Sốt vàng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sốt vàng
YellowFeverVirus.jpg
Ảnh hiển vi của vi rút sốt vàng chụp bằng TEM (phóng to 234.000 lần)
Phân loại và các tư liệu bên ngoài
ICD-10 A95
ICD-9 060
DiseasesDB 14203
MedlinePlus 001365
eMedicine med/2432 emerg/645
MeSH D015004
Ngành Infectious disease
Flavivirus
YellowFeverVirus.jpg
Siêu vi trùng sốt vàng
(do Kính hiển vi điện tử truyền qua phóng lớn x234.000).
Phân loại virus
Nhóm: Nhóm IV ((+)ssRNA)
Họ (familia) Flaviviridae
Chi (genus) Flavivirus
Loài điển hình
Siêu vi trùng sốt vàng
St louis encephalitis map.PNG

Sốt vàng là chứng bệnh sốt gây vàng da do siêu vi trùng thuộc họ Flaviviridae gây ra [1][2]. Đây là một chứng bệnh sốt xuất huyết quan trọng tại châu PhiNam Mỹ mặc dầu hiện nay đã có vắc-xin hiệu nghiệm.

Sốt vàng hay sốt vàng da [3] là bệnh vi rút cấp tính.[4] Trong đa số trường hợp, có các triệu chứng sốt, ớn lạnh, mất cảm giác thèm ăn, nôn, đau bắp cơ đặc biệt ở lưng, và nhức đầu.[4] Triệu chứng thường giảm trong vòng năm ngày.[4] Ở một số người trong vòng một ngày thuyên giảm, sốt tái phát, đau bụng, và tổn thương gan bắt đầu gây vàng da.[4] Nếu tình trang này xảy ra thì nguy cơ chảy máu và bệnh về thận cũng tăng.[4]

Nguyên nhân và chẩn đoán[sửa | sửa mã nguồn]

Bệnh do vi rút sốt vàng gây ra và lây lan qua vết cắn của muỗi cái.[4] Bệnh chỉ có ở người, bộ linh trưởng, và vài loài muỗi.[4] Ở các thành phố, bệnh lan truyền chủ yếu qua muỗi thuộc loàiAedesaegypti.[4] Vi rút này là vi rút ARN thuộc chi Flavivirus.[5] Khó phân biệt được bệnh với bệnh khác, đặc biệt ở giai đoạn đầu.[4] Để xác định ca nghi nhiễm thì cần phải xét nghiệm mẫu máu bằng kỹ thuật phản ứng chuỗi trùng hợp.[6]

Phòng Ngừa, Điều Trị và Chẩn Đoán[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện có vắc xin an toàn và hiệu quả phòng chống bệnh sốt vàng và một số nước yêu cầu tiêm chủng cho người đi du lịch.[4] Biện pháp khác phòng ngừa nhiễm bệnh là giảm số muỗi truyền bệnh.[4] Tại những nơi sốt vàng lưu hành và tiêm chủng không rộng rãi thì phát hiện bệnh sớm và chủng ngừa phần lớn người dân là điều quan trọng để ngăn ngừa dịch bệnh.[4] Một khi bị nhiễm bệnh, thì kiểm soát triệu chứng chứ không có biện pháp điều trị đặc hiệu hiệu quả chống vi rút.[4] Đối với người bệnh nặng, khoảng một nửa người không được điều trị bị tử vong.[4]

Dịch tễ học và lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi năm, sốt vàng gây 200.000 người bệnh và 30.000 người tử vong,[4] trong đó có 90% trong số này ở châu Phi.[6] Gần một tỷ người sống ở vùng bệnh lưu hành.[4] Bệnh phổ biến ở những vùng nhiệt đới của Nam Mỹchâu Phi, nhưng không ở châu Á.[4][7] Từ thập niên 1980, số ca sốt vàng không ngừng tăng.[4][8] Điều này được cho là do có ít người hơn được chủng ngừa, nhiều người hơn sống tại các thành phố, người ta đi lại thường xuyên, và khí hậu thay đổi.[4] Bệnh bắt nguồn tại châu Phi, từ đó lan sang Nam Mỹ qua buôn bán nô lệ vào thế kỷ 17.[3] Từ thế kỷ 17, có vài đợt bùng phát dịch bệnh lớn xảy ra tại châu Mỹ, châu Phi, và châu Âu.[3] Vào thế kỷ 18 và 19, sốt vàng được xem là một trong những bệnh truyền nhiễmnguy hiểm nhất.[3] Vi rút sốt vàng là vi rút gây bệnh ở người đầu tiên được phát hiện.[5]

Sốt vàng từng gây nhiều trận dịch tàn khốc, giết hại hàng trăm ngàn người.[9] Trong thế kỷ 18, sốt vàng lan tràn tại Ý, Pháp, Tây Ban NhaAnh quốc.[10] Vào thế kỷ 19, khoảng 300.000 người Tây Ban Nha chết vì sốt vàng.[11] Trong thời kỳ cách mạng Haiti năm 1802 gần nửa đội quân Pháp bị sốt vàng chết.[12] Sốt vàng tiếp tục gây tử vong khắp nơi cho đến thế kỷ 20 khi khoa học khám phá ra bệnh lây do muỗi đốt và nghiên cứu được phương cách phòng chống bằng vắc-xin.

Cuộc tìm kiếm vắc-xin ngừa sốt vàng tốn rất nhiều công sức và hy sinh của nhiều người, trong đó có bác sĩ Cuba Carlos Finlay và bác sĩ Mỹ Walter Reed. Tuy vậy hiện nay vẫn còn nhiều nước chậm tiến chưa được chủng ngừa.[13] Tổ chức Y tế thế giới ước lượng trong năm 2001 200.000 người bị sốt vàng và 30.000 tử vong.[14]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Anker M, Schaaf D và đồng nghiệp (ngày 7 tháng 1 năm 2000). “WHO Report on Global Surveillance of Epidemic-prone Infectious Diseases” (PDF). WHO. tr. 11. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2007. 
  2. ^ Schmaljohn AL, McClain D. (1996). “Alphaviruses (Togaviridae) and Flaviviruses (Flaviviridae)”. Trong Baron S. Medical Microbiology (ấn bản 4). Univ of Texas Medical Branch. ISBN 0-9631172-1-1. 
  3. ^ a ă â b Oldstone, Michael (2009). Viruses, Plagues, and History: Past, Present and Future. Oxford University Press. tr. 102–4. ISBN 9780199758494. 
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ “Yellow fever Fact sheet N°100”. World Health Organization. Tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2014. 
  5. ^ a ă Lindenbach, B. D. và đồng nghiệp (2007). “Flaviviridae: The Viruses and Their Replication”. Trong Knipe, D. M. and P. M. Howley. (eds.). Fields Virology (ấn bản 5). Philadelphia, PA: Lippincott Williams &Wilkins. tr. 1101. ISBN 0-7817606-0-7. 
  6. ^ a ă Tolle MA (tháng 4 năm 2009). “Mosquito-borne diseases”. CurrProblPediatrAdolesc Health Care 39 (4): 97–140. doi:10.1016/j.cppeds.2009.01.001. PMID 19327647. 
  7. ^ “CDC Yellow Fever”. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2012. 
  8. ^ Barrett AD, Higgs S (2007). “Yellow fever: a disease that has yet to be conquered”. Annu. Rev. Entomol. 52: 209–29. doi:10.1146/annurev.ento.52.110405.091454. PMID 16913829. 
  9. ^ Yellow Fever - LoveToKnow 1911
  10. ^ TKH Virology Notes: Yellow Fever
  11. ^ Tiger mosquitoes and the history of yellow fever and dengue in Spain
  12. ^ Bollet, AJ (2004). Plagues and Poxes: The Impact of Human History on Epidemic Disease. Demos Medical Publishing. tr. 48–9. ISBN 1-888799-79-X. 
  13. ^ Tomori O (2002). “Yellow fever in Africa: public health impact and prospects for control in the 21st century”. Biomedica 22 (2): 178–210. PMID 12152484. 
  14. ^ “Yellow fever fact sheet”. WHO—Yellow fever. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2006. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]