Thuyết đa trí tuệ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
hình ảnh biểu trưng cho thuyết đa trí tuệ

Thuyết đa trí tuệ là một lý thuyết về trí thông minh của con người được nhìn nhận bằng nhiều cách, mang tính đa dạng, được nghiên cứu và công bố bởi tiến sĩ Howard Gardner.[1] Theo Gardner, trí thông minh (intelligence) được ông quan niệm như sau "là khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm mà các giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn hóa" và trí thông minh cũng không thể chỉ được đo lường duy nhất qua chỉ số IQ.

Năm 1983, ông đã xuất bản một cuốn sách có nhan đề Frames of Mind (tạm dịch Cơ cấu của trí tuệ), trong đó ông công bố các nghiên cứu và lý thuyết của mình về sự đa dạng của trí thông minh (Theory of Multiple Intelligences).[2]

Những bằng chứng làm cơ sở[sửa | sửa mã nguồn]

Thuyết trí thông minh đa dạng không phải là khuôn mẫu đầu tiên cho rằng có nhiều cách khác nhau để trở thành người khôn ngoan, rất nhiều những dạng thông minh khác đã được gợi ý, Chúng bao gồm những dạng sau: khiếu hài hước, óc sáng tạo, tài nấu ăn, sự duy linh, đạo đức, bản năng giới tính, trực giác, khả năng khứu giác, khả năng ngoại cảm, khả năng ghi nhớ, trí khôn ngoan, khả năng kỹ thuật, cảm nhận chung và trí thông minh đường phố, đã có rất nhiều loại luận thuyết về trí thông minh được đưa ra, theo đó có hơn 150 dạng thông minh khác nhau, nhưng chỉ có 7 dạng thông minh đủ bằng chứng cơ sở đó là

Thứ nhất: Mỗi trí thông minh đều có khả năng được biểu tượng hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ hai: Mỗi trí thông minh đều có một lịch sử phát triển của riêng nó[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ ba: Mỗi trí thông minh đều sẽ bị biến mất khi não bị tổn thương ở vùng đặc trưng[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ tư: Mỗi trí thông minh đều có nền tảng và giá trị văn hóa riêng của nó[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các loại thông minh:[sửa | sửa mã nguồn]

Trí thông minh Không gian – Thị giác[sửa | sửa mã nguồn]

Trí thông minh không gian – thị giác là khả năng tư duy, ghi nhớ, sáng tạo bằng hình ảnh, màu sắc, không gian. Những người sở hữu trí thông minh này rất giỏi tưởng tượng bằng hình ảnh và cũng chỉ hiểu nếu như được giảng giải bằng hình ảnh cụ thể. Họ không thích chữ nghĩa tẻ nhạt. Đại diện cho nhóm người có trí thông minh không gian – thị giác có thể kể đến như nhà điêu khắc, họa sĩ, nhà phát minh, kiến trúc sư, thợ cơ khí, kỹ sư…

Trí thông minh Âm nhạc – Thính giác[sửa | sửa mã nguồn]

Trí thông minh âm nhạc – thính giác là khả năng ghi nhớ nhanh giai điệu, có thể chơi nhạc cụ dễ dàng, cảm thụ âm thanh tinh tế mà người khác không cảm được. Đại diện cho nhóm người sử hữu trí thông minh này là nhạc sĩ, ca sĩ, DJ, vũ công...

Trí thông minh Toán học – Logic[sửa | sửa mã nguồn]

Trí thông minh toán học – lô-gic là khả năng suy luận logic, chứng minh, phân tích, lập luận các con số, giải quyết vấn đề một cách lô-gic, chắc chắn. Nhà khoa học, kỹ sư, kế toán, nhà toán học… là những người sở hữu trí thông minh toán học – lô-gic.

Trí thông minh Tương tác – Giao tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Trí thông minh tương tác – giao tiếp là khả năng nắm bắt được suy nghĩ của người khác, có năng lực tương tác với mọi người, giỏi hợp tác, tập hợp mọi người và lãnh đạo… Đại diện cho nhóm người sở hữu trí thông minh này là các nhà tư vấn, nhân viên bán hàng, chính trị gia, doanh nhân, bộ trưởng, các vị trí lãnh đạo, chỉ huy…

Trí thông minh Thể chất[sửa | sửa mã nguồn]

Trí thông minh thể chất là khả năng điều khiển cơ thể khéo léo hơn người khác. Những người sở hữu trí thông minh này có khả năng kiểm soát những chuyển động, xử lý các đồ vật, đối tượng cực kỳ khéo và có thể huy động toàn bộ cơ thể để tạo ra những chuyển động đặc biệt, đẹp mắt và chính xác. Đại diện là những vũ công, vận động viên, diễn viên, nghệ nhân làm đồ thủ công mỹ nghệ...

Trí thông minh Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Trí thông minh ngôn ngữ là khả năng sử dụng ngôn ngữ hiệu quả để thể hiện bản thân bằng hùng biện, thi ca, có khả năng học, nói được nhiều ngôn ngữ và ghi nhớ bằng ngôn ngữ. Các nhà văn, nhà thơ, luật sư và diễn giả, giáo viên ngoại ngữ, nhà ngôn ngữ học... là những người đại diện cho trí thông minh này.

Trí thông minh Nội tâm[sửa | sửa mã nguồn]

Trí thông minh nội tâm là khả năng khám phá chiều sâu bản thân, nhạy cảm, hòa điệu với những cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng... Những người sở hữu trí thông minh này có thể ý thức được ưu điểm, khuyết điểm của mình, thích trầm ngâm suy tư, làm việc một mình. Đại diện cho nhóm này là nhà nghiên cứu, lý luận, triết học, nhà văn, những người có tài viết lách…

Trí thông minh vận động thể chất[sửa | sửa mã nguồn]

Khả năng vận động thân thể là loại hình thông minh của chính bản thân cơ thể, nó bao gồm tài năng trong việc điều khiển các hoạt động về thân thể, khiến các hoạt động của thân thể và các thao tác cầm nắm một cách khéo léo, các vận động viên thể thao, những người làm nghề thủ công, thợ cơ khí và các bác sĩ phẫu thuật là những người sở hữu khả năng này,

Trí thông minh tương tác cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là năng lực hiểu và làm được với những người khác, khả năng nhìn thấu suốt bên trong người khác, từ đó nhìn ra viễn cảnh bên ngoài bằng chính con mắt của họ,

Trí thông minh Triết học[sửa | sửa mã nguồn]

Trí thông minh triết học là khả năng nhạy cảm hoặc có năng lực khái niệm hóa, xử lý các vấn đề sâu rộng hơn về sự tồn tại của con người như ý nghĩa cuộc sống. Nhà triết học, nhà thần học… là những người sở hữu trí thông minh triết học xuất chúng.

Trí thông minh thiên nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Trí thông minh thiên nhiên là khả năng tinh thông trong việc nhận dạng và phân loại vô số chủng loại động thực vật trong môi trường.So với bảy loại hình thông minh đầu tiên, có rất nhiều cách để thể hiện chúng ra thế giới bên ngoài. Có lẽ rõ rệt nhất, những người có cảm nhận về thiên nhiên bộc lộ trí thông minh của mình. Đó là sở trường của những người làm vườn, trồng cây cảnh, sáng tạo khung cảnh thiên nhiên, hay nói cách khác là thể hiện sự quan tâm tự nhiên của mình đối với thực vật

Trí thông minh hiện sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Trí thông minh hiện sinh có rất ít mối quan hệ với bất kỳ hệ tư tưởng nào.Định nghĩa trí thông minh hiện sinh là trí thông minh liên quan tới các vấn đề cơ bản của cuộc sống. Liên tục đặt ra những câu hỏi như: "Cuộc sống là gì?" "Ý nghĩa của nó là gì?" "Vì sao lại có quỷ dữ?" "Loài người sẽ tiến tới đâu?" và "Chúa có tồn tại hay không?",...tất cả chính là điểm khởi đầu mạnh mẽ cho một cuộc khám phá và nhận thức sâu sắc hơn. Định nghĩa về khả năng của trí thông minh hiện sinh gồm hai phần:

- Xác định bản thân tới những tầm xa nhất của vũ trụ - nơi tận cùng, vô tận.

- Xác định bản thân với những tính năng hiện hữu nhất của điều kiện con người - tầm quan trọng của cuộc sống, ý nghĩa của cái chết, số mệnh cuối cùng của thế giới vật chất, tinh thần, những trải nghiệm sâu sắc như là tình yêu của con người hoặc niềm đam mê nghệ thuật.

Một số người có nhiều trí thông minh hiện sinh do họ đã tìm thấy một "chân lý cuối cùng", trong khi những người khác kém hơn vì không tìm ra. Những người có trí thông minh hiện sinh có thể là nhà thần học, mục sư, giáo sỹ Do Thái, pháp sư, linh mục, thầy dạy Yoga, nhà sư và những thầy trưởng tế Hồi giáo. Mỗi người trong số họ có thể có những nhận thức khác nhau về bản chất của chân lý tuyệt đối. Nhưng cũng có những người theo thuyết bất khả tri, những triết gia theo phái hoài nghi, phái vô thần, phái châm chích, những người báng bổ hoặc những nhà dị giáo - những người thể hiện một trình độ cao hơn của trí thông minh hiện sinh bởi họ luôn cố xoay xở với những câu hỏi ở mức độ căng thẳng và phức tạp

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Slavin, Robert (2009) Educational Psychology, p. 117 ISBN 0-205-59200-7
  2. ^ McKenzie, W. (2005). Multiple intelligences and instructional technology. ISTE (International Society for Technology Education). ISBN 156484188X

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]