Thủy ngân(II) clorua

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Mercury(II) chloride
Mercury(II)-chloride-xtal-1980-3D-balls.png
Ball-and-stick model of the crystal structure
Mercury(II)-chloride-xtal-3D-SF.png
Space-filling model of the crystal structure
Mercury(II) chloride.jpg
Mercury(II) chloride
Danh pháp IUPACMercury(II) chloride
Mercury dichloride
Tên khácMercuric chloride
Corrosive sublimate
Nhận dạng
Số CAS7487-94-7
PubChem24085
Số EINECS231-299-8
KEGGC13377
Số RTECSOV9100000
Ảnh Jmol-3Dảnh
SMILES
Thuộc tính
Công thức phân tửHgCl2
Khối lượng mol271.52 g/mol
Bề ngoàicolorless or white solid
Mùikhông mùi
Khối lượng riêng5.43 g/cm3
Điểm nóng chảy 276 °C (549 K; 529 °F)
Điểm sôi 304 °C (577 K; 579 °F)
Độ hòa tan trong nước3.6 g/100 mL (0 °C)
7.4 g/100 mL (20 °C)
48 g/100 mL (100 °C)
Độ hòa tan4 g/100 mL (ether)
hòa tan trong alcohol, acetone, ethyl axetat
ít hòa tan trong benzene, CS2, pyridine
Độ axit (pKa)3.2 (0.2M solution)
MagSus−82.0·10−6 cm3/mol
Chiết suất (nD)1.859
Cấu trúc
Cấu trúc tinh thểorthogonal
Tọa độlinear
Hình dạng phân tửlinear
Mômen lưỡng cựczero
Nhiệt hóa học
Entanpi
hình thành
ΔfHo298
−230 kJ·mol−1[1]
Entropy mol tiêu chuẩn So298144 J·mol−1·K−1[1]
Dược lý học
Các nguy hiểm
Phân loại của EURất độc T+
(T+)
Ăn mòn C
(C)
Nguy hiểm cho môi trường N (N)
NFPA 704

NFPA 704.svg

0
4
0
 
Chỉ dẫn RR28, R34, R48/24/25, R50/53
Chỉ dẫn S(S1/2), S36/37/39, S45, S60, S61
Điểm bắt lửaKhông bắt lửa
Các hợp chất liên quan
Anion khácMercury(II) florua
Mercury(II) bromua
Mercury(II) iodua
Cation khácZinc clorua
Cadmium clorua
Mercury(I) clorua
Trừ khi có ghi chú khác, dữ liệu được cung cấp cho các vật liệu trong trạng thái tiêu chuẩn của chúng (ở 25 °C [77 °F], 100 kPa).
KhôngN kiểm chứng (cái gì Có KhôngN ?)

Thủy ngân(II) clorua, còn gọi là clorua thủy ngân (cách gọi cũ là chất ăn mòn)[2] là một hợp chất hóa học của thủy ngân và clo với công thức HgCl2. Là một chất rắn tinh thể màu trắng dùng làm chất thử trong phòng thí nghiệm và là một hợp chất phân tử. Ngày trước được dùng để điều trị bệnh giang mai, nhưng hiện tại không còn dùng cho các mục đích y học vì độc tính của thủy ngân rất nguy hiểm.

Điều chế[sửa | sửa mã nguồn]

Người ta có thể thu được thủy ngân(II) clorua từ phản ứng của clo tác dụng lên thủy ngân hoặc thủy ngân(I) clorua, bằng cách thêm axit clohiđric vào:

HgNO3 + 2 HCl → HgCl2 + H2O + NO2,

Nung nóng một hỗn hợp chất rắn gồm thủy ngân(II) sunfat và natri clorua cũng cho ra thủy ngân(II) clorua bay hơi, thăng bằng và ngưng tụ dưới dạng các tinh thể nhỏ hình thoi.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Ứng dụng chính của thủy ngân(II) clorua là làm chất xúc tác cho quá trình axetylen (C2H2) biến đổi thành vinyl clorua (C2H3Cl), tiền thân của polyvinyl clorua:

C2H2 + HCl → CH2=CHCl

Chất phản ứng hóa học[sửa | sửa mã nguồn]

Hợp chất đôi khi được sử dụng để tạo thành một hỗn hợp (hỗn hống) với các kim loại, chẳng hạn như nhôm. Nhôm đã được hỗn hống với thủy ngân sẽ được dùng làm chất khử trong tổng hợp hữu cơ. Kẽm cũng thường được hỗn hống bằng cách sử dụng thủy ngân(II) clorua. Hợp chất còn có thể được sử dụng làm chất ổn định cho các hóa chất và mẫu phân tích.[3]

Trong nhiếp ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Thủy ngân(II) clorua từng được dùng để khuếch đại ảnh tạo ra hình ảnh tích cực trong quá trình collođion ảnh những năm 1800.[4]

Trong bảo quản mẫu vật[sửa | sửa mã nguồn]

Để bảo tồn những mẫu vật nhân loại học và sinh vật học vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, các hiện vật này được nhúng vào hoặc được sơn ngoài với một "dung dịch thủy ngân". Việc này làm cho những vật mẫu không bị giảm chất lượng và mục rửa. Là một trong ba hóa chất được sử dụng trong xử lý gỗ đường sắt giữa 1830 và 1856 ở châu ÂuMỹ. Tuy nhiên, phương pháp này ngày nay không còn được áp dụng phổ biến nữa, vì dung dịch thủy ngân có thể tan được trong nước và không có hiệu quả lâu dài, lại còn độc hại. 

Trong y học[sửa | sửa mã nguồn]

Thủy ngân(II) clorua từng được dùng để khử trùng vết thương bởi những thầy thuốc Ả Rập thời trung cổ.[5] Và nó vẫn tiếp tục được những bác sĩ Ả Rập thế kỷ XII sử dụng, cho đến khi y học hiện đại chứng minh thủy ngân có độc tính.

Bệnh giang mai và bênh ghẻ cóc thường được điều trị bằng clorua thủy ngân vào thời xưa trước khi có kháng sinh

Tính độc[sửa | sửa mã nguồn]

Thủy ngân clorua có độc tính cao và có hại khi tiếp xúc với cơ thể người.

Đầu độc thủy ngân[sửa | sửa mã nguồn]

Trong quyển V của bộ Alexandre Dumas' Celebrated Crimes, tác giả đã kể lại chi tiết lịch sử của Antoine François Desrues, người đã giết một phu nhân quý tộc, Madame de Lamotte, bằng "chất ăn mòn".[6]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Zumdahl, Steven S. (2009). Chemical Principles 6th Ed. Houghton Mifflin Company. tr. A22. ISBN 0-618-94690-X. 
  2. ^  Chisholm, Hugh biên tập (1911). “Corrosive Sublimate”. Encyclopædia Britannica 7 (ấn bản 11). Nhà in Đại học Cambridge. tr. 197. 
  3. ^ Foreman, W. T.; Zaugg, S. D.; Faires, L. M.; Werner, M. G.; Leiker, T. J.; Rogerson, P. F. (1992). “Analytical interferences of mercuric chloride preservative in environmental water samples: Determination of organic compounds isolated by continuous liquid-liquid extraction or closed-loop stripping”. Environmental Science & Technology 26 (7): 1307. doi:10.1021/es00031a004. 
  4. ^ Towler, J. (1864). Stereographic negatives and landscape photography. Chapter 28. In: The silver sunbeam: a practical and theoretical textbook of sun drawing and photographic printing. Retrieved on April 13, 2005.
  5. ^ Maillard, Adam P. Fraise, Peter A. Lambert, Jean-Yves (2007). Principles and Practice of Disinfection, Preservation and Sterilization. Oxford: John Wiley & Sons. tr. 4. ISBN 0470755067. 
  6. ^ Dumas, Alexandre (1895). Celebrated Crimes Volume V: The Cenci. Murat. Derues. G. Barrie & sons. tr. 250. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015 – qua Google Books. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]