Tá dược

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tá dược nói chung là chất không hoạt động về mặt dược học được sử dụng làm chất vận chuyển các hoạt chất trong một dược phẩm. Trong nhiều trường hợp, một hoạt chất (như acetylsalicylic acid) tương đối khó được đưa vào cơ thể và được hấp thu; trong trường hợp đó, chất đó có thể được hòa tan hoặc trộn lẫn với tá dược. Tá dược đôi khi cũng được dùng để làm nở rộng một viên thuốc chứa các hoạt chất có tác dụng mạnh, để tạo thuận lợi cho việc bẻ thuốc một cách chính xác. Ngoài ra tá dược còn được thêm vào trong quy trình sản xuất dược phẩm để làm cho việc kiểm soát hoạt chất trong thuốc được dễ dàng. Tùy vào đường uống và dạng thuốc để xác định tá dược nào có thể được thêm vào. Đối với đường uống, người ta dùng thuốc viênthuốc nang. Thuốc đạn thì được dùng qua đường trực tràng (hậu môn).

Thông thường, một khi hoạt chất ở trong trạng thái tinh khiết, nó sẽ không ở dưới trạng thái tinh khiết được lâu. Trong nhiều trường hợp nó sẽ bị biến tính, tách ra khỏi một dung dịch, hoặc dính vào thành của vật chứa. Để làm bền hoạt chất, tá dược được thêm vào để bảo đảm rằng hoạt chất vẫn tinh khiết, và quan trọng hơn là kéo dài thời gian bán hủy của một loại thuốc, làm tăng hạn sử dụng. Do đó, công thức tá dược nhiều khi được xem là một bí mật thương mại. Mã số dược phẩm được ghi lại đối với mọi thành phần có trong thuốc, kể cả các sản phẩm phân hủy của chúng, để loại thuốc đó được bảo đảm an toàn. Do đó tá dược chỉ được dùng với lượng nhỏ nhất có thể và chỉ khi thật cần thiết.

Các loại tá dược[sửa | sửa mã nguồn]

Chất chống dính[sửa | sửa mã nguồn]

Chất chống dính được sử dụng để giảm độ dính giữa các hạt thuốc và làm cho các viên thuốc không bị dính vào nhau. Chất thường được dùng là magiê stearat.

Chất kết dính[sửa | sửa mã nguồn]

Chất kết dính giúp gắn các thành phần trong thuốc lại với nhau. Chất kết dính tạo một lực liên kết đủ mạnh giữa các hạt trong thuốc, và giúp tăng thể tích của các chất kém hoạt động trong thuốc. Chất kết dính thường dùng là:

Chất kết dính được phân loại theo mục đích sử dụng:

  • Chất kết dính hòa tan được hòa tan trong một dung dịch (như nước hoặc ethanol) dùng trong thuốc dạng nước. Ví dụ gelatin, cellulose, chế phẩm cellulose, polyvinylpyrrolidon, tinh bột, sucrose và polyetylen glycol.
  • Chất kết dính khô được thêm vào thuốc bột hoặc trong quy trình ép thuốc bột. Ví dụ cellulose, metyl cellulose, polyvinylpyrrolidon và polyetylen glycol.

Chất bao phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Vỏ bao thuốc bảo vệ thuốc khỏi sự phân hủy bởi độ ẩm, hoặc giúp cho những loại thuốc có mùi vị khó chịu dễ được nuốt hơn. Phần lớn các thuốc được bọc bởi một lớp cellulose ether hydroxypropyl metylcellulose (HPMC) không chứa đường và không chứa chất gây dị ứng. Thỉnh thoảng một vài chất khác được dùng như các loại polyme tổng hợp sơn cánh kiến, protein bắp zein hoặc các polysaccharide khác. Thuốc nang thường được bao bọc bởi gelatin.

Chất làm tan[sửa | sửa mã nguồn]

Chất làm tan tan ra và hòa tan khi gặp nước, làm cho viên thuốc vỡ ra trong ống tiêu hóa, giải phóng các hoạt chất, giúp cho sự hấp thu. Chúng có vai trò bảo đảm khi viên thuốc gặp nước, thuốc sẽ bị vỡ ra thành nhiều mẩu nhỏ, tăng sự hòa tan.

Ví dụ các chất làm tan:

Chất làm đầy[sửa | sửa mã nguồn]

Chất làm đầy làm tăng thể tích của viên thuốc hoặc nang thuốc, giúp cho việc sản xuất và tiêu thụ thuận tiện hơn. Do làm tăng thể tích của thuốc, nó làm cho thuốc có thể tích phù hợp giúp bệnh nhân dễ uống hơn. Chất làm đầy tốt phải trơ về mặt hóa học, phù hợp với các thành phần khác, không hút ẩm, rẻ, kết đặc tốt, không có vị hoặc có vị dễ chịu. Cellulose một loại chất làm đầy được dùng phổ biến trong thuốc viên và thuốc nang. Dicanxi photphat cũng thường được dùng. Một số loại dầu thực vật cũng hay được dùng trong thuốc nang. Các chất làm đầy khác gồm có: lactose, sucrose, glucose, mannitol, sorbitol, canxi cacbonat, magiê stearat.

Hương liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Chất tạo mùi được dùng để làm lấn át vị khó chịu của hoạt chất và giúp cho bệnh nhân chịu uống thuốc hơn. Nó có thể có nguồn gốc tự nhiên (chiết xuất từ hoa quả) hoặc tổng hợp.[1]

Ví dụ, để cải thiện:[1]

Màu thực phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Chất tạo màu được dùng để làm tăng mẫu mã cho thuốc. Độ bền của màu giúp dễ phân biệt các loại thuốc.

Chất bảo quản[sửa | sửa mã nguồn]

Các chất bảo quản thường được dùng là

Chất làm ngọt[sửa | sửa mã nguồn]

Chất làm ngọt được dùng để làm cho thuốc có vị dễ chịu, nhất là các loại thuốc nhai như antacid hay thuốc nước như xirô ho. Đường cũng có thể được dùng để lấn át mùi, vị của thuốc.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă [1][liên kết hỏng]