Tấn Điệu công

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Tấn Điệu công
晋悼公
Vua chư hầu Trung Quốc (chi tiết...)
Vua nước Tấn
Trị vì 572 TCN558 TCN
Tiền nhiệm Tấn Lệ công
Kế nhiệm Tấn Bình công
Thông tin chung
Hậu duệ Tấn Bình công
Tên thật Cơ Chu (姬周)
Thụy hiệu Điệu công (悼公)
Thân phụ Huệ bá Đàm
Sinh 586 TCN
Mất 558 TCN
Trung Quốc

Tấn Điệu công (chữ Hán: 晋悼公, cai trị: 572 TCN558 TCN[1]), tên thật là Cơ Chu (姬周) hay Cơ Củ (姬糾), còn được gọi là Chu tử (周子)[2] hoặc Tôn Chu[3] (孫周), là vị vua thứ 30 của nước Tấn - chư hầu nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc.

Tấn Điệu công là cháu chắt của Tấn Tương công, về thế thứ ông xếp ngành trưởng trong tông thất. Năm 573 TCN sau khi Tấn Lệ công bị giết hại, Điệu công được quan Trung quân Nguyên soái là Loan Thư tôn lập làm vua. Trong thời gian trị vì, Điệu công được sự giúp đỡ của những người tài như Lữ Tương, Sĩ Phường, Ngụy Giáng, Triệu Vũ... bên trong ổn định chính sự, bên ngoài tỏ uy thế với chư hầu. Từ năm Điệu công thứ tư, ông theo đề nghị của Ngụy Giáng thi hành chính sách hòa hỏa với Nhung Địch, thân thiện cùng Tống, Ngô; nhờ đó tiếp tục phát triển cơ nghiệp bá chủ của Tấn quốc. Trong 8 năm Điệu công 9 lần hội chư hầu[4], củng cố ngôi bá của Tấn trước đối thủ là Sở.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Tấn Điệu công là chắt của Tấn Tương công – vua thứ 25 nước Tấn. Trước khi mất, Tấn Tương công cho người con út là Cơ Tiếp (em Tấn Linh công) sang nhà Chu làm quan, gọi là Hoàn Thúc. Cơ Tiếp sinh ra Cơ Đàm, được gọi là Huệ bá Đàm. Cơ Chu là con trai thứ của Huệ bá Đàm, chào đời vào năm 586 TCN. Thuở nhỏ Điệu công đi theo quan Khanh sĩ nhà Chu là Đan Tương công, được tiếp thu lễ giáo của Chu Lễ[5]. Khi Đan Tương công sắp mất, có bày tỏ ý kiến với người kế vị Đan Khoảnh công rằng tôn Chu sẽ lên ngôi vua Tấn quốc sau này[6].

Lúc vua Linh công bị giết năm 607 TCN, đáng lý Hoàn Thúc được lên ngôi, song Triệu Thuẫn đang làm Trung quân nguyên soái khi đó, lại ủng hộ công tử Hắc Điến, tức là Tấn Thành công. Thành công truyền ngôi cho Cảnh công, Cảnh công truyền ngôi cho Lệ công, thế là đã ba đời.

Nguyên nhân được lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Tấn Lệ công muốn cho ngoại thích vào triều làm đại phu và bỏ bớt các đại phu đương nhiệm. Năm 573 TCN, nước Sở hận nước Tấn vì trận thua Yển Lăng, Sở Cung vương cho người đến gièm pha với Lệ công để làm loạn nước Tấn:

Sở dĩ có trận Yển Lăng vì Khước Chí gọi quân Sở đến vì ý đồ làm loạn nước Tấn để đưa công tử Chu về làm vua.

Tấn Lệ công hỏi ý kiến quan Trung quân nguyên soái là Loan Thư. Loan Thư sẵn có hiềm khích với Khước Chí nên đề nghị cho điều tra. Tấn Lệ công bèn sai Khước Chí đi sứ thiên tử nhà Chu để thăm công tử Chu. Trong khi đó chính Loan Thư lại nói với công tử Chu nên gặp gỡ Khước Chí. Tấn Lệ công được tin, cho rằng Khước Chí có ý phản thật, bèn nuôi ý định giết Khước Chí.

Cuối năm 573 TCN, Tấn Lệ công sai anh vợ là Tư Đồng giết ba đại phu họ Khước và cho Tư Đồng lên làm đại phu. Loan Thư và Tuân Yển sợ cũng bị giết nên tìm cách giết hại Lệ công. Vào năm 572 TCN, hai người nhân lúc nhà vua ra ngoài mà cho quân đến phục bắt, rồi ép nhà vua uống thuốc độc chết[7][8][9].

Cái chết của Tấn Lệ công dẫn đến một sự khủng hoảng thừa kế trong công thất nước Tấn. Loan Thư và Tuân Yển lấy việc nhà vua chết ở Tượng Lệ thị, bèn dâng thụy xấu là Lệ công. Loan Thư nói với các quan rằng người trong nước vẫn mến đức của vua Tương công thuở trước, nên quyết ý lập Tôn Chu. Sau đó họ sai Tuân OanhSĩ Phường đến Lạc Dương nghênh đón Tôn Chu về nước. Năm đó Chu được 14 tuổi[10]. Về đến đất Thanh Nguyên, Loan Thư, Tuân Yển cùng Phạm Mang, Hàn Quyết các khanh đại phu đều họp ở đấy để nghênh tiếp. Công tôn Chu bảo các quan rằng:

Ý nguyện ban đầu của ta không dám mơ đến được về nước, nói chi làm vua. Nhưng ta nghĩ người làm vua, chỉ quý là nắm chính lệnh trong tay, chứ lập mà không tuân chính lệnh thì đừng có lập làm gì?

Loan Thư kinh sợ, vâng vâng dạ dạ. Ngày Ất Dậu tháng 2 ÂL, Tôn Chu tức vị chư hầu ở Tân Giáng, kinh đô nước Tấn[11], tức là Tấn Điệu công[12].

Đối nội[sửa | sửa mã nguồn]

Mấy ngày sau khi lên ngôi, Điệu công triều Vũ cung và cho đuổi hết 7 quan lại thiếu phẩm chất[13]. Lại xét đến tội giết Lệ công, truyền cho chém Di Dương NgũThanh Phí Khôi tại triều môn, còn những bè cánh đều đuổi sang nước khác; Trình Hoạt (kẻ đưa thuốc độc cho Lệ công) bị phanh thây giữa chợ.

Từ sau khi Tấn Tương công qua đời đã gần 40 năm, nội bộ Tấn quốc liên tục bất hòa, tranh chấp lẫn nhau giữa các họ đại phu; dẫn đến kết cục hai vua Linh, Lệ bị giết; các gia tộc Hồ, Bá, Tiên, Khước... lần lượt diệt môn, Triệu thị trung suy... Điệu công sau khi tức vị, ra sức lập lại kỉ cương, tăng cường quyền lực cho công thất; đuổi những đại phu không có phẩm chất, thu dụng lại những con cháu của các quan có công giúp Tấn Văn công. Nhiều người tài được Tấn Điệu công trọng dụng như Ngụy Tương, Ngụy Hiệt, Sĩ Phường, Triệu Vũ, Hàn Vô Kị, Tuân Gia, Tuân Hội, Loan Yển. Ông còn hạ lệnh xuất lương thực cứu trợ cho nông dân gặp nạn đói, thi hành chính sách tiết kiệm, miễn giảm sưu thuế cho dân. Tiếp đó là thu nhận ý kiến của Ngụy Giáng, lệnh cho người trong nước từ quý tộc trở xuống phải khai báo của cải lên trên để dễ quản lý, đồng thời ra lệnh cấm khai thác những sản vật quý hiếm mà không được cho phép. Nhờ những chính sách đó, nước Tấn khôi phục lại nền kinh tế và chất lượng lao động[14][15].

Can thiệp vào Tống và Trần[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 572 TCN, Loan Thư chết, Hàn Quyết lên thay nắm giữ tướng vị; Phạm Mang làm Trung quân phó tướng, Tuân Oanh là Thượng quân Nguyên soái, Tuân Yển làm Thượng quân phó tướng; Loan Áp, Sĩ Phường là Hạ quân chánh phó tướng; Triệu Vũ, Ngụy Tướng làm Tân quân chánh phó soái; Ngụy Giáng làm Trung quân tư mã; Kỳ Hề, Dương Thiệt Chức làm Trung quân chánh phó úy... Lúc bấy giờ Sở quốc nhân Tấn quốc có loạn, đã đem quân diệt nước Thư Dung làm bàn đạp đánh Trung Nguyên. Bấy giờ chư hầu đắc lực nhất của Sở là Trịnh. Hai nước này liên hiệp với nhau, mục tiêu là Tống quốc. Liên quân đánh vào các nơi là U Khâu, Bành Thành[16]

Cuối năm đó, Tấn Điệu công mang quân đi đánh nước Trịnh, đánh bại quân Trịnh. Nhân đó ông sang đánh bại nước Trần, rồi tổ chức hội họp chư hầu. Lại đem 5 đại thần nước Tống đã bỏ trốn cho về lại Bành Thành, để binh ở đó chống giữ với mưu đồ cắt đứt quan hệ thông thương giữa Tấn, Tống và Ngô. Nước Tống nhiều lần phản công định chiếm Bành Tành nhưng thất bại, bèn sai Hoa Nguyên cầu cứu nước Tấn. Theo lời của Hàn Quyết, Điệu công một mặt triệu tập chư hầu, mặt khác đích thân thống suất đại quân đóng ở Thai Cốc[17]. Năm 572 TCN, Tấn triệu tập 8 chư hầu gồm Tống, Lỗ, Vệ, Tào, Cử, Châu, Đằng và Tiết đến vây đất Bành Thành. Dân trong thành không chống nổi, hùa nhau mở cửa thành đón Tấn Điệu công vào. Điệu công vào Bành Thành, truyền giết bọn 5 đại phu của Tống đã theo Sở rồi trả Bành Thành cho Tống Bình công.

Năm 571 TCN, Điệu công lấy cớ Tề quốc không hội binh với mình trong chiến dịch Bành Thành, bèn đem quân đánh Tề. Quân Tề thua thảm, bản thân Tề Linh công phải đưa con trưởng của mình là Quang sang Tấn làm con tin. Lúc bấy giờ Tấn đã kết minh với Ngô để cùng nhau chống Sở. Nước Ngô ngày một hùng mạnh, uy hiếp mạnh mẽ phía đông nam nước Sở[18][19]. Tấn Điệu công bèn sai Vu Hồ Dung đi sứ Ngô quốc, thuyết phục vua Ngô Thọ Mộng đánh Sở. Vua Ngô nghe theo. Vào năm 570 TCN, quân Ngô đánh bại quân Sở. Cũng năm đó Tấn Điệu công hội chư hầu ở Kê Trạch, vua Ngô Thọ Mộng cũng đích thân đến dự.

Năm 568 TCN, Sở Cung vương sai quân đánh nước Trần, giữa đường đi ngang qua nước Đốn, buộc nước này thần phục. Trần Ai công thấy vậy bèn mang quân vây nước Đốn. Quân Sở bèn tấn công nước Trần để cứu Đốn. Vua Trần đành cầu cứu nước Tấn. Tấn Điệu công bèn hội quân chư hầu đi cứu Trần. Quân Sở phải rút về. Tấn Điệu công lại hội chư hầu ở Thiện Đạo[20] với Ngô, Lỗ, Vệ

Chính sách với Nhung Địch[sửa | sửa mã nguồn]

Các nước Bắc Nhung là mối họa đối với Trung Nguyên. Thời Tề Hoàn công làm bá chủ chư hầu, trước hết đã đánh Nhung Địch rồi mới chinh phạt Sở quốc. Bấy giờ Bắc Nhung lại phát triển mạnh. Năm 569 TCN, Nhung vương sai sứ đến Tấn quốc để nghị hòa. Điệu công theo lời của Ngụy Giáng, chủ trương hòa giải với Bắc Nhung để tập trung cho mặt trận phía nam[21] chứ không theo chính sách nhương di giống Tề Hoàn công lúc trước.

Khống chế nước Trịnh[sửa | sửa mã nguồn]

Cùng năm 571 TCN, Trịnh Hi công nối ngôi Trịnh Thành công, vẫn dùng chính sách thân Sở. Tấn Điệu công biết Trịnh quốc không chịu quy phục, liền bàn kế đánh Trịnh. Quan đại phu nước Lỗ là Trọng tôn Miệt bàn kế xây thành Hổ Lao ở chỗ biên giới Sở - Trịnh rồi đóng quân ở đó. Tấn Điệu công nghe theo, lệnh đáp thành ở cửa quan Hổ Lao, rồi lấy quân các nước cứ mỗi nước lớn một nghìn quân, mỗi nước nhỏ năm trăm hoặc ba trăm quân, cho đóng giữ ở đấy. Trịnh Hi công sợ hãi, xin giảng hoà với nước Tấn.

Trịnh Hi công tuy theo Tấn; nhưng người nắm quyền chính Trịnh quốc là công tử Phi (Tử Tứ) phản đối. Năm 566 TCN, Tử Tứ giết Trịnh Hi công rồi sai sứ đến xin thần phục Sở quốc. Tấn Điệu công theo lời của tể tướng Hàn Quyết, cho Tuân Oanh làm Trung quân nguyên soái thay chính Hàn Quyết mà đem quân đánh Trịnh. Tuân Oanh hiến kế dĩ giật đãi lao, đem quân chia ra làm ba đạo, mỗi đạo quân có mấy nước chư hầu phụ thuộc, thay phiên mà ra trận; Sở tiến thì Tấn lui, Sở lui thì Tấn tiến. Cứ như thế, Tấn đến thì Trịnh theo Tấn, Tấn rút thì Trịnh theo Sở, suốt 2-3 năm.

Năm 565 TCN, Trịnh lại theo Tấn và cùng Tấn đánh Sái. Sau trận đó, Tấn Điệu công hội chư hầu ở Hình Khâu[22], cùng các nước Trịnh, Tề, Tống, Vệ, Tiểu Châu, Đằng... Sở vương sai người sang đánh Trịnh, Trịnh lại bỏ Tấn mà theo Sở.

Năm 564 TCN, Tấn Điệu công phái đạo quân thứ hai cùng chư hầu đánh Trịnh, Trịnh lại theo Tấn. Năm 564 TCN, Tấn Điệu công hội chư hầu đánh Trịnh, buộc nước Trịnh đầu hàng. Sở Cung vương thấy vậy cũng đánh Trịnh, Trịnh lại theo Sở. Tấn Điệu công triệu tập 12 chư hầu Tề, Tống, Lỗ, Vệ, Tào, Cử, Chu, Đằng, Tiết, Kỉ và Tiểu Chu đánh Trịnh, vây đánh nước Trịnh ở ngoài ải Hổ Lao. Công tử Trinh nước Sở mang quân cứu Trịnh nhưng rốt cục hai bên đều bãi binh.

Năm 563 TCN, các tướng Tấn cùng nhau vây đánh và tiêu diệt nước Bức Dương. Tấn Điệu công sáp nhập Bức Dương vào lãnh thổ của Tấn, chỉ cho người trong họ vua Bức Dương ở Hoắc Thành mà giữ việc cúng tế. Cùng năm đó Tuân Hội chết, Điệu công cất nhắc Ngụy Giáng làm Tân quân phó tướng, Trương Lão thay Ngụy Giáng làm tư mã.

Năm 562 TCN, Tấn Điệu công đem quân đánh Trịnh. Sở Cung vương bèn sai sứ mượn quân nước Tần để cứu Trịnh. Tần Cảnh công mang quân giúp Sở. Nước Trịnh lại xin theo Sở, cùng nhau đánh nước Tống. Nước Tấn bèn kéo chư hầu tới cứu Tống và đánh Trịnh. Trịnh Giản công lại quyết ý theo Tấn, cùng Tấn hội minh ở Tiêu Ngư. Điệu công ân cần thủ dụ vua Trịnh, nói về sau Trịnh muốn theo ai tùy nghi, Tấn không can thiệp nữa. Vua Trịnh cảm động và từ đó quyết theo Tấn[23][24].

Trong lúc đang hội chư hầu em Điệu công là công tử Dương Can làm loạn hàng ngũ. Tướng Ngụy Giáng bèn giết người hầu của Dương Can. Dương Can đi tố cáo với Điệu công, nhưng ông không trị tội Ngụy Giáng mà khen là tướng giữ nghiêm quân kỷ, càng trọng dụng hơn[25].

Nước Sở lúc đó đã suy yếu. Tấn Điệu công lại làm bá chủ, sau đó còn hội chư hầu thêm 8 lần nữa[26].

Chiến tranh với Tần quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa đông năm 562 TCN, Tần Cảnh công mang quân xâm lấn nước Tấn, chiếm đất Lịch. Sang năm 559 TCN, Tấn Điệu công hội quân các chư hầu đi đánh Tần. Quân Tấn và các nước vượt sông Kinh, đánh cho quân Tần thua to. Quân Tấn tiến đến đất Vực Lâm mới rút lui. Trong trận đó, vì Loan Yểm (con Loan Thư, cũng là rể Phạm Mang) oán hận con Phạm MangPhạm Ưởng, Phạm Ưởng trốn sang Tần quốc, không lâu sau được quay về.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 560 TCN, Tuân Oanh, Ngụy Tướng, Sĩ Phường đều bệnh chết. Điệu công muốn cho Phạm Mang làm Trung quân nguyên soái, Phạm Mang từ chối và tiến cử Tuân Yển thay mình, nhà vua nghe theo[27]. Lại lấy Phạm Mang làm Trung quân phó tướng, Triệu Vũ làm Thượng quân nguyên soái, Hàn Khởi làm Thượng quân phó tướng, Loan Áp, Ngụy Giáng làm Hạ quân chánh, phó tướng. Lại vì lễ pháp của nhà Chu chỉ cho phép chư hầu có 3 đạo quân thường trực, nên Điệu công nhân cái chết của Tuân Oanh mà bỏ đạo Tân quân, chỉ còn Thượng, Trung, Hạ quân[28].

Năm 559 TCN, Vệ Hiến công bị Tôn Lâm Phủ truất phế. Tấn Điệu công muốn đem quân giúp vua Vệ, nhưng Tuân Yển cho rằng vua Vệ vốn vô đạo, nên để mặc thì hơn, Điệu công theo lời. Ở Tề quốc, Tề Linh công biết Tấn quốc đã có ý trễ biếng, bèn tìm cơ sinh sự tranh ngôi bá chủ, bèn sai người kích động nước Chu cướp phá thành ấp nước Lỗ ở Nam Bỉ. Vua Lỗ phải cầu cứu nước Tấn. Tấn Điệu công chuẩn bị phạt Chu, nhưng giữa lúc đó lại lâm bệnh nên đành thôi[29].

Mùa đông năm 558 TCN, Tấn Điệu công qua đời khi mới 29 tuổi, làm vua được 15 năm[30]. Thế tử Bưu lên nối ngôi, tức là Tấn Bình công.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sử ký Tư Mã Thiên, thiên:
    • Tấn thế gia
  • Phương Thi Danh (2001), Niên biểu lịch sử Trung Quốc, Nhà xuất bản Thế giới
  • Khổng Tử (2002), Xuân Thu tam truyện, tập 4, Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sử ký, Tấn thế gia; Phương Thi Danh, sách đã dẫn, tr 26
  2. ^ Quốc ngữ, Tấn ngữ: Triệu Chu tử nhi lập chi, thị vi Điệu công
  3. ^ Quốc ngữ, Tấn ngữ: Nãi nạp Tôn Chu nhi lập chi, thị vi Điệu công
  4. ^ Tả truyện, Tương công năm 11: Tấn hầu viết: Tử giáo quả nhân hòa chư Nhung Địch, dĩ chánh chư hoa. Bát niên chi trung, cửu hợp chư hầu. Như nhạc chi hòa, vô sở bất hài
  5. ^ Tấn quốc sử cương yếu, hồi 94 - 95
  6. ^ Quốc ngữ - Chu ngữ hạ": Tấn tương Đàm chi tử Chu quát Chu, sự Đan Tương công. Tương công hữu tật, triệu Khoảnh công nhi cáo viết: Tất thiện Tấn Chu, tương đắc Tấn quốc
  7. ^ Tả truyện, Thành công năm 11: Công du vu Tượng Lệ thị, Loan Thư, Trung Hành Yển toại chấp công yên
  8. ^ Tả truyện, Thành công năm 18: Tấn Loan Thư, Trung Hành Yển sử Trình Hoạt thí Lệ công
  9. ^ Tấn quốc sử cương yếu, Nguyên nhân Tấn Điệu công được nước ở hồi 94
  10. ^ Tả truyện, Thành công năm 18: Sử Tuân Oanh, Sĩ Phưởng nghịch Chu tử vu kinh sư nhi lập chi, sanh thập tứ niên hĩ
  11. ^ Nay thuộc Hầu Mã, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc
  12. ^ Tả truyện, Thành công năm 18:Nhị nguyệt Ất Dậu sóc, Tấn hầu Điệu công tức vị vu triều
  13. ^ Tả truyện, Thành công năm 18:Tân Tị, triều vu Vũ cung, trục bất thần giả thất nhân
  14. ^ Xuân Thu sử, hồi 131
  15. ^ Tấn quốc sử cương yếu, hồi 99
  16. ^ Từ Châu, Giang Tô, Trung Quốc của ngày hôm nay
  17. ^ Nay thuộc Tấn Thành, Sơn Tây, Trung Quốc
  18. ^ Tấn quốc sử cương yếu, hồi 101
  19. ^ Xuân thu sử, hồi 131 - 132
  20. ^ Nay thuộc Tranh Thai, Giang Tô, Trung Quốc
  21. ^ Xuân Thu sử, hồi 133
  22. ^ Huyện Ôn, Hà Nam, Trung Quốc hiện nay
  23. ^ Tấn quốc sử cương yếu, hồi 103
  24. ^ Tả truyện, Tương công năm thứ 11
  25. ^ Sử ký, Ngụy thế gia
  26. ^ Sử ký, Tấn thế gia
  27. ^ Tả truyện, Tương công năm thứ 12
  28. ^ Tả truyện, Tương công năm 14: Tấn hầu xá Tân quân, lễ dã
  29. ^ Tả truyện, Tương công năm 15:chu nhân phạt ngã nam bỉ. Sử cáo vu Tấn. Tấn tương vi hội dĩ thảo chu, cử Tấn hầu hữu tật, nãi chỉ
  30. ^ Tả truyện, Tương công năm 15: Đông, Tấn Điệu công tốt