Scott Morrison

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Scott Morrison
Scott Morrison 2014.jpg
Thủ tướng thứ 30 của Úc
Nhậm chức
24 tháng 8 năm 2018
&0000000000000001.0000001 năm, &0000000000000080.00000080 ngày
Nữ hoàngElizabeth II
Toàn quyềnPeter Cosgrove
Tiền nhiệmMalcolm Turnbull
Lãnh đạo Đảng Tự do
Nhiệm kỳ
24 tháng 8 năm 2018 – nay
&0000000000000001.0000001 năm, &0000000000000080.00000080 ngày
Tiền nhiệmMalcolm Turnbull
Bộ trưởng Bộ Dịch vụ Xã hội Úc
Nhiệm kỳ
23 tháng 12 2014 – 21 tháng 9 2015
&-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 năm, &0000000000000272.000000272 ngày
Thủ tướngTony Abbott
Malcolm Turnbull
Tiền nhiệmKevin Andrews
Kế nhiệmChristian Porter
Bộ trưởng Bộ Di cư & Bảo vệ Biên giới Úc
Nhiệm kỳ
18 tháng 9 2013 – 23 tháng 12 2014
&0000000000000001.0000001 năm, &0000000000000096.00000096 ngày
Thủ tướngTony Abbott
Tiền nhiệmTony Burke
Kế nhiệmPeter Dutton

Scott John Morrison (sinh ngày 13 tháng 5 năm 1968) là một chính trị gia người Úc, là lãnh đạo hiện tại của Đảng Tự do Úc và là Thủ tướng Úc thứ 30. Ông là thành viên của Hạ viện từ năm 2007, đại diện cho Khu vực Cook ở New South Wales.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Morrison sinh ra ở Waverley, Sydney. Cha của ông là một viên cảnh sát phục vụ Hội đồng thành phố Waverley trong 16 năm, trong đó có một thời gian ngắn là thị trưởng.[1] Ông nội của Morrison sinh ra ở New Zealand. Morrison lớn lên ở ngoại ô Bronte. Ông có một có một thời gian ngắn ngủi tham gia làm diễn viên nhí và đã xuất hiện trong một số quảng cáo truyền hình.[2][3] Ông đã học địa lý kinh tế tại Đại học New South Wales. Trước khi tham gia chính trị, ông làm giám đốc Văn phòng Du lịch và Thể thao New Zealand từ năm 1998 đến năm 2000 và là giám đốc điều hành của Tổng cục Du lịch Australia từ năm 2004 đến năm 2006. Ông cũng là giám đốc bang của Đảng Tự do New South Wales từ năm 2000 đến 2004. Morrison lần đầu tiên được bầu vào Hạ viện Úc tại cuộc bầu cử liên bang năm 2007. Ông được bổ nhiệm làm người đứng đầu phe đối lập sau cuộc bầu cử năm 2010.

Sau chiến thắng của Liên minh trong cuộc bầu cử năm 2013, Morrison được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Di trú và Bảo vệ Biên giới trong Chính phủ Abbott.[4] Trong cương vị đó, ông chịu trách nhiệm thực hiện Chiến dịch Sovereign Borders, một trong những chính sách hàng đầu của Liên minh. Trong một cuộc cải tổ nội các tháng 12 năm 2014, Morrison chuyển sang làm Bộ trưởng Bộ Các vấn đề Xã hội.[5] Ông được bổ nhiệm chức vụ Bộ trưởng Tài chính vào tháng 9 năm 2015, khi Malcolm Turnbull thay thế Tony Abbott làm thủ tướng.[6]

Vào tháng 8 năm 2018, Peter Dutton thách thức Turnbull vì sự lãnh đạo của Đảng Tự do, do sự bất mãn từ cánh bảo thủ của đảng. Turnbull đã đánh bại Dutton trong một cuộc bỏ phiếu lãnh đạo, nhưng căng thẳng tiếp tục gắn kết và đảng đã bỏ phiếu ủng hộ thực hiện một cuộc bỏ phiếu thứ nhì; Turnbull đã chọn không làm ứng cử viên. Trong cuộc bỏ phiếu thứ hai, Morrison nổi lên như một ứng cử viên thỏa hiệp, đánh bại Dutton và Julie Bishop để trở thành lãnh đạo của Đảng Tự do và thủ tướng.[7]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nick Bryant (tháng 2 năm 2012). “Scott Morrison: So Who the Bloody Hell Are You?”. The Monthly. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2018. 
  2. ^ Deborah Snow (30 tháng 4 năm 2016). “Scott Morrison's relentless rise to power”. The Sydney Morning Herald. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2018. 
  3. ^ Members' statements in relation to citizenship: Scott Morrison, Parliament of Australia. Retrieved 7 February 2018.
  4. ^ “Tony Abbott's cabinet and outer ministry”. The Sydney Morning Herald. AAP. 16 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2013. 
  5. ^ “Dutton to immigration in reshuffle”. News.com.au. 21 tháng 12 năm 2014. 
  6. ^ Murphy, Katharine (20 tháng 9 năm 2015). “Malcolm Turnbull unveils his ministry”. The Guardian. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2015. 
  7. ^ “Scott Morrison wins Liberal party leadership spill”. Nine News. 24 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2018.