Debian

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Debian
Debian OpenLogo
GNOME v3.22 -- running Clocks, Evince, gThumb, GNOME Files.png
Debian GNU/Linux 9 ("Stretch") với giao diện người dùng GNOME 3
Nhà phát triển Debian Project (Software in the Public Interest)
Loại hệ điều hành Tương tự Unix
Tình trạng hoạt động Đang hoạt động
Kiểu mã nguồn Phần mềm tự do
Phát hành lần đầu Tháng 9, 1993 (1993-09)
Có hiệu lực trong 75 ngôn ngữ
Phương thức cập nhật APT (vài front-ends khác)
Quản lý gói cài đặt dpkg
Nền tảng hỗ trợ ARM64, armel (ARM little-endian), armhf, MIPS, mipsel, PowerPC, PPC64le, IA-32, x86-64, z/Architecture[1] in-progress: RISC-V[2]
Kiểu nhân Đơn khối (nhân Linux, FreeBSD, NetBSD), Micro (Hurd)
Giao diện mặc định GNOME ( Xfce trên các nhân non-Linux)
Giấy phép DFSG-compliant
(free software licenses)
Trang mạng www.debian.org

Debian (phát âm /ˈdɛbiən/) là một hệ điều hành máy tính phổ biến[3] do Dự án Debian xây dựng, là bản phân phối phần mềm tự do được phát triển từ sự cộng tác của các tình nguyện viên trên khắp thế giới. Kể từ lúc bắt đầu đến nay, hệ thống chính thức phát hành dưới tên gọi Debian GNU/Linux, được xây dựng dựa trên nhân Linux với nhiều công cụ cơ bản của hệ điều hành, lấy từ dự án GNU. Hiện tại có các phiên bản Debian dựa trên các hạt nhân khác, gồm có nhân của GNU Hurd, NetBSDFreeBSD.

Debian có tiếng về mối liên kết chặt chẽ với triết lý Unix và phần mềm tự do. Nó cũng có tiếng về sự phong phú cho các chọn lựa: phiên bản phát hành hiện tại có hơn 29000 [4] gói phần mềm cho 11 kiến trúc máy tính, từ kiến trúc ARM thường gặp ở các hệ thống nhúng và kiến trúc máy tính lớn s390 của IBM cho đến các kiến trúc thường gặp trên máy tính cá nhân hiện đại như x86PowerPC.

Debian được hỗ trợ nhờ các khoản quyên góp thông qua tổ chức Software in the Public Interest, một tổ chức bảo trợ phi lợi nhuận cho các dự án phần mềm tự do.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Debian được thành lập vào năm 1993 bởi Ian Murdock khi còn là sinh viên tại Đại học Purdue. Ian Murdock viết Tuyên ngôn Debian kêu gọi xây dựng một bản phân phối Linux được quản lý theo phong cách mở, trong tinh thần của Linux và GNU. Tên "Debian" được Ian Murdock đặt ra bằng cách kết hợp tên của bạn gái lúc bấy giờ (bây giờ là vợ) của anh là Debra với tên của chính anh Ian.[5]

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện tại có rất nhiều hệ điều hành Linux được xây dựng dựa trên Debian GNU/Linux, trong đó có Ubuntu, Linux Mint, Knoppix, MEPIS, DreamLinux, Damn Small Linux và các hệ điều hành khác.

Debian nổi tiếng với hệ thống quản lý gói của nó, mà cụ thể APT (công cụ quản lý gói cao cấp, Advanced Packaging Tool), chính sách nghiêm ngặt đối với chất lượng các gói và bản phát hành, cũng như tiến trình phát triển và kiểm tra mở. Cách thức làm việc này đã giúp cho việc nâng cấp giữa các bản phát hành và việc cài đặt hay gỡ bỏ các gói phần mềm được dễ dàng hơn.

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Các phiên bản của Debian vẫn được lấy tên mã (code name) theo các nhân vật phim hoạt hình Toy Story. Có một đặc điểm là phiên bản unstable (không ổn định) luôn luôn mang tên là sid (tên cậu bé hàng xóm phá phách trong phim Toy Story).

Phiên bản stable là phiên bản phát hành chính thức. Phiên bản testing là phiên bản sẽ trở thành phiên bản chính thức sau khi Debian xác nhận là đã chạy ổn định. Phiên bản unstable là phiên bản rolling (quay), tức là luôn luôn ở trạng thái phát triển liên tục.

Các bản trong chế độ bảo trì[sửa | sửa mã nguồn]

Debian luôn luôn có ít nhất ba bản trong chế độ bảo trì tích cực, gọi là "stable", "testing" và "unstable".

stable (ổn định)
Đây là bản được phát hành chính thức mới nhất của Debian, được xem là bản ổn định và dùng cho môi trường sản xuất, hoạt động chính thức.
testing (thử nghiệm)
Bản này chứa các gói chưa được chấp nhận vào "stable" nhưng đang được xếp hàng để vào đó. Ưu điểm của bản này là nó có các phiên bản phần mềm gần như là mới nhất, khuyết điểm chính là nó chưa được kiểm tra hoàn toàn và không được nhóm an ninh của Debian hỗ trợ.
unstable (không ổn định)
Đây là nơi việc phát triển Debian tích cực diễn ra. Thông thường bản này được các nhà phát triển hoặc những người muốn dùng phần mềm mới nhất sử dụng.

Các kho gói phần mềm[sửa | sửa mã nguồn]

Bản tuyên bố Hướng dẫn Phần mềm Tự do Debian (DFSG) tuân thủ nghiêm ngặt định nghĩa của phần mềm tự do (FOSS), mặc dù hệ điều hành này chưa nhận được sự công nhận của Free Software Foundation vì sự có chứa các phần mềm độc quyền trong các kho gói phần mềm. Những gói phần mềm không tự do này được tách ra thành kho phần mềm riêng có tên gọi là non-free. Danh sách các kho phần mềm khác của Debian:

  • main chứa các phần mềm đã đạt được tiêu chuẩn DFSG.
  • contrib chứa các phần mềm đã đạt được tiêu chuẩn DFSG, nhưng không đáp ứng với các tiêu chuẩn phần mềm tự do khác.Ví dụ, phần mềm bị phụ thuộc vào phần mềm độc quyền nào đó.
  • non-free chứa các phần mềm không hẳn là tự do, tức có chứa các phần mềm độc quyền.

Trình quản lý gói[sửa | sửa mã nguồn]

Họat động Trình quản lý gói có thể được thực hiện với nhiều công cụ khác nhau có sẵn trên Debian, từ công cụ mức thấp nhất dpkg đến giao diện tương tác như Synaptic. Công cụ tiêu chuẩn được đề nghị cho quản trị các gói trên hệ thống Debian là bộ công cụ apt.[6]

dpkg cung cấp cơ sở hà tầng cấp thấp cho các trình quản lý gói.[7] Dữ liệu của dpkg chứa danh sách các phần mềm đã cài đặt trên hệ thống. Công cụ dpkg không được biết tới các kho phần mềm(repositories). Công cụ này có thể làm việc cục bộ trên máy với các tệp gói .deb, và thông tin từ cơ sở dữ liệu dpkg.[8]

APT tools[sửa | sửa mã nguồn]

Sử dụng Aptitude để xem các gói Debian chi tiết
Package installed with Aptitude

Advanced Packaging Tool (APT) là một công cụ cho phép người quản trị tải và phân giải các gói dependencies từ kho phần mềm. Công cụ APT chia sẻ thông tin phụ thuộc và bộ nhớ cached các gói.[6]

  • Aptitude là một công cụ yêu cầu một giao diên người dùng text-based. Chương trình có đặc điểm là khả năng tiềm kiếm các gói tốt hơn qua metadata.[6]
  • apt-getapt-cache là những lệnh của bộ công cụ quản lý gói tiêu chuẩn apt. apt-get cài đặt và xóa các gói, còn apt-cache được sử dụng để tìm kiếm các gói và hiển thị thông tin của chúng.[6]

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Trưởng dự án[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Ian Murdock (tháng 8 năm 1993 – tháng 3 năm 1996), nhà thành lập Debian Project
  2. Bruce Perens (tháng 4 năm 1996 – tháng 12 năm 1997)
  3. Ian Jackson (tháng 1 năm 1998 – tháng 12 năm 1998)
  4. Wichert Akkerman (tháng 1 năm 1999 – tháng 3 năm 2001)
  5. Ben Collins (lập trình viên) (tháng 4 năm 2001 – tháng 4 năm 2002)
  6. Bdale Garbee (tháng 3 năm 2002 – tháng 3 năm 2003)
  7. Martin Michlmayr (tháng 3 năm 2003 – tháng 3 năm 2005)
  8. Branden Robinson (tháng 4 năm 2005 – tháng 4 năm 2006)
  9. Anthony Towns (tháng 4 năm 2006 – tháng 4 năm 2007)
  10. Sam Hocevar (tháng 4 năm 2007 – tháng 4 năm 2008)
  11. Steve McIntyre (tháng 4 năm 2008 – tháng 4 năm 2010)
  12. Stefano Zacchiroli (tháng 4 năm 2010 – Hiện tại)

Quản lý phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

  • Brian C. White (1997 – 1999)
  • Richard Braakman (1999 – 2000)
  • Anthony Towns (2000 – 2004)
  • Steve Langasek, Andreas Barth and Colin Watson (2004 – 2007)
  • Andreas Barth and Luk Claes (2007 – 2008)
  • Luk Claes and Marc Brockschmidt (2008 – 2009)
  • Luk Claes and Adeodato Simó (2009 – 2010)
  • Adam D. Barratt and Neil McGovern (2010 – Hiện tại)[9]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Debian -- Ports”. 
  2. ^ “RISC-V - Debian Wiki”. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2018. 
  3. ^ Linux Distributions — Facts and Figures
  4. ^ Debian package list
  5. ^ «About Debian» debian.org. Dọc thêm về lịch sử của Debian: www.debian.org.
  6. ^ a ă â b “Chapter 2. Debian package management”. Debian Reference. Debian. 3 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2014. 
  7. ^ “Package: dpkg [security] [essential]”. Debian. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  8. ^ “dpkg”. Debian. 5 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  9. ^ “Bits from the (chilly) release team”. 

Liên kết bên ngoài[sửa | sửa mã nguồn]