Tiền Thái Bình hưng bảo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

[[Tập‎|nhỏ|phải|400px|Mặt trước và mặt sau của đồng tiền Thái Bình hưng bảo dưới thời Đinh Tiên Hoàng]] Thái Bình hưng bảo (太平興寶) là tên gọi đồng tiền đầu tiên của Việt Nam do nhà Đinh là một triều đại người Việt cho đúc bắt đầu từ năm 970. Đây được xác định là đồng tiền xưa nhất do một triều đại của người Việt đúc[1]. Tiền Thái Bình hưng bảo góp phần khẳng định nền độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa mà Đinh Tiên Hoàng đã xác lập.[2]

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Suốt một ngàn năm Bắc thuộc, người Việt không có đồng tiền riêng để lưu hành. Năm 968 Đinh Tiên Hoàng dẹp tan loạn 12 sứ quân, thành lập nhà Đinh, và xưng Đinh Tiên Hoàng Đế để mở đầu một kỷ nguyên độc lập thống nhất cho nước Việt. Nhà Ðinh phát hành tiền lần đầu tiên trong lịch sử, đó là đồng Thái Bình Hưng Bảo đúc năm 970, mặt sau có chữ Ðinh.[3] Các nhà nghiên cứu tiền cổ đều thừa nhận, đó là đồng tiền nhà Đinh sản xuất lưu hành, không thể nhầm với bất kỳ đồng tiền nào khác trong và ngoài nước.

Sử sách ghi chép rất ít về hoạt động thương mại thời Đinh. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 976, có thuyền buôn nước ngoài cập bến Đại Cồ Việt[4]. Hoa Lư đương thời là một thương cảng lớn, sông Hoàng Long cũng là một tuyến giao thông quan trọng đối với việc thông thương lúc đó. Các nhà nghiên cứu cho rằng dòng sông Hoàng Long khi đó còn rất rộng, chưa bị thu hẹp như hiện nay[5].

Khi lên làm vua, Đinh Tiên Hoàng đặt niên hiệuThái Bình và cho đúc tiền Thái Bình hưng bảo bằng đồng. Đây là tiền duy nhất được phát hành trong thời nhà Đinh, vì cho dù sau này có sự thay đổi ngôi vua trong họ Đinh nhưng không có sự thay đổi niên hiệu (Đinh Toàn lên kế vị vẫn dùng niên hiệu Thái Bình).

Khảo cổ học[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng tiền Thái Bình cũng như các tiền khác sau này các triều đại phong kiến cho đúc đều bằng đồng, hình tròn, lỗ vuông, biểu tượng cho trời và đất theo quan niệm của người phương Đông. Quan điểm này được gìn giữ và phát triển nhất quán trong việc đúc tiền qua các triều đại vua sau này. Đến triều đại cuối cùng phong kiến cuối cùng đồng Bảo Ðại Thông Bảo của vua Bảo Ðại vẫn tuân thủ hình thức này. Hiện đồng tiền cổ nhất Việt Nam còn được lưu giữ tại phòng truyền thống của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Khảo cổ học cho thấy Thái Bình hưng bảo có ba loạt khác nhau. Cả ba loạt đều có lỗ hình vuông ở giữa và có đường kính không đều nhưng bình quân khoảng 22 mm. Cả ba loạt đều có mặt trước ghi chữ Thái Bình hưng bảo bằng chữ Hán. Có một loạt thay vì chữ Thái lại là chữ Đại. Hiện chưa rõ: do lâu ngày đồng tiền đó bị hỏng nên mất một chấm, hay đó thực sự là chữ Đại nhưng được đọc là Thái. Về mặt sau, thường có chữ Đinh (họ của vua) đúc nổi; nhưng có một loạt không có chữ gì. Tiền Thái Bình hưng bảo đúc bằng hợp kim chứa nhiều đồng hình tròn, lỗ vuông kiểu tiền Trung Quốc[1].

Sử liệu cũ của Việt Nam không đề cập đến việc nhà Đinh có đúc tiền. Tuy nhiên, sử liệu cũ của Trung Quốc thì có nhắc đến và dựa vào đó Bành Tín Uy viết rằng năm 970 Đinh Bộ LĩnhViệt Nam đúc tiền Thái Bình hưng bảo. Theo Đỗ Văn Ninh, việc sử liệu cũ của Việt Nam không nhắc đến việc này có thể là do nền kinh tế tiền tệ thời nhà Đinh còn mới manh nha, tiền chưa được sử dụng nhiều, trao đổi hàng hóa là chính, lương bổng và thuế má đều bằng hiện vật.

Thời Tiền Lê trước nhu cầu phát triển của nền kinh tế và giao thương trao đổi, Lê Hoàn cho lập xưởng đúc tiền Thiên Phúc trấn bảo. Tiền Thiên Phúc kế thừa hình dáng và kích thước như tiền thời Đinh, có hình tròn, đường kính 2,2 - 2,4 cm. Giữa có lỗ hình vuông, mặt trước có chữ viết chân phương niên hiệu của triều đại. Mặt sau lưng có chữ Lê, chữ đúc gọn nổi sắc nét. Tiền Thiên Phúc sau này tìm được ở nhiều nơi: cố đô Hoa Lư, hoàng thành Thăng Long, thương cảng Vân Đồn và nhiều nơi khác, những trung tâm kinh tế của đất nước thời bấy giờ. Sự có mặt của tiền Thiên Phúc ở nhiều nơi, không gian lưu thông rộng cho thấy, tiền được đúc và sử dụng nhiều, khẳng định giá trị tiền tệ của nhà nước độc lập.[6]

Bên cạnh những đồng tiền do nhà nước độc lập Việt phát hành, các đồng tiền Trung Quốc cũng được sử dụng trong thông thương trao đổi với tư cách là "ngoại tệ". Trong các hoạt động kinh tế, thương mại hai đồng tiền Việt Nam và Trung Quốc được sử dụng song song, nhất là các vùng thương cảng biên viễn.

Đại Bình hưng bảo[sửa | sửa mã nguồn]

Trên một bài viết đăng trên website của Bảo tàng lịch sử quốc gia, nhà nghiên cứu Phạm Quốc Quân đưa ra khả năng không có loại tiền "Thái Bình hưng bảo" (太平興寶) mà chỉ có "Đại Bình hưng bảo" (大平興寶).[7] Ông cho rằng ông đã được nhìn và sờ hàng trăm đồng "Thái Bình hưng bảo" nhưng không có một tự dạng nào khẳng định đây là chữ "Thái" mà đó chính là chữ "Đại". Có lẽ các nhà nghiên cứu lịch sử, theo đó là các nhà nghiên cứu cổ tiền học đã căn cứ vào ghi chép của sự biên niên để định nhận cho đồng tiền này là "Thái Bình": Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp loạn "12 sứ quân", thành lập nước Đại Cồ Việt, xưng là "Đại Thắng Minh hoàng đế", 4 năm sau đó, tháng 1 năm Canh Ngọ (970) đặt niên hiệu là Thái Bình. Có một điều trùng hợp là ngay cả những ghi chép sớm nhất về tiền cổ nhà Đinh, Hồng Tuân thời Nam Tống (Trung Quốc) trong quyển "Tiền chí" cũng khẳng định có loại tiền "Thái Bình hưng bảo" với những miêu tả khá chi tiết.

Theo quan niệm của ông, có những cơ sở sau đây để đưa ra khả năng không có loại tiền "Thái Bình hưng bảo" mà chỉ có "Đại Bình hưng bảo", đó là:

  • Tự dạng không cho phép đọc chữ "Đại" thành chữ "Thái". Có nhiều người giải thích rằng, tiền được đúc nên nét trên khuôn, sau khi đúc ra tiền, đã bị khuyết nét. Vậy thì, trong hàng trăm đồng mà ông được xem, phải có chữ "Thái" không khuyết và mất nét? Thực tế, tiền Việt Nam cũng có loại tiền "Thái An thông bảo", "Thái Hòa bảo phong" mà chữ "Thái" còn rõ ràng dấu chấm. Như vậy, kỹ thuật đúc không thể giải thích hiện tượng này. Cũng có giải thích ý kiến vì "Thái" là chữ húy nên phải kiêng kỵ, theo ông cũng không đủ sức thuyết phục.
  • Trong lịch sử tiền cổ Việt Nam, chữ "Đại" khá nhiều, đó là "Đại Định thông bảo" (triều Lý); "Đại Trị thông bảo", "Đại Trị nguyên bảo" và "Đại Định thông bảo" (triều Trần); "Đại Bảo thông bảo", "Đại Hòa thông bảo" (triều Lê sơ); "Đại Chính thông bảo" (triều Mạc); "Cảnh Hưng đại bảo" (triều Lê Cảnh Hưng)… Tất cả những chữ "Đại" trong các loại tiền trên đều rất rõ ràng cho dù có nhiều kiểu khác nhau. Vậy thì sao lại không có "Đại Bình hưng bảo".
  • "Đại" trong triều Đinh không chỉ có trên tiền. Những viên gạch khai quật được ở cố đô Hoa Lư (Ninh Bình) hay lớp văn hóa thế kỷ thứ 10 ở Thăng Long (Hà Nội) có in nổi 6 chứ "Đại Việt Quốc Quân Thành Chuyên" là một gợi ý đáng quan tâm về mối liên hệ của hai chữ "Đại".

Tuy nhiên, hiện nay đại đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng đồng tiền thời Đinh là Thái Bình hưng bảo.

Giá trị lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sự có mặt của các đồng tiền Việt Nam ngay từ buổi đầu giành độc lập, đã góp phần khẳng định ý thức dân tộc, tinh thần độc lập tự chủ của các triều đại Việt Nam. Đây là những cơ sở ban đầu để sau này tiền tệ Việt Nam được các triều đại sau phát huy và phát triển.

Trưng bày[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền Thái Bình hưng bảo hiện được trưng bày ở nhiều nơi, tiêu biểu như:

  • Bảo tàng lịch sử quốc gia, Hà Nội.
  • Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, trưng bày từ 19/12/2015 do Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân trao tặng.[8]
  • Bảo tàng tỉnh Ninh Bình, trưng bày cùng nhiều hiện vật thời Đinh khác như gạch Đại Việt quốc quân thành chuyên, thạch kinh chùa Nhất Trụ...[9]
  • Di tích phủ Đại - quần thể di tích Cố đô Hoa Lư

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]