Symbian OS

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Symbian OS
Màn hình chính của Nokia Belle Feature Pack 2
Màn hình chính của Nokia Belle Feature Pack 2 (phiên bản cuối cùng của Symbian)
Nhà phát triểnSymbian Ltd. (1998–2008)
Symbian Foundation (2008–11)
Nokia (2010–11)
Accenture thay mặt cho Nokia (2011–13)[1]
Được viết bằngC++[2]
Họ hệ điều hànhRTOS
Tình trạng
hoạt động
Ngừng phát triển
Kiểu mã nguồnNguồn đóng[3] trước đây là nguồn mở(2010–11)
Phiên bản
mới nhất
Nokia Belle Feature Pack 2 / 2 October 2012
Có hiệu lực
trong
Đa ngôn ngữ
Phương thức
cập nhật
65
Hệ thống
quản lý gói
.sis, .sisx, .jad, .jar
Nền tảngARM, x86[4]
Loại hạt nhânmicrokernel thời gian thực, EKA2
Giao diện
mặc định
Series 60(từ 2009), UIQ
Giấy phépProprietary,[5] previously licensed under EPL
Website chính thứcsymbian.nokia.com (defunct as of May 2014), symbian.org (defunct as of 2009–10)

Symbianhệ điều hành đã ngừng phát triển được viết và sử dụng cho một số điện thoại di động.[6] Symbian ban đầu được phát triển như một hệ điều hành nguồn đóng cho các thiết bị PDA năm 1998 bởi consortium Symbian Ltd .[7] Symbian OS là hậu duệ của EPOC của Psion, và chỉ chạy trên bộ xử lý ARM, mặc dù đã tồn tại một port cho x86. Symbian đã được sử dụng bởi nhiều thương hiệu điện thoại di động lớn, như Samsung, Motorola, Sony Ericsson, và trên hết của Nokia. Nó cũng phổ biến ở Nhật Bản bởi các thương hiệu bao gồm Fujitsu, Sharp và Mitsubishi. Là người tiên phong thành lập ngành công nghiệp điện thoại thông minh, nó là hệ điều hành điện thoại thông minh phổ biến nhất trên mức trung bình trên toàn thế giới cho đến cuối năm 2010 - tại thời điểm điện thoại thông minh bị hạn chế sử dụng - khi bị Android vượt qua, khi Google và các đối tác của mình đạt được sự chấp nhận rộng rãi. Nó đáng chú ý là không phổ biến ở Bắc Mỹ.

Nền tảng Symbian OS được tạo thành từ hai thành phần: một là hệ điều hành dựa trên microkernel với các thư viện liên kết và phần còn lại là giao diện người dùng, (như middleware), cung cấp lớp vỏ đồ họa trên hệ điều hành.[8] Giao diện người dùng nổi bật nhất là nền tảng S60 (trước đây là Series 60) được xây dựng bởi Nokia,phát hành lần đầu năm 2002 và cung cấp sức mạnh cho hầu hết các thiết bị Nokia Symbian. UIQlà giao diện người dùng cạnh tranh chủ yếu được Motorola và Sony Ericsson sử dụng, tập trung vào các thiết bị dựa trên bút, thay vì giao diện bàn phím truyền thống từ S60. Một giao diện khác là nền tảng MOAP(S) từ nhà cung cấp NTT DoCoMo tại thị trường Nhật Bản.[9] Các ứng dụng của các giao diện khác nhau này không tương thích với nhau, mặc dù mỗi ứng dụng được xây dựng trên Symbian OS. Nokia Nokia đã trở thành cổ đông lớn nhất của Symbian Ltd. năm 2004 và mua lại toàn bộ công ty vào năm 2008.[10] Tổ chức phi lợi nhuận Symbian Foundation sau đó được thành lập để trở thành người kế thừa miễn phí bản quyền cho Symbian OS – tìm cách hợp nhất nền tảng, S60 trở thành giao diện chủ yếu của Symbian Foundation và UIQ bị ngừng phát triển. Phiên bản tập trung vào màn hình cảm ứng Symbian^1 (hay S60 5th Edition) được tạo ra năm 2009. Symbian^2 (dựa trên MOAP) được dùng bởi NTT DoCoMo, một trong những thành viên của Symbian Foundation, sử dụng cho thị trường Nhật Bản. Symbian^3 được phát hành vào năm 2010 với tư cách là sự kế thừa cho phiên bản S60 5th Edition, khi đó nó đã trở thành nguồn mở hoàn toàn. Symbian^3 đã nhận được bản cập nhật Anna và Belle vào năm 2011.[11][12]

Symbian Foundation đã tan rã vào cuối năm 2010 và Nokia đã giành lại quyền kiểm soát sự phát triển của hệ điều hành.[13][14] Tháng 2 năm 2011, Nokia, cho đến nay, công ty duy nhất còn lại vẫn hỗ trợ Symbian ngoài Nhật Bản, tuyên bố rằng họ sẽ sử dụng Windows Phone 7 của Microsoft làm nền tảng điện thoại thông minh chính của mình, trong khi Symbian sẽ dần bị phá hủy.[15][16] Hai tháng sau, Nokia chuyển hệ điều hành sang giấy phép nguồn đóng, chỉ hợp tác với các OEM Nhật Bản[17] và sau đó outsourcing việc phát triển Symbian cho Accenture.[18][19] Mặc dù sự hỗ trợ đã được hứa cho đến năm 2016,bao gồm hai bản cập nhật lớn theo kế hoạch, vào năm 2012,Nokia hầu như đã từ bỏ sự phát triển và hầu hết các nhà phát triển Symbian đã rời khỏi Accdvisor,[20] và vào tháng 1 năm 2014, Nokia đã ngừng chấp nhận phần mềm Symbian mới hoặc thay đổi từ các nhà phát triển.[21] Nokia 808 PureView năm 2012 là smartphone Symbian chính thức cuối cùng từ Nokia.[22] NTT DoCoMo tiếp tục phát hành các thiết bị OPP(S) (Operator Pack Symbian, bản thừa kế của MOAP) tại Nhật Bản, vẫn hoạt động như một phần mềm trung gian trên Symbian.[23] Điện thoại chạy này bao gồm F-07F (ja) từ FujitsuSH-07F (ja) từ Sharp năm 2014.[24][25]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Symbian được sử dụng nhiều nhất bởi các điện thoại cao cấp của Nokia. Hãng này đã rất thành công với hệ điều hành này và có thời đã giúp Symbian trở thành hệ điều hành dành cho thiết bị di động phổ biến nhất thế giới. Tuy nhiên hiện nay(tính đến tháng 9/2012), Symbian đã đi vào giai đoạn thoái trào do không cạnh tranh nổi với các hệ điều hành mới tân tiến hơn như IOS, Android... Số người dùng càng ngày càng ít khiến thị phần Symbian thu hẹp và trở nên khiêm tốn so với các nền tảng khác.

Đến ngày 25/1/2013, tập đoàn Nokia đã chính thức khai tử nền tảng Symbian sau khi hãng này "mua đứt" Symbian từ tháng 6/2008. Thiết bị cuối cùng chạy Symbian là Nokia 808 pureview.

Quá trình phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Symbian được hỗ trợ nhiều nhất bởi hãng điện thoại Nokia. Hãng này đã tích hợp Symbian vào hầu hết điện thoại cao cấp của mình. Trong khoảng thời gian từ 2003-2007, Nokia và Symbian hết sức thành công với doanh số cao và Symbia được coi là biểu tượng cao cấp. Các điện thoại tiêu biểu phải kể đến Nokia 6600 và Nokia 7610. Ngoài Nokia, Sony Ericsson cũng có những model dùng Symbian rất được chú ý như P900, P910i. Các hãng khác như Samsung, Motorola cũng có một vài model sử dụng Symbian nhưng không thực sự thành công lắm.

Ưu và khuyết điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Ở thời kỳ hoàng kim thì Symbian được đánh giá là thân thiện, dễ sử dụng, thông minh, dễ tùy biến, nhiều ứng dụng... Tuy nhiên càng về sau, khi các hệ điều hành iOS của Apple và Android của Google phổ biến hơn thì Symbian đánh mất dần các lợi thế. Nó trở thành một hệ điều hành lạc hậu, trì trệ, kém chuyên nghiệp...

Điểm yếu nhất của Symbian, ngay cả khi nó đang thịnh hành, là sự không tương thích giữa các phiên bản(phiên bản ra sau mới hơn lại không chạy được ứng dụng cho phiên bản trước), dẫn đến khó khăn cho các nhà phát triển phần mềm của hãng thứ 3, từ đó cũng khiến phần mềm dành cho Symbian tuy nhiều mà ít, vì cùng là Symbian nhưng lại không chạy được cùng một phần mềm. Chính vì vậy, các thiết bị mới ra của Symbian cũng được đón nhận dè dặt hơn, do người tiêu dùng lo ngại không kiếm được những ứng dụng yêu thích mà họ đang dùng trên thiết bị Symbian cũ. Đối với giới chuyên môn thì đó là cách phát triển nghiệp dư, thiếu tầm nhìn... và cũng là một trong những nguyên nhân hạ gục Symbian, khi các hệ điều hành cạnh tranh có tính tương thích ngược rất tốt.

Một điểm nữa, là hầu hết các thiết bị chạy Symbian đều gắn với phiên bản hệ điều hành của nó vĩnh viễn, người dùng không thể nâng cấp hệ điều hành trên thiết bị cũ của mình lên phiên bản mới, việc đó càng khiến Symbian trở nên phân mảnh, thiếu thân thiện và bó buộc hơn. Những thiết bị Symbian cuối cùng đã khắc phục được nhược điểm đó nhưng lúc này Android và Ios đã trở nên quá phổ biến.

Nhiều chuyên gia cho rằng Nokia và Symbian đã bỏ lỡ cơ hội của mình, khi không xây dựng một hệ sinh thái thực sự vững chắc xung quanh Symbian khi nó còn thống trị. Các thiết bị càng ra đời sau càng khó kiếm ứng dụng tiện ích do sự thay đổi và cải tổ trong lòng Symbian. Vô số ứng dụng cũ được viết trong thời kỳ hoàng kim không thể sử dụng được, và vì vậy chúng chẳng giúp ích gì cho các thiết bị mới. Mọi chuyện có lẽ sẽ khác nếu tất cả các thiết bị Symbian đều tương thích với nhau.

Các điện thoại dùng Symbian[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách:

Nokia[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Nokia 3650
  2. Nokia 9210i
  3. Nokia 6600
  4. Nokia 7650
  5. Nokia 3660
  6. Nokia 7700
  7. Nokia 9500
  8. Nokia 6260
  9. Nokia 6288
  10. Nokia 9300
  11. Nokia 6670
  12. Nokia 6680
  13. Nokia 6681
  14. Nokia 5230
  15. Nokia 5233
  16. Nokia 5235
  17. Nokia N90
  18. Nokia N70
  19. Nokia 3250
  20. Nokia N71
  21. Nokia N72
  22. Nokia N73
  23. Nokia N73 Music Edition
  24. Nokia N8
  25. Nokia N91
  26. Nokia N91 8GB
  27. Nokia N92
  28. Nokia N93
  29. Nokia 9300i
  30. Nokia E61
  31. Nokia E50
  32. Nokia E60
  33. Nokia E61i
  34. Nokia E65
  35. Nokia E7
  36. Nokia 8800 Sirocco Edition
  37. Nokia 5500 Sport
  38. Nokia 3250 Xpress Music
  39. Nokia N77
  40. Nokia N78
  41. Nokia E7
  42. Nokia E90 Communicator
  43. Nokia N70 Music Edition
  44. Nokia N8
  45. Nokia N81 8GB
  46. Nokia N95
  47. Nokia N95 8GB
  48. Nokia N96
  49. Nokia N97
  50. Nokia 7610
  51. Nokia 5610 Xpress Music
  52. Nokia 5800 XpressMusic
  53. Nokia 5800 Navigation
  54. Nokia C2-03
  55. Nokia C5-00
  56. Nokia C5-03
  57. Nokia C5-06
  58. Nokia X6-00
  59. Nokia X7
  60. Nokia 6120c
  61. Nokia 5130-c
  62. Nokia E63
  63. Nokia E66
  64. Nokia PureView 808
  65. Nokia 6124C

Sony Ericsson[sửa | sửa mã nguồn]

  • P900

Samsung[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nokia and Accenture Finalize Symbian Software Development and Support Services Outsourcing Agreement
  2. ^ Lextrait, Vincent (tháng 1 năm 2010). “The Programming Languages Beacon, v10.0”. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2010. 
  3. ^ Nokia transitions Symbian source to non-open license. Ars Technica. Retrieved 12 June 2014.
  4. ^ Lee Williams “Symbian on Intel's Atom architecture”. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2010. . blog.symbian.org. 16 April 2009
  5. ^ “Not Open Source, just Open for Business”. symbian.nokia.com. 4 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2014. [liên kết hỏng]
  6. ^ Lunden, Ingrid (30 tháng 9 năm 2011). “Symbian Now Officially No Longer Under The Wing of Nokia, 2,300 Jobs Go”. moconews.net. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2011. 
  7. ^ “infoSync Interviews Nokia Nseries Executive”. Infosyncworld.com. 24 tháng 6 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2010. 
  8. ^ Next generation mobile telecommunications networks: Challenges to the Nordic ICT industries. 2006. ISBN 9781846630668. 
  9. ^ https://www.theregister.co.uk/Print/2008/11/10/uiq_folds/
  10. ^ “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  11. ^ Nokia announces Symbian 'Anna' update for N8, E7, C7 and C6-01; first of a series of updates (video). Engadget. Retrieved 25 September 2011.
  12. ^ Nokia announces Symbian Belle alongside three new devices. Engadget. Retrieved 25 September 2011.
  13. ^ https://www.bbc.co.uk/news/technology-11713192
  14. ^ http://www.visionmobile.com/blog/2010/10/symbian-is-dead-long-live-symbian/
  15. ^ Nokia's new strategy and structure, Symbian to be a "franchise platform", MeeGo still in long term plans
  16. ^ RIP: Symbian. Engadget. Retrieved 25 September 2011.
  17. ^ http://www.digitaltrends.com/mobile/nokia-moves-symbian-to-closed-licensing/
  18. ^ Lunden, Ingrid (30 tháng 9 năm 2011). “Symbian Now Officially No Longer Under The Wing of Nokia, 2,300 Jobs Go”. moconews.net. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2011. 
  19. ^ Epstein, Zach. (23 June 2011) Symbian is officially no longer Nokia's problem. Bgr.com. Retrieved 25 September 2011.
  20. ^ http://www.allaboutsymbian.com/features/item/20007_Cest_la_vie-Support_expectatio.php
  21. ^ Tung, Liam. “Nokia says final sayonara to Symbian and MeeGo apps as store freezes updates”. ZDNet. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2015. 
  22. ^ Techcrunch, "Nokia Confirms The PureView Was Officially The Last Symbian Phone", "Techcrunch", 24 January 2013 as by Nokia on 24 January 2013 – Nokia Corporation Q4 and full year 2012 Interim Report: "The Nokia 808 PureView, a device which showcases our imaging capabilities and which came to market in mid-2012, was the last Symbian device from Nokia"
  23. ^ https://tizenindonesia.blogspot.co.uk/2013/11/ntt-docomo-akan-gunakan-tizen-sebagai.html
  24. ^ http://www.mobile-japan.com/products/docomo-sharp-sh-07f-summer-flip-phone.html
  25. ^ http://www.mobile-japan.com/products/docomo-unlocked-fujitsu-f-07f-flip-phone.html

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]