Thích Tịnh Không

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chin Kung
淨空
Chin Kung 20091002.jpg
Tôn giáoPhật giáo
Tông pháiTịnh độ tông
Cá nhân
SinhHsu Yeh-hong
1927
Lư Giang (huyện), An Huy, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Chức vụ
Chức danhĐại đức
Hoạt động tôn giáo
Sư phụLee Ping-nan

Thích Tịnh Không (淨空; pinyin: Jìngkōng sinh vào tháng 2 năm 1927), tục danh Từ Nghiệp Hồng (徐業鴻), pháp danh Giác Tịnh (覺淨), tự Tịnh Không (淨空), người trấn Dịch Trì huyện Lư Giang thuộc tỉnh An Huy, hoằng dương Pháp môn Tịnh Độ, đến nay giảng kinh đã hơn 50 năm. Hòa thượng tiên phong trong việc áp dụng kĩ thuật truyền thông đa phương tiện Internet để phổ cập Phật học với trọng tâm là pháp môn Tịnh Độ. Các bài giảng của Hòa thượng có thể tìm thấy phổ biến trên youtube bằng nhiều thứ tiếng khác nhau[1][2].

Hoà Thượng Tịnh Không chuyên giảng Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh 《佛說大乘無量壽莊嚴清淨平等覺經》do cư sĩ Hạ Liên Cư hội tập thành công năm bản dịch Vô Lượng Thọ Kinh 《無量壽經》của 5 triều đại Trung Hoa. Hoà thượng nhấn mạnh rằng Phật giáoGiáo dục của Phật Đà dựa vào trí tuệ và từ bi để thành đạo, chứ không phải là tôn giáo mê tín dị đoan.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Lão pháp sư Hòa thượng Tịnh Không thế danh là: Từ Nghiệp Hồng, sinh năm 1927, tại huyện Lông Giang, tỉnh An Huy, Trung Quốc. Thời niên thiếu ngài sống và học tập tại tỉnh Phúc Kiến và Quý Châu. Năm 1949 Ngài định cư tại Đài Loan, làm việt tại Thực Tiễn Học Xá. Từ năm 1956 - 1959 Ngài học Mật Tông với Đại sư Chương Gia. Từ năm 1959 - 1969 Ngài học Phật học với cư sĩ Lý Bỉnh Nam. Năm 1959 Ngài được chế độ tại chùa Lâm Tế - Đài Bắc - Đài Loan, pháp danh là Tịnh Giác, pháp tự là Tịnh Không. Sau khi thọ cụ túc giới, và đây cũng chính là khởi đầu trong suốt quá trình giảng kinh thuyết pháp. Ngoài việc tinh thông kinh điển Đại Thừa, ngài còn thâm nhập sâu vào kinh điển những tôn giáo khác như: Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo, Islam giáo, Nho giáo... nên đã khởi xướng xây dựng mối đoàn kết 9 tôn giáo tại Singapore như một đại gia đình, và cũng là người chú trọng thúc đẩy hòa bình đoàn kết các tôn giáo và các dân tộc khác.

Pháp sư Tịnh Không được xem là người có công phục hưng Tông Tịnh Ðộ trong hiện đại, Ngài đã cống hiến cả cuộc đời mình cho việc nghiên cứu, thực hành và truyền bá pháp môn Tịnh Ðộ, là một pháp môn mà Ngài đã đạt được những thành tựu lớn nhất.

Pháp Sư Tịnh Không đã chú trọng đến những nguyên lý của Ðại Thừa Phật Giáo như giải trừ mê tín, tà kiến, giúp mọi người phân biệt rõ phải và trái, đúng và sai và giải quyết hoàn hảo mọi vấn đề. Trong nỗ lực thực hiện công việc này Ngài hỗ trợ thành lập hơn năm mươi Trung Tâm Tịnh Ðộ Học và Hội Phật Ðà trên khắp thế giới, bao gồm những trung tâm và hiệp hội ở Ðài Loan, Hồng Kông, Singapore, Mã Lai, Bắc Mỹ, Úc, Tây Ban Nha và Anh quốc. Suốt mấy thập niên qua, Ngài đã cố vấn cho vô số tổ chức Phật Giáo và xã hội.

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

Hoà Thượng Tịnh Không (Chin Kung) là tác giả của những quyển sách sau:[3]

  • The Art of Living (Tạm dịch: Nghệ thuật sống)
  • Buddhism as an Education (Tạm dịch: Phật giáo là một nền giáo dục)
  • Buddhism: The Awakening of Compassion and Wisdom (Tạm dịch: Phật giáo: Sự thức tỉnh của từ bi và trí tuệ)
  • The Collected Works of Master Chin Kung (Tạm dịch: Pháp Ngữ của Hoà Thượng Tịnh Không)
  • Path to True Happiness (Tạm dịch: Con đường đến hạnh phúc chân thực)
  • To Understand Buddhism (Tạm dịch: Để thấu hiếu Phật giáo)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]