Trần Hữu Thung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Trần Hữu Thung

Công việcNhà thơ
Quốc tịchViệt Nam
Dân tộcKinh
Tư cách công dânViệt Nam
Giai đoạn sáng tác1944 - 1999
Thể loạiThơ
Chủ đềThơ, ký
Tác phẩm nổi bậtThăm lúa

Trần Hữu Thung (1923-1999) là một nhà thơ Việt Nam nổi tiếng với bài thơ Thăm lúa.

Thân thế sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Hữu Thung (1923-1999) sinh tại quê gốc Diễn Châu, Nghệ An. Tham gia Việt Minh từ 1944. Trong kháng chiến chống Pháp là cán sự văn hoá, cán bộ tuyên truyền thuộc Liên khu IV rồi phụ trách Chi hội văn nghệ liên khu. Làm thơ, viết ca dao nhiều từ dạo đó. Trần Hữu Thung có phong cách một nhà thơ dân gian. Thơ đối với ông, những ngày đầu cầm bút, chỉ là phương tiện công tác, ông viết để ca ngợi chiến công, phổ biến chủ trương chính sách, phản ánh đời sống người nông dân kháng chiến. Lời lẽ mộc mạc, tình cảm thật thà, phổ cập. Trần Hữu Thung không quan tâm lắm đến cái mà bây giờ ta gọi là trữ tình riêng tư. Ông không nói chuyện mình. Không vui buồn chuyện riêng. Đúng hơn, lòng ông vui buồn cùng vận nước, tình dân.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Việt Nam ly khúc (1944), thơ dài
  • Thăm lúa (1950), thơ
  • Dặn con (1955), tập thơ
  • Ngày thu ấy: Khúc ca Cách mạng tháng 8 (1957), trường ca
  • Tôi làm ca dao (1959), tiểu luận
  • Hai Tộ hò khoan (1961), thơ
  • Chị Nguyễn Thị Minh Khai (1961), truyện thơ
  • Gió Nam (1962), truyện thơ
  • Đồng tháng Tám (1965), tập thơ
  • Ký ức Vinh rực lửa (1969), truyện ký
  • Đất quê mình (1971), tập thơ
  • Tiếng chim đồng (1975), tập thơ
  • Ngày ấy bên sông Lam (1980) (kịch bản phim)
  • Anh vẫn hành quân (1983), tập thơ
  • Sen quê Bác (1985 - 1987), tập thơ
  • Ký ức đồng chiêm (1988), tập bút ký
  • Thơ vụn vặt (1996)
  • Hồi ức về săn bắn (1996), hồi kí
  • Ca dao về Bác Hồ (1998), tập thơ - ca dao

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]


Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Huy chương vàng, Giải thưởng thơ tại Liên hoan thanh niên thế giới năm 1953, "Thăm lúa"
  • Giải khuyến khích Giải thưởng văn nghệ 1951 - 1952 về thơ cho tác phẩm Hai Tộ hò khoan
  • Giải nhì Giải thưởng văn nghệ 1954 - 1955 về thơ cho 2 tập Đồng tháng TámDặn con

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]