Tan băng Cuba–Hoa Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tan băng Cuba
Handshake between the President and Cuban President Raúl Castro.jpg
Tổng thống Obama gặp Tổng thống Castro tại Panama
Thời gian 20 tháng 7, 2015 (2015-07-20)
Tên gọi khác Bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa chính phủ Mỹ và chính phủ Cuba
Tham gia  Canada
 Cuba
 Holy See
 United States
Kết quả Khôi phục quan hệ ngoại giao giữa hai chính phủ

Tan băng Cuba (tiếng Anh: Cuban Thaw[1][2], tiếng Tây Ban Nha: deshielo Cubano[3][4]) là sự nồng ấm lên trong quan hệ Cuba – Hoa Kỳ bắt đầu vào tháng 12 năm 2014, kết thúc một giai đoạn 54 năm thù địch giữa hai quốc gia. Vào tháng 3 năm 2016, Barack Obama trở thành Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên đến thăm Cuba kể từ năm 1928[5].

Ngày 17 tháng 12 năm 2014, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama và Chủ tịch Cuba Raúl Castro tuyên bố khởi đầu của một quá trình bình thường hóa quan hệ giữa Cuba và Hoa Kỳ. Các thỏa thuận bình thường hóa đã bí mật đàm phán trong tháng trước, tạo điều kiện của Giáo hoàng Phanxicô và phần lớn được tổ chức bởi Chính phủ Canada. Cuộc họp đã được tổ chức tại cả Canada và thành phố Vatican.[6] Thỏa thuận này bao gồm việc dỡ bỏ một số hạn chế đi Mỹ, ít hạn chế hơn về kiều hối, tiếp cận hệ thống ngân hàng Mỹ với hệ thống tài chính của Cuba, và việc mở lại đại sứ quán Mỹ ở thủ đô Havana và Đại sứ quán Cuba tại Washington DC, cả hai đóng cửa 1961 sau sự tan rã của quan hệ ngoại giao do kết quả của liên minh chặt chẽ của Cuba với Liên Xô[7][8].

Vào ngày 14 tháng 4 năm 2015, chính quyền Obama thông báo rằng Cuba sẽ được gỡ bỏ khỏi danh sách các quốc gia tài trợ cho khủng bố. Hạ viện và Thượng viện Hoa Kỳ có 45 ngày, kể từ 14 tháng 4 năm 2015 để xem xét và có thể ngăn chặn hành động này[9], nhưng điều này đã không xảy ra, và vào ngày 29 tháng 5 năm 2015, 45 ngày mất hiệu lực, do đó chính thức loại bỏ Cuba khỏi danh sách các nhà tài trợ chủ nghĩa khủng bố của Hoa Kỳ[10]. Điều này đánh dấu một sự rời xa hơn nữa của Hoa Kỳ từ xung đột chiến tranh Lạnh và căng thẳng của quốc gia này về quan hệ Cuba-Hoa Kỳ[9]. Ngày 20 tháng 7 năm 2015, các "khu vực quyền lợi" Cuba và Mỹ ở Washington và Havana đã được nâng cấp lên thành các đại sứ quán[11].

Tổng thống Hoa Kỳ Obama đã đến Cuba trong một chuyến thăm kéo dcaif 3 ngày vào ngày 20 tháng 3 năm 2016[12], Obama đã dẫn đầu một phái đoàn gồm 800 đến 1200 người bao gồm các nhà kinh doanh và các lãnh đạo nghị viện đã giúp đỡ tiến trình bình thường hóa năm 2014[13].

Obama là tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên thăm Cuba kể từ Calvin Coolidge năm 1928[13].

Phản ứng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Phản ứng quốc tế phần lớn là rất tích cực, Đài phát thanh Ba Lan đã loan tin rằng Bộ Ngoại giao Ba Lan đang khuyến khích Washington tiến xa hơn và dỡ bỏ cấm vận[14].

Nga Nga, một trong những đồng minh thân cận nhất của Cuba, khuyến khích Washington tiến xa hơn bằng cách bỏ lệnh cấm vận Cuba và loại bỏ khỏi danh sách nhà nước tài trợ khủng bố[15].

Trung Quốc Trung Quốc, cũng là một trong những đồng minh thân cận nhất của Cuba, hoan nghênh việc nối lại quan hệ ngoại giao giữa Cuba và Hoa Kỳ[16].

Israel Israel là một trong số ít các nước không ban hành một tuyên bố chào đón sự thay đổi, và Bộ Ngoại giao Israel bị "khó chịu" vì đã bị bất ngờ trước sự thay đổi[17]. Mối quan hệ Israel-Cuba đã bị đóng băng kể từ những năm 1960, và Israel đã là quốc gia duy nhất luôn cùng phe với Hoa Kỳ chống lại các nghị quyết của Liên Hợp quốc chỉ trích lệnh cấm vận.

Việt Nam Người phát ngôn Bộ ngoại giao Việt Nam tuyên bố "Việt Nam hoan nghênh việc Chủ tịch Cuba Raul Castro và Tổng thống Mỹ Barack Obama tuyên bố sẽ nối lại quan hệ ngoại giao sau 53 năm gián đoạn. Việt Nam tin tưởng các tuyên bố mang tính lịch sử này là bước khởi đầu để tiến tới bình thường hóa quan hệ ngoại giao hoàn toàn giữa 2 nước, đem lại lợi ích chính đáng cho nhân dân Cuba và Mỹ, góp phần cho việc duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực và trên thế giới".

Một số nhà lãnh đạo Mỹ Latinh công khai hoan nghênh sự tan băng, với Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro ca ngợi hành động bình thường hóa quan hệ của Obama là một "cử chỉ dũng cảm lịch sử và cần thiết", mặc dù là một nước thường của chính sách của Mỹ[18]. Cựu tổng thống thuộc đảng Colombia Ernesto Samper trong vai trò là Chủ tịch UNASUR nói rằng "đây là một tin rất tốt, không chỉ đối với Cuba, mà còn cho toàn bộ khu vực". Juan Carlos Varela, Tổng thống thuộc đảng bảo thủ của Panama cho biết, trong Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 7 của Mỹ được tổ chức tại đất nước của mình sau ngày 7 tháng 4 năm 2015, điều này sẽ có thể để "đạt được ước mơ của một khu vực thống nhất"[19].

Canada Chính phủ Canada, quốc gia đã duy trì các mối quan hệ tích cực hơn với Cuba hơn là Hoa Kỳ đã làm trong và sau chiến tranh lạnh, cũng phản ứng ủng hộ, với Ngoại trưởng John Baird gợi ý cho nhà bình luận The Atlantic Jeffrey Goldberg rằng việc thay đổi chính sách có thể giúp "chuyển đổi" Cuba tốt hơn[20].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Betting on a Cuban Thaw: Stocks Soar on Rumors of U.S. Relations With Cuba”. Newsweek. Reuters. Ngày 17 tháng 12 năm 2014. 
  2. ^ Parker, K. Quincy (ngày 8 tháng 1 năm 2015). “CARICOM Launches Five-Year Plan”. The Nassau Guardian. The rapprochement of which Christie spoke has been referred to as 'The Cuban Thaw'. 
  3. ^ “Se inicia la Cumbre con la mira puesta en el 'deshielo' cubano-estadounidense”. Télam (bằng tiếng Tây Ban Nha). Ngày 10 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2015. 
  4. ^ Reyes Uschinsky, Carla (ngày 28 tháng 1 năm 2015). “Dos mujeres diplomáticas dirigen las negociaciones en el deshielo cubano”. Mundario (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2015. 
  5. ^ “Obama begins historic visit to Cuba”. Washington Post. Ngày 20 tháng 3 năm 2016. 
  6. ^ Nadeau, Barbie Latza (ngày 17 tháng 12 năm 2014). “The Pope's Diplomatic Miracle: Ending the U.S.–Cuba Cold War”. The Daily Beast. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2014. 
  7. ^ Keane, Angela Greiling & Dorning, Mike (ngày 17 tháng 12 năm 2014). “Cuba’s Half Century of Isolation to End”. Bloomberg News. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  8. ^ Baker, Peter (ngày 18 tháng 12 năm 2014). “Obama Announces U.S. and Cuba Will Resume Relations”. The New York Times. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2014. 
  9. ^ a ă Archibold, Randall C.; Davis, Julie Hirschfeld (ngày 14 tháng 4 năm 2015). “Cuba to Be Removed From U.S. List of Nations That Sponsor Terrorism”. New York Times. 
  10. ^ “US removes Cuba from list of state sponsors of terror”. BBC.com. BBC News. Ngày 29 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2015. 
  11. ^ “US and Cuba restore ties by opening embassies”. Al Jazeera. Ngày 20 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2015. 
  12. ^ “Barack Obama tours Old Havana in Cuba at start of historic 3-day visit”. Ngày 20 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2016. 
  13. ^ a ă Dan Roberts. “Barack Obama lands in Cuba as first US president to visit in 88 years”. the Guardian. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2016. 
  14. ^ “Poland Urges US to Go Further with Cuban Thaw”. Radio Poland. Ngày 19 tháng 12 năm 2014. 
  15. ^ “Comment by the Information and Press Department of the Ministry of Foreign Affairs on the easing in US-Cuba relations”. Ministry of Foreign Affairs (Russia). Ngày 17 tháng 12 năm 2014. 
  16. ^ “China Welcomes Move to Restore U.S.-Cuba Diplomatic Relations”. China-US Focus. Ngày 17 tháng 12 năm 2014. 
  17. ^ Ahnsaf, Zalman (ngày 26 tháng 12 năm 2014). “Foreign Ministry Miffed Over U.S–Cuban Thaw”. Hamodia (Jerusalem). tr. 6. 
  18. ^ Otis, John (ngày 18 tháng 12 năm 2014). “In Latin America, Not Everyone Is Thrilled with the U.S.–Cuba Thaw”. All Things Considered (NPR). Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2015. 
  19. ^ “Reacciones en el mundo por normalización de relaciones entre Cuba y EEUU” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Instituto Cubano por la LIbertad de Expresión y de Prensa. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2015. 
  20. ^ Goldberg, Jeffrey (ngày 21 tháng 12 năm 2014). “Canada's Foreign Minister: U.S. Influence Will Make Cuba Better”. The Atlantic. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2015.