi sông nhỏ giao nhau với sông lớn (UBND tỉnh An Giang ấn hành năm 2007)
  5. ^ Theo Gia Định thành thông chí [1].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]