Trận Tarawa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trận Tarawa là một trận đánh thuộc Chiến dịch quần đảo Gilbert và Marshall, mở màn bằng cuộc đổ bộ của hai Sư đoàn Thủy quân Lục chiến số 2 và 27 ngày 20 tháng 11 năm 1943, kết thúc sau 4 ngày giao tranh với việc toàn bộ quân Nhật phòng ngự trên đảo gần như bị xóa sổ. Nhưng cũng từ trận đánh này, các lực lượng Thủy quân Lục chiến đã có nhiều kinh nghiệm quý giá cho các chiến dịch sau này. Đây cũng là cuộc tấn công lớn đầu tiên của quân đội Hoa Kỳ vào vành đai phòng thủ của Đế quốc Nhật Bản.

Tuy nhiên, không như mong đợi của người Mỹ, quân Nhật được hỗ trợ bởi những lực lượng tinh nhuệ cũng như hệ thống phòng ngự vững chắc đã gây thương vong cao cho quân Mỹ, trận đánh có thể được xem là một trong những trận đánh chết chóc nhất trong giai đoạn 2 của Chiến tranh Thái Bình Dương.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Để thiết lập một loạt các căn cứ không quân có khả năng hoạt động và hỗ trợ qua trung tâm Thái Bình Dương, đến Phillippines và Nhật Bản, người Mỹ nhận thấy điểm khởi đầu tốt nhất là quần đảo Gilbert và Marshall, hai quần đảo này từng bị người Nhật xâm chiếm vào cuối năm 1918, đến giai đoạn đầu của Chiến tranh Thái Bình Dương, đây được xem là vị trí chiến lược để Hạm đội Liên hợp Nhật tấn công Hawaii hoặc cắt đứt tuyến đường tiếp tế từ Mỹ đến Úc. Trên hết, đảo san hô Makin và Tarawa đóng vai trò then chốt trong việc sửa chữa, bảo trì các loại máy bay ném bom hạng nặng có tầm bay đến 300 dặm. Vào mùa xuân năm 1943, chiến dịch Guadalcanal kết thúc, quân đội Mỹ giành thế chủ động chiến lược, quân Nhật chịu tổn thất nặng không thể bù đắp cả lục quân, hải quân và không quân. Hơn 25.000 lính Nhật chết nếu chỉ tính riêng lục quân, họ còn mất 800 máy bay cùng với số phi công dày dạn kinh nghiệm khiến không quân Nhật mất dần sức mạnh trên bầu trời cùng với 39 tàu các loại bị chìm. Trong khi đó, Sư đoàn Thủy quân Lục chiến số 1 sau chiến dịch đã hoàn toàn kiệt sức được đưa tới Melbourne để nghỉ ngơi, Sư đoàn 2 được chuyển về New Zealand để hồi sức và tái trang bị, những người bị thương, bị sốt rét hay mắc những bệnh khác trong các chiến dịch quần đảo Solomon được thay thế bằng những người lính trẻ tuổi, khỏe mạnh vừa mới gia nhập tòng quân.

Sự chuẩn bị của hai bên[sửa | sửa mã nguồn]

Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 20/7/1943, Bộ Tổng Tham mưu chỉ định Đô đốc Chetster Nimitz chuẩn bị các hoạt động tấn công trên quần đảo Gilbert, lực lượng Mỹ tiến đánh Tarawa dưới sự chỉ huy của Trung tướng Julian C. Smith là Sư đoàn Thủy quân Lục chiến số 2, Sư đoàn Bộ binh số 27, với tổng số 35.000 binh lính, lực lượng hỗ trợ cuộc đổ bộ gồm 17 hàng không mẫu hạm, 12 thiết giáp hạm, 12 tuần dương hạm các loại, 66 tàu khu trục và 36 tàu vận tải có nhiệm vụ bắn phá hàng phòng ngự của quân Nhật, đây là hạm đội lớn nhất, mạnh nhất của Hải quân Hoa Kỳ tham gia chiến tranh Thái Bình Dương.

Theo kế hoạch ban đầu của Bộ Tư lệnh, lúc 9 giờ sáng 20 tháng 11, 5.000 lính Mỹ thuộc ba tiểu đoàn thủy quân lục chiến sẽ đổ bộ vào các bãi biển Red 1, 2 và 3 sau đợt bắn phá của hải quân, tuy nhiên trước trận đánh quân Mỹ cũng mắc một số sai lầm, chẳng hạn như dự đoán sai số quân Nhật trú phòng trên đảo, trinh sát thì không phát hiện ra mực nước quá nông cho tàu đổ bộ cập bến, và không lường trước việc bắn phá của hải quân cũng không làm thiệt hại gì mấy đến hệ thống phòng ngự của quân Nhật. Những sai lầm này khiến cho quân Mỹ chịu thiệt hại nặng nề trong ngày đầu tiên của trận đánh.

Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Nằm khoảng 2.400 dặm về phía Tây Nam Trân Châu Cảng, Beito là hòn đảo lớn nhất trong một chuỗi các đảo san hô ở Tarawa, chỉ dài khoảng 2 dặm và rộng 800 m, Tarawa có một sân bay chạy dài từ Đông sang Tây cùng với một bến cảng để các tàu vận tải có thể tiếp tế qua khu vực. Sau cuộc oanh tạc đảo Makin tháng 8 năm 1942, Bộ Tư lệnh Nhật nhận thức được giá trị của quần đảo Gilbert, họ cũng biết trước sau thì quân Mỹ sẽ tấn công hòn đảo nên ra lệnh cho những đơn vị đặc nhiệm lên tăng cường hệ thống phòng ngự của đảo. Lực lượng Đổ bộ Đặc biệt số 6 Yokosuka được đưa tới Beito để củng cố vào tháng 2 năm 1943, Chuẩn Đô đốc Tomanari Saichiro, một kỹ sư giàu kinh nghiệm nhận lệnh chỉ đạo công việc xây dựng các công trình phòng thủ tinh vi trên đảo, mục tiêu của Saichiro trong sơ đồ phòng thủ của quân Nhật là ngăn chặn lực lượng tấn công của địch ở ngoài khơi hoặc kìm chặt chúng trên các bãi đổ bộ. Hơn 500 boongke, công sự và lô cốt được xây dựng bao bọc sân bay, các giao thông hào liên hoàn có nắp đậy chịu được đạn pháo giúp binh lính có thể rút lui về tuyến sau khi cần thiết, hoặc chiếm lại những vị trí đã mất, ngoài ra còn có một loạt 14 khẩu pháo hải quân 8-inch mua từ Hải quân Anh sau Chiến tranh Nga-Nhật trải dài xung quanh hòn đảo, người Nhật cho rằng những khẩu pháo này sẽ khiến cho quân Mỹ gặp nhiều khó khăn khi họ đổ bộ lên bờ.

Người Nhật làm việc không mệt mỏi trong gần một năm để củng cố đảo. Để hỗ trợ các đơn vị đồn trú trên đảo, 1.247 người của Lực lượng Lao động số 111, cùng với 970 người thuộc Tiểu đoàn Xây dựng số 4 của Hải quân Đế quốc được đưa vào, khoảng 1.200 người trong số này là lao động Hàn Quốc. Kể từ mùa xuân năm 1943, Lực lượng Phòng vệ Đặc biệt số 3 là đơn vị phòng thủ nòng cốt của Tarawa với quân số 1.112 người, họ được tăng cường bởi Lực lượng Đổ bộ Đặc biệt số 7 Sasebo, với 1.497 người, chỉ huy bởi Đại úy Takeo Sugai, đơn vị này được hỗ trợ thêm một tiểu đội xe tăng hạng nhẹ 14 chiếc, do Thiếu úy Ohtani chỉ huy. Các đơn vị đổ bộ đặc biệt, được tình báo Mỹ đánh giá là có kỉ luật tốt, nhiều kinh nghiệm và có nhuệ khí cao hơn các lực lượng khác trong quân đội Thiên Hoàng. Ngày 20 tháng 7 năm 1943, Chuẩn Đô đốc Keiji Shibazaki, một sĩ quan có nhiều kinh nghiệm từ chiến trường Trung Quốc, đã trấn an Saichiro rằng cuộc chiến sắp tới sẽ nổ ra như dự đoán, Shibazaki tiếp tục công tác chuẩn bị phòng thủ cho đến ngày đầu tiên Thủy quân Lục chiến Mỹ tấn công, ông tuyên truyền, khuyến khích những người lính của mình rằng ''Phải cần đến 1 triệu người trong 100 năm thì mới chiếm được Tarawa....''. Đến lúc này, trong tay Shibazaki có hơn 2.600 binh sĩ và 2.200 lao động sẵn sàng đón chờ cuộc tấn công của quân Mỹ.

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày thứ nhất, 20 tháng 11[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc 6 giờ sáng ngày 20, Hải quân Mỹ mở trận pháo kích khủng khiếp lên đầu quân phòng thủ, các thiết giáp hạm, tuần dương hạm và khu trục hạm đồng loạt nhả đạn, trong khi đó máy bay ném bom trên tàu sân bay cất cánh và oanh tạc hòn đảo. Ngay lập tức, bốn khẩu pháo 8-inch trên bờ bắn trả, trận đấu pháo đã khiến cho thiết giáp hạm Colorado và Maryland trúng đạn và hư hỏng, nhưng sau đó các khẩu pháo 16-inch trên tàu khai hỏa, bốn khẩu súng trên bờ biển đều bị phá hủy hoặc hỏng nặng, tuy vẫn còn một khẩu trong số đó vẫn hoạt động qua ngày thứ hai trước khi bị tiêu diệt.

Trong lúc trận bắn phá và oanh tạc hòn đảo diễn ra, hai xe quét mìn vượt qua lưới lửa đạn và loại bỏ các chướng ngại vật, mở đường cho thủy quân lục chiến tiến vào. Cuộc tấn công của quân Mỹ bắt đầu vào lúc 9 giờ, chậm hơn dự kiến 30 phút, hàng loạt các xe lội nước và tàu đổ bộ, mỗi chiếc chở 20 binh sĩ thủy quân lục chiến ồ ạt tiến vào, nhưng khi tiếp cận hòn đảo, họ nhận ra mức thủy triều không đủ cao để xe lội nước vượt qua những dãy đá san hô sắc như dao, điều đó khiến lái tàu phải dừng lại và thả lính Mỹ xuống vùng nước sâu 3 mét, từ đây thủy quân lục chiến Mỹ bắt đầu tản ra và tiến lên bờ. Quân Nhật nhanh chóng điều động quân từ các bãi biển Black 1 và 2 vốn không nằm trong kế hoạch tấn công lên tăng cường cho các bãi biển Red 1, 2 và 3.

Khi thủy quân lục chiến đổ bộ lên bờ, quân Nhật nấp trong các lô cốt hay trên các ngọn đồi san hô bắn vào quân Mỹ với những khẩu súng máy 20 ly, quân Mỹ bị bất ngờ vì trước đó họ cho rằng chỉ gặp sức kháng cự yếu ớt. Nhiều lính Mỹ cố gắng tiến lên giữa các rặng đá san hô trong khi đó trên bờ súng máy và súng bắn tỉa Nhật đua nhau lấy mạng từng người một, các khẩu pháo, súng cối của quân Nhật liên tiếp xả vào đoàn tàu đang chở lính Mỹ cập bờ, nhiều tàu đổ bộ và xe lội nước bị phá hủy, lính thủy quân lục chiến theo nhau bỏ mạng. Đến cuối ngày, hơn một nửa trong hơn 120 phương tiện đổ bộ đã bị loại khỏi vòng chiến.

Trước tình thế quân Mỹ đang bị mắc kẹt trên bờ biển, 2 xe tăng Stuart và 4 chiếc Sherman tiến vào bãi biển Red 2, tuy nhiên những chiếc xe tăng này rơi vào hố chứa mìn của quân Nhật và nổ tung, một số còn sống sót đều bị trọng pháo Nhật tiêu diệt hoặc vô hiệu hóa, chỉ có 1 chiếc trong đó thoát được. Tương tự, một trung đội đã cố đưa 4 xe tăng ra khỏi bãi Red 3, nhưng đến cuối ngày cũng chỉ còn 1 chiếc hoạt động do bị hỏa lực Nhật đánh chặn dữ dội.

Đến trưa cùng ngày, thủy quân lục chiến đã kiểm soát thành công các bãi đổ bộ và họ chỉ còn cách sân bay chừng vài chục mét. Tuy nhiên, không một đơn vị nào có thể tiến lên được do súng máy và súng cối Nhật liên tiếp xả vào họ, quân Mỹ buộc phải dừng lại củng cố, lấy bờ biển làm bàn đạp cho cuộc tấn công sắp tới.

Trong khi đó, ở phía Tây Nam của bãi Red 1, Đại đội trưởng - Thiếu tá Micheal P. Ryan đã tập hợp 200 lính Mỹ gồm đủ thành phần thủy thủ, công binh, vận tải và cả thủy quân lục chiến, cùng với 2 chiếc xe tăng duy nhất còn hoạt động mở cuộc tấn công thọc sâu vào bãi biển Xanh vốn được phòng ngự mỏng hơn, rồi từ đó tiến vào và vô hiệu hóa các công sự của quân Nhật trên hai bãi Black 1 và 2. Đơn vị chiến đấu này được biết đến với tên gọi "đội quân mồ côi".

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]