Trường Đại học Văn Lang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Đại học Văn Lang
Biểu trưng của Đại học Văn Lang
Khẩu hiệu Đạo đức - Ý chí - Sáng tạo
Thông tin chung
Loại hình Đại học tư thục
Thành lập 1995
Tổ chức và quản lý
Hiệu trưởng PGS.TS. Trần Thị Mỹ Diệu
Sinh viên 26 ngành - 12 500 sinh viên
Sinh viên sau đại học 7 ngành
Thông tin khác
Địa chỉ Trụ sở: 45 Nguyễn Khắc Nhu, Quận 1
Cơ sở 2: 233A đường Phan Văn Trị, Quận Bình Thạnh
Bài hát Văn Lang Đại học đường
Điện thoại (84-8) 3836 7933
Website www.vanlanguni.edu.vn

Đại học Văn Lang (tiếng Anh: Van Lang University) là một trường đại học tư do bà Mỹ Diệu đứng tên thành lập theo quyết định số 71/TTg ngày 27/01/1995 của Thủ tướng Chính phủ.[1] Năm 2015 trường được cho phép chuyển đổi loại hình đại học từ dân lập sang tư thục. Trường đào tạo theo định hướng ứng dụng.

Quá trình hình thành và thành tích của trường[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1995:[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 27/01/1995, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 71/TTg cho phép thành lập trường Đại học Dân lập Văn Lang.

Ngày 16/11/1995, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trường Đại học Dân lập Văn Lang được thành lập.

Năm 1998:[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6/1998, Đại hội Công đoàn trường Đại học Dân lập tổ chức nhiệm kỳ khoá đầu tiên (1998 – 2000).

Lễ Khai giảng khóa 4 được tổ chức tại số 4 Nguyễn Đình Chiểu, Q. 1, TP. Hồ Chí Minh – địa điểm đào tạo các ngành kinh tế của trường.

Ngày 07/9/1998, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 813/TTg, cấp 6 ha đất ở P. 5, Q. Gò Vấp cho trường Đại học Dân lập Văn Lang để xây trường.

Năm 1999:[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 18/11/1999, trường sở hữu cơ sở đào tạo đầu tiên của mình: số 45 Nguyễn Khắc Nhu, P. Cô Giang, Q. 1, TP. Hồ Chí Minh.

Năm 2002:[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 19/01/2002, Hội Sinh viên trường Đại học Dân lập Văn Lang chính thức thành lập; ra mắt Ban Chấp hành lâm thời Hội Sinh viên trường.

Ngày 11/4/2002, động thổ xây khu nhà học tại Cơ sở 2 của trường.

Năm 2003:[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3/2003, Festival Sáng tạo Trẻ lần thứ nhất được tổ chức; do trường Đại học Dân lập Văn Lang khởi xướng và đăng cai tổ chức; với sự tham gia cùng của 3 trường bạn: Đại học Kiến trúc, Đại học Tôn Đức Thắng, Đại học Quốc tế Hồng Bàng.

Ngày 17/4/2003, nhà C gồm 7 tầng thuộc Cơ sở 2 của trường – 233A Phan Văn Trị, P. 11, Q. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh – được khánh thành.

Năm 2005:[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 9 – 10/4/2005, Festival Sáng tạo Trẻ lần thứ hai diễn ra ở Cơ sở 2 của trường; với sự tham gia cùng của 3 trường bạn: Đại học Kiến trúc, Đại học Hồng Bàng, Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

Mồng Mười tháng Ba năm Ất Dậu (17/4/2005), Lễ Kỷ niệm 10 năm thành lập trường Đại học Dân lập Văn Lang diễn ra tại Cơ sở 2 của trường. Trong dịp này, Nhà trường vinh dự nhận Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Năm 2007:[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 27 đến 12/4/2007, Festival Sáng tạo Sinh viên Văn Lang (tiền thân là Festival Sáng tạo Trẻ) được tổ chức tại Cơ sở 2 của trường; với sự tham gia của 7 trường: Đại học Dân lập Văn Lang, Đại học Kiến trúc, Đại học Tôn Đức Thắng, Đại học Dân lập Hồng Bàng, Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Cao đẳng Mỹ thuật và trang trí Đồng Nai, Viện Thời trang London – Hà Nội.

Năm 2008:[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2008, Quỹ Gia đình Văn Lang được vận động thành lập.

Năm 2009:[sửa | sửa mã nguồn]

Trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo kiểm định chất lượng giáo dục và đạt mức thấp nhất.

Năm 2010:[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 11/01/2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo ký quyết định số 177/QĐ-BGDĐT, phê duyệt Dự án Đào tạo Công nghệ Thông tin cho người khuyết tật do trường Đại học Dân lập Văn Lang và Tổ chức Catholic Relief Sevices (CRS, Mỹ) phối hợp thực hiện.

Năm 2012:[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Đại học Dân lập Văn Lang có tờ trình gửi Thủ tướng Chính phủ đề nghị về việc công nhận kết quả chuyển đổi loại hình trường dân lập sang tư thục của trường. Trường đã đặt mục tiêu đạt được mức kiểm định chất lượng đào tạo cao hơn vào năm 2015 nhưng sau đó không thành.

Năm 2015:[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Đại học Văn Lang chuyển đổi loại hình từ dân lập sang tư thục, theo Quyết định số 1755/QĐ-TTg. Đồng thời trường đặt lại mục tiêu đạt được mức kiểm định chất lượng giáo dục cao hơn vào năm 2020.[2]

Năm 2017:[sửa | sửa mã nguồn]

Trường ra mắt Tạp chí Đại học Văn Lang, chỉ số ISSN 25252429.

Cơ sở đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ sở 1[sửa | sửa mã nguồn]

Địa chỉ: 45 Nguyễn Khắc Nhu, Phường Cô Giang, Quận 1, TP. HCM

Là Văn phòng Hiệu bộ và các khoa: Công nghệ Thông tin, Kiến trúc - Xây dựng, Kỹ thuật Nhiệt Lạnh, Công nghệ Sinh học, Công nghệ & Quản lý Môi trường, Ngoại ngữ.

Cơ sở 2[sửa | sửa mã nguồn]

Địa chỉ: 233A Phan Văn Trị, Phường 11, Quận Bình Thạnh, TP. HCM

Gồm các khoa: Tài chính Ngân hàng, Kế toán Kiểm toán, Thương mại, Quản trị Kinh doanh, Du lịch, Mỹ thuật Công nghiệp, Quan hệ Công chúng và Truyền thông.

Cơ sở 3[sửa | sửa mã nguồn]

Địa chỉ: Phường 5, Quận Gò Vấp, TP. HCM

Được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định giao cho trường năm 1998.

Năm 2015, trường Đại học Văn Lang hoàn thành quá trình đền bù, giải tỏa và san lấp mặt bằng. Cũng trong năm này, UBND TP. HCM phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết; hoàn tất thủ tục xây dựng.

Ngày 24/02/2017, trường Đại học Văn Lang long trọng tổ chức Lễ Khởi công xây dựng Cơ sở 3. Dự kiến, khu trường mới sẽ được xây dựng trong khuôn viên rộng gần 6ha, có tổng vốn đầu tư khoảng 100 triệu đô la (chưa kể giá trị đất), thiết kế theo mô hình trường đại học xanh, hiện đại.

Cơ sở 4[sửa | sửa mã nguồn]

108C Thống Nhất, Phường 16, Quận Gò Vấp, TP. HCM. trường sở hữu cơ sở này từ năm 2011.

Ký túc xá[sửa | sửa mã nguồn]

Địa chỉ: 160/63A – 63B Đường Phan Huy Ích, Phường 12, Quận Gò Vấp, TP. HCM

Gồm 82 phòng, 600 chỗ ở.

Ngành đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay, trường Đại học Văn Lang có 15 khoa và đào tạo 02 ngành bậc sau đại học, 26 ngành bậc đại học, tổ chức thành 5 nhóm ngành:

  • Kỹ thuật – Công nghệ.
  • Kinh tế, Mỹ thuật ứng dụng.
  • Xã hội – Nhân văn, Sức khỏe.

Thạc sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kỹ thuật Môi trường,
  • Quản trị Kinh doanh,
  • Tài chính,
  • Kinh doanh thương mại,
  • Kiến trúc,
  • Quản lý môi trường và Công nghệ sinh học.

Cơ cấu tổ chức[3][sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng Quản trị[sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng Quản trị của trường ĐH Văn Lang nhiệm kỳ 2015 - 2020 gồm 12 thành viên[4]

1. Ông Bùi Quang Độ - Chủ tịch Hội đồng Quản trị

2. Ông Nguyễn Đắc Tâm - Phó Chủ tịch HĐQT

3. Ông Nguyễn Cao Trí - Phó Chủ tịch HĐQT

4. Ông Lê Ngọc Sơn - Ủy viên thường trực HĐQT

5. Ông Nguyễn Dũng - Ủy viên HĐQT

6. Ông Phạm Đình Phương - Ủy viên HĐQT

7. Ông Võ Văn Tuấn - Ủy viên HĐQT

8. Bà Nguyễn Thúy Bích - Ủy viên HĐQT

9. Ông Phạm Văn Lễ - Ủy viên HĐQT

10. Bà Trần Thị Mỹ Diệu - Ủy viên HĐQT

11. Ông Dương Trọng Dật - Ủy viên HĐQT

12. Ông Trương Văn Hùng - Ủy viên HĐQT

Ban Giám hiệu các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

TS. Phạm Khắc Chi, Hiệu trưởng đầu tiên (3/1995 - 8/1997)

PGS.TS. Lương Duyên Phu, Quyền Hiệu trưởng (8/1998 - 4/1999)

GS.TSKH Nguyễn Ngọc Cẩn, Hiệu trưởng (4/1999 - 9/2001)

TS. Nguyễn Dũng, Hiệu trưởng (9/2001 - 01/2016)

TS. Nguyễn Đắc Tâm, Quyền Hiệu trưởng (01/2016 - 9/2016)

PGS. TS. Trần Thị Mỹ Diệu, Hiệu trưởng (từ tháng 9/2016)

Khoa đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay, trường Đại học Văn Lang có 15 khoa và đào tạo 02 ngành bậc sau đại học, 26 ngành bậc đại học:

1. Khoa Công nghệ Thông tin (Faculty of Information Technology)

Ngành đào tạo: Kỹ thuật Phần mềm

2. Khoa Kỹ thuật Nhiệt – Lạnh (Faculty of Electro-Refrigeration Technology)

Ngành đào tạo: Kỹ thuật Nhiệt

3. Khoa Kiến trúc – Xây dựng (Faculty of Architecture & Construction)

Ngành đào tạo: (1) Kiến trúc, (2) Kỹ thuật Công trình Xây dựng

4. Khoa Công nghệ Sinh học (Faculty of Biological Technology)

Ngành đào tạo: Công nghệ Sinh học

5. Khoa Công nghệ và Quản lý Môi trường (Faculty of Enviromental Technology)

Ngành đào tạo: (1) Công nghệ Kỹ thuật Môi trường – bậc đại học; (2) Kỹ thuật Môi trường – bậc sau đại học

6. Khoa Du lịch (Faculty of Tourism)

Ngành đào tạo: (1) Quản trị Khách sạn; (2) Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành

7. Khoa Kế toán – Kiểm toán (Faculty of Accounting & Auditing)

Ngành đào tạo: Kế toán

8. Khoa Tài chính – Ngân hàng (Faculty of Finance Banking)

Ngành đào tạo: Tài chính Ngân hàng

9. Khoa Quản trị Kinh doanh (Faculty of Business Administration)

Ngành/chuyên ngành đào tạo: (1) Quản trị Kinh doanh; chuyên ngành Quản trị Hệ thống Thông tin - bậc đại học; (2) Quản trị Kinh doanh - bậc sau đại học

10. Khoa Thương mại (Faculty of Commerce)

Ngành đào tạo: Kinh doanh Thương mại (gồm 3 chuyên ngành: Marketing, Thương mại Quốc tế, Quản trị Hậu cần và chuỗi cung ứng)

11. Khoa Ngoại ngữ (Faculty of Foreign Languages)

Ngành đào tạo: Ngôn ngữ Anh

12. Khoa Quan hệ công chúng và Truyền thông (Faculty of Public Relation and Media Communication)

Ngành đào tạo: (1) Quan hệ công chúng, (2) Văn học (ứng dụng)

13. Khoa Mỹ thuật Công nghiệp (Faculty of Industrial Art)

Ngành đào tạo: (1) Thiết kế Đồ họa; (2) Thiết kế Thời trang; (3) Thiết kế Nội thất; (4) Thiết kế Công nghiệp – Tạo dáng

14. Khoa Khoa học cơ bản 15. Khoa Luật kinh tế

Tốt nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1995 đến 2016, trường có 35.421 Cử nhân, Kỹ sư và Kiến trúc sư, 55 Thạc sĩ, 3.600 cán bộ trung cấp đã tốt nghiệp, 589 học viên đã được đào tạo nghề nghiệp theo Dự án Đào tạo CNTT cho người khuyết tật do trường và tổ chức CRS/USAID phối hợp triển khai từ năm 2009 đến 2014.[5]

Theo nguồn thống kê từ Bộ GD&ĐT năm 2006, công suất đào tạo của trường Văn Lang bằng 12% tổng công suất đào tạo của toàn bộ các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập trên cả nước.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hai SV Văn Lang đoạt giải World Silver Medallion[6].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]