Tails (hệ điều hành)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tails
Tails logo
Tails OS
Loại hệ điều hànhTương tự Unix
Tình trạng hoạt độngCurrent
Kiểu mã nguồnMã nguồn mở
Phát hành lần đầu23 tháng 6, 2009; 9 năm trước
Phiên bản mới nhất1.4.1 / 14 tháng 12, 2016; 2 năm trước[1]
Đối tượng quảng cáoMáy tính cá nhân
Nền tảng hỗ trợIA-32
Kiểu nhânMonolithic (Linux)
UserlandGNU
Giao diện mặc địnhGNOME 3
Giấy phépGPLv3+[2]
Sản phẩm trướcIncognito
Trang mạngtails.boum.org

Tails (The Amnesic Incognito Live System) là một hệ điều hành, một bản phân phối Linux dựa trên Debian tập trung vào an ninh nhằm bảo vệ sự riêng tư và ẩn danh.[3] Tất cả các kết nối đi của nó buộc phải đi qua Tor,[4] và kết nối trực tiếp (không giấu tên) đều bị chặn. Hệ thống được thiết kế để được khởi động như một DVD live hoặc live USB, và sẽ không để lại dấu vết (dấu chân kỹ thuật số) trên máy tính trừ khi có yêu cầu làm như vậy. Dự án Tor đã cung cấp hỗ trợ tài chính cho sự phát triển của Tails.[5]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tails phát hành lần đầu ngày 23/6/2009. Nó là phiên bản tiếp theo của phát triển trên Incognito, một bản phân phối dựa trên Gentoo. Tor Project đã hỗ trợ tài chính cho việc phát triển dự án[5]. Tails cũng nhận được các khoản tài trợ từ Debian ProjectMozilla, và Freedom of the Press Foundation.[6]

Laura PoitrasGlenn Greenwald, và Barton Gellman đã từng nói rằng Tails là một công cụ quan trọng mà họ sử dụng trong công việc của họ ở Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA) cùng Edward Snowden.[7][8][9]

Ngày 3/7/2014, kênh truyền hình công cộng Đức Das Erste báo cáo rằng hệ thống giám sát XKeyscore của NSA có cấc thông tin của những người tìm kiếm Tails qua các công cụ tìm kiếm hoặc truy cập vào trang web của Tails. Một nhận xét trong mã nguồn của XKeyscore gọi Tails "a comsec mechanism advocated by extremists on extremist forums".[10][11]

Ngày 28/12/2014, Der Spiegel xuất bản một slide từ một bản thuyết trình nội bộ của NSA đề tháng 6/2012 trong đó NSA xem Tails là một "mối đe dọa lớn" cho sứ mệnh của mình, và khi được sử dụng kết hợp với các công cụ bảo mật khác như OTR, Cspace, RedPhone, và TrueCrypt đã được xếp hạng là "thảm họa" dẫn đến việc "gần như mất hoàn toàn/thiếu khả năng để kiểm soát các luồng thông tin..."[12][13]

Lịch sử phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Chú giải:
Phiên bản cũ
Phiên bản cũ, vẫn được hỗ trợ
Phiên bản mới nhất
Phiên bản xem trước mới nhất
Ra mắt trong tương lai
Lịch sử phát hành
Phiên bản Ngày phát hành Ghi chú
Phiên bản cũ, không còn được hỗ trợ: 0.2[14] 23/6/2009[15]
  • Phát hành công khai đầu tiên.[15]
  • Dự đán được gọi là Amnesia.[15]
Phiên bản cũ, không còn được hỗ trợ: 0.5[16] ?
  • Phát hành đầu tiên từ khi dự án được đổi tên thành The Amnesic Incognito Live System.[16]
Phiên bản cũ, không còn được hỗ trợ: 1.0[15] 29/4/2014[14][không có trong nguồn trích dẫn]
  • Phiên bản ổn định thứ 36.[15]
Phiên bản cũ, không còn được hỗ trợ: 1.5[17] ?
  • Vô hiệu truy cập vào mạng nội bộ thông qua Tor Browser.[17]
Phiên bản cũ, không còn được hỗ trợ: 1.7[17] ?
  • Thay Claws Mail bằng Icedove, dựa trên Mozilla Thunderbird.[17]
  • Cho phép khởi động Tails trong chế độ offilne, với kết nối mạng bị vô hiệu.[17]
Phiên bản cũ, không còn được hỗ trợ: 2.0[18] 26/1/2016[19][không có trong nguồn trích dẫn]
Phiên bản cũ, không còn được hỗ trợ: 2.2[17] ?
  • Kích hoạt tính năng xem DVD được bảo vệ DRM.[17]
  • Bổ sung một giao diện “Onion Circuits” để hiển thị các thông tin Tor routing.[17]
Phiên bản cũ, không còn được hỗ trợ: 2.4[17] 7/6/2016[17]
  • Tự động cấu hình Icedove, harden kernel và firewall, cập nhật DRM và thư viện đồ họa Mesa.[20]
  • Phiên bản mới của Tor Browser.[17]
Phiên bản cũ, không còn được hỗ trợ: 2.5[21] 2/8/2016[21]
Phiên bản ổn định hiện tại: 2.6[22] 20/9/2016[22]
Phiên bản Ngày phát hành Ghi chú

Bảo mật[sửa | sửa mã nguồn]

Tails xoá sạch dữ liệu ram và cache khi tải lên một nhân kernel mới và xoá sạch phân vùng bộ nhớ máy ảo Tails. Tails có thể bị nghe lén dữ liệu qua ram trước khi dữ liệu bị xoá,có một lỗ hổng rất khó khắc phục mà các chuyên gia đã phát hiện trên Tails OS thuộc loại lỗ hổng"zero-day".

Chuyện bên lề[sửa | sửa mã nguồn]

Edward Snowden, một cựu nhân viên của NSA bị cáo buộc là gián điệp hai mang cho Trung Quốc và Mỹ, Showden được nhiều người dân ca ngợi khi tiết lộ cách thức chính phủ My theo dõi các hoạt động của đối phương trước toàn thế giới, anh ta đã dùng Tails để làm những điều bí mật qua mặt NSA.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Tails 1.4.1 is out”. Tails. Ngày 3 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2015. 
  2. ^ “Tails 0.11 incognito live system released”, The H, 30 tháng 4 năm 2012, truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2012 
  3. ^ Vervloesem, Koen (27 tháng 4 năm 2011), “The Amnesic Incognito Live System: A live CD for anonymity”, LWN.net, truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2012 
  4. ^ “Anonym im Netz” [Anonymous on the Net], TecChannel (bằng tiếng Đức), 6 tháng 2 năm 2012, truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2012 
  5. ^ a ă “Finances”. Tails. 4 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2013. 
  6. ^ “Tails report for May, 2014”. 
  7. ^ “Help Support the Little-Known Privacy Tool That Has Been Critical to Journalists Reporting on the NSA”. Freedom of the Press Foundation. 
  8. ^ “Out in the Open: Inside the Operating System Edward Snowden Used to Evade the NSA”. WIRED. 
  9. ^ “Try the Super-Secure USB Drive OS That Edward Snowden Insists on Using”. Gizmodo. 
  10. ^ “NSA targets the privacy-conscious”. DasErste.de. 
  11. ^ “NSA Targets Privacy Conscious for Surveillance”. Schneier on Security. 
  12. ^ SPIEGEL Staff (28 tháng 12 năm 2014). “Prying Eyes: Inside the NSA's War on Internet Security”. Der Spiegel. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2015. 
  13. ^ “Presentation from the SIGDEV Conference 2012 explaining which encryption protocols and techniques can be attacked and which not” (PDF). Der Spiegel. 28 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2015. 
  14. ^ a ă “Tails 1.0 is out”. Tails. 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2016. 
  15. ^ a ă â b c Murphy, David (1 tháng 5 năm 2014). “Secure OS Tails Emerges From Beta”. PC Magazine. Ziff Davis. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2016. 
  16. ^ a ă “version 0.5”. Tails. 16 tháng 4 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2016. 
  17. ^ a ă â b c d đ e ê g h Hoffman, Chris (9 tháng 6 năm 2016). “Tails, the anonymity-focused Linux distribution with deep Tor integration, reaches version 2.4”. PCWorld. IDG. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2016. 
  18. ^ a ă Paul, Ian (27 tháng 1 năm 2016). “The ultra-secure Tails OS beloved by Edward Snowden gets a major upgrade”. PCWorld. IDG. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2016. 
  19. ^ “Tails 2.0 is out”. Tails. 26 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2016. 
  20. ^ “Tails 2.4 is out”. Tails. 7 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2016. 
  21. ^ a ă “Tails 2.5 is out”. 2 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016. 
  22. ^ a ă “Tails 2.6 is out”. 21 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]