Tuyên bố chung Trung-Nhật

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tuyên bố chung Trung-Nhật
Tuyên bố chung Trung-Nhật
Tên tiếng Trung
Phồn thể 中華人民共和國政府與日本政府的聯合聲明
Giản thể 中华人民共和国政府与日本政府的联合声明
Tên tiếng Nhật
Kanji 日本国政府と中華人民共和国政府の共同声明
Kana にほんこくせいふと ちゅうかじんみんきょうわこくせいふの きょうどうせいめい

Tuyên bố chung Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Chính phủ nước Nhật Bản (tiếng Trung: 中华人民共和国政府和日本国政府联合声明, tiếng Nhật: 日本国政府と中華人民共和国政府の共同声明), gọi tắt là Tuyên bố chung Trung-Nhật, được chính phủ hai bên ký kết khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào ngày 29 tháng 9 năm 1972.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Quan hệ Trung-Xô vốn mật thiết trở nên xấu đi, dẫn đến bùng phát chiến tranh biên giới vào năm 1969, khiến cho an ninh của Trung Quốc chịu uy hiếp nghiêm trọng. Nhu cầu tìm kiếm đồng minh mới của Trung Quốc nhằm liên thủ chống Liên Xô trở nên cấp bách. Ở phương diện khác, một đồng minh của Mao Trạch Đông trong thời kỳ đầu cuộc Cách mạng văn hóaLâm Bưu vào năm 1971 có âm mưu phát động chính biến, tuy kết cục chính biến bất thành và ông này mất mạng trên đường đào thoát, sự kiện là cú đả kích nghiêm trọng đối với Mao. Tuy vậy, năng lực quốc gia của Trung Quốc sau 20 năm có bước phát triển mạnh. Vào tháng 10 năm 1971, Nghị quyết 2758 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc trao cho chính quyền Bắc Kinh vị thế đại diện của Trung Quốc trong tổ chức này. Sau đó, Canada cùng các quốc gia phương Tây khác bắt đầu lần lượt thừa nhận nước Cộng hòa Nhân dân (CHND) Trung Hoa. Tháng 2 năm 1972, Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon công du Trung Quốc, hai bên cùng ban hành Thông cáo Thượng Hải, sự kiện làm chấn động toàn thế giới thời bấy giờ.

Hai nhà lãnh đạo Trung Quốc Mao Trạch ĐôngChu Ân Lai
Thủ tướng Nhật Bản Tanaka Kakuei

Sau năm 1949, Nhật Bản lựa chọn chính sách "tách biệt chính trị – kinh tế" đối với Trung Quốc, tuy vậy cùng với việc giao lưu kinh tế, mậu dịch và văn hóa giữa hai quốc gia ngày càng mật thiết, lời kêu gọi Trung-Nhật khôi phục bang giao ngày càng lớn. Ảnh hưởng quốc tế ngày càng tăng của Trung Quốc không cho phép Nhật Bản thờ ơ, các động thái ngoại giao của Nixon và Henry Kissinger biểu thị chính sách đối với Trung Quốc của Nhật Bản buổi đương thời đã thất bại.[cần dẫn nguồn]

Năm 1972, trong cuộc bầu cử chủ tịch của Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản, quan hệ Nhật-Trung trở thành một trong các nghị đề trọng yếu nhất, Tanaka Kakuei hứa trong quá trình tranh cử rằng, sau khi đắc cử ông sẽ thực hiện bình thường hóa bang giao Nhật-Trung. Kết quả tuyển cử: Tanaka đánh bại đối thủ lớn là Fukuda Takeo đương thời thuộc phái thân Đài Loan. Tháng 7 cùng năm, sau khi Tanaka nhậm thức Thủ tướng Nhật Bản, ông tán thành sự nhận thức về "ba nguyên tắc khôi phục bang giao" do Chính phủ Trung Quốc đặt ra (nội dung là thừa nhận CHND Trung Hoa là chính phủ hợp pháp duy nhất, nhận thức và tôn trọng chủ trương Đài Loan là bộ phận không thể chia cắt của CHND Trung Hoa, và phế bỏ "Hòa ước Trung-Nhật" ký năm 1952), và Chính phủ Trung Quốc có phản ứng tích cực với động thái này.[1] Ngày 25 tháng 9 cùng năm, Tanaka cùng Bộ trưởng Bộ ngoại giao Ōhira Masayoshi và Chánh văn phòng Nội các Nikaido Susumu công du Trung Quốc, hội kiến Chủ tịch nước Trung Quốc Mao Trạch Đông, Thủ tướng Chu Ân Lai và Bộ trưởng Ngoại giao Cơ Bằng Phi, thương thảo về vấn đề hai quốc gia kiến lập bang giao, ra thông cáo chung và các vấn đề khác. Sáng ngày 29 tháng 9, đại biểu hai quốc gia tại đại sảnh đông của Đại lễ đường Nhân dân Bắc Kinh cử hành nghi thức ký kết "Thông cáo chung Trung-Nhật", những người đặt bút ký bên phía Nhật Bản là Tanaka Kakuei và Ohira Masayoshi, còn bên phía Trung Quốc là Chu Ân Lai và Cơ Bằng Phi.[2][liên kết hỏng]

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Người ký

  • Phía Nhật Bản
Thủ tướng: Tanaka Kakuei
Bộ trưởng Ngoại giao: Ohira Masayoshi
  • Phía Trung Quốc
Thủ tướng: Chu Ân Lai
Bộ trưởng Ngoại giao: Cơ Bằng Phi

Nội dung chủ yếu của tuyên bố chung là nhấn mạnh tình hữu nghị lâu dài giữa Trung Quốc và Nhật Bản, kết thúc trạng thái không bình thường giữa hai quốc gia (trạng thái chiến tranh), Nhật Bản thừa nhận trách nhiệm gây tổn hại to lớn cho người dân Trung Quốc trong Chiến tranh Trung-Nhật.

Tám nội dung chủ yếu là

  1. Trung-Nhật kết thúc quan hệ không bình thường;
  2. Nhật Bản thừa nhận Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là chính phủ hợp pháp duy nhất của Trung Quốc (gián tiếp phủ nhận Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc — Đài Loan);
  3. Chính phủ Trung Quốc tái xác nhận: Đài Loan là một bộ phận không thể phân chia của lãnh thổ Trung Quốc. Chính phủ Nhật Bản hoàn toàn nhận thức và tôn trọng lập trường này của Chính phủ Trung Quốc, đồng thời cũng kiên trì lập trường tuân theo điều 8 trong Tuyên bố Potsdam.
  4. Thiết lập bang giao Trung-Nhật.
  5. Chính phủ Trung Quốc tuyên bố: Vì hữu hảo của nhân dân hai nước Trung-Nhật, từ bỏ yêu cầu Nhật Bản bồi thường chiến tranh;
  6. Hai nước Trung-Nhật dựa trên cơ sở 5 nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình thiết lập quan hệ hữu hảo hòa bình lâu dài, dùng phương thức hòa bình giải quyết toàn bộ tranh chấp;
  7. Phản đối chủ nghĩa bá quyền;
  8. Tiến hành lấy ký kết điều ước hòa bình hữu hảo làm mục đích đàm phán.

Tuyên bố bổ sung[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 29 tháng 9 năm 1972, sau khi cùng ký kết Tuyên bố chung Trung-Nhật, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản liền tiến hành phát biểu bổ sung: Do kết quả bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và Nhật Bản, tuyên bố "Hòa ước Trung-Nhật" do Trung Hoa Dân Quốc và Nhật Bản ký kết năm 1952 mất ý nghĩa tồn tại nên tuyên cáo kết thúc, phía Trung Quốc đồng ý Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản sử dụng hình thức phát biểu đàm thoại để tuyên cáo điều ước này kết thúc, cần phải xem Hòa ước Trung-Nhật là phi pháp, vô hiệu, phải bãi bỏ (một trong ba nguyên tắc khôi phục quan hệ) thì mới có tuyên bố chung.[3][4][5][6][7][8][9][10].

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Việc ký kết Tuyên bố chung Trung-Nhật đã kết thúc nhiều năm quan hệ lạnh nhạt sau Thế chiến II giữa hai nước, từ đó quan hệ hai nước và giao lưu song phương phát triển sôi nổi. Trung Quốc và Nhật Bản lập quan hệ hòa bình hữu hảo cũng là tiến triển quan trọng đối với hòa bình tại châu Á. Xét theo tình hình đương thời, sự kiện Trung-Nhật lập bang giao khiến cho chiến lược hướng Viễn Đông của Liên Xô bị chậm lại, an ninh của Trung Quốc và Nhật Bản đều được cải thiện; Nhật Bản và Trung Quốc lập bang giao cũng khiến cho thêm nhiều quốc gia thừa nhận chính quyền Bắc Kinh, số quốc gia lập bang giao với Trung Quốc tăng vọt. Nội các Tanaka xúc tiến thành công bình thường hóa bang giao Nhật-Trung khiến họ được ủng hộ cao hơn nữa trong nước, tuy nhiên điều này nhanh chóng bị mất đi trong khủng hoảng dầu mỏ vào năm sau.

Chính phủ Trung Quốc chấp thuận từ bỏ yêu cầu Nhật Bản bồi thường chiến tranh, khiến bình thường hóa quan hệ ngoại giao Trung-Nhật hoàn thành thuận lợi. Do đương thời Chính phủ Nhật Bản suy xét rằng nếu Chính phủ Trung Quốc đề xuất bồi thường chiến tranh với con số khổng lồ, tất sẽ là cú đánh mạnh vào kinh tế Nhật Bản, nên chẳng thà hoãn khôi phục bang giao. Tuy nhiên, đối với vấn đề này giữa hai bên vẫn còn khác biệt, Nhật Bản nhận định Chính phủ Trung Quốc chấp thuận từ bỏ bồi thường chiến tranh, bao gồm cả yêu cầu bồi thường của chính phủ và dân chúng, tuy nhiên Chính phủ Trung Quốc kiên trì rằng đó chỉ là từ bỏ yêu cầu bồi thường của chính phủ, không ảnh hưởng đến yêu cầu bồi thường của dân chúng. Sự khác biệt này thể hiện rõ trong vụ án tố tụng của lao công Trung Quốc đối với Công ty Xây dựng Nishimatsu vào năm năm 2007.[11]

Tuy nhiên, Tuyên bố chung Trung-Nhật không phải là văn kiện có tính pháp luật chính thức của hai quốc gia, chỉ là tuyên bố chung của lãnh đạo chính phủ hai bên. Đến năm 1978, hai bên ký kết "Hiệp ước hòa bình hữu hảo Trung-Nhật", nguyên tắc trong Tuyên bố chung Trung-Nhật mới xác lập tính pháp lý.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 《中日联合声明》实现邦交正常化
  2. ^ 六天访华达成《中日联合声明》
  3. ^ 姬鹏飞 (ngày 26 tháng 9 năm 1993). “饮水不忘掘井人——回忆周总理对中日建交的贡献”. 《人民日报》1993年9月26日. 北京: 人民日报社 人民网. 「周总理说:要建交,如同大平外相所说,就要同蒋介石断交,日华(台)条约就自然失效。如果把旧金山和约、日台条约都拿来作根据,问题是无法解决的。我们说只有在你们充分理解我们提出的复交三原则的基础上,才能照顾你们面临的一些困难,而不是相反。日台条约在于你们同台湾之间,但这个事实是当时的美蒋关系造成的。这次在公报中可以不提这个字眼。但不能让我们承认这个条约的存在和合法。不然就等于中国是从今天才算接受中华人民共和国的统治。这是我们根本不能接受的。」
  4. ^ 张香山. “中日复交谈判回顾”. 摘自《日本研究》 一九九八年第一期. 北京: 中国互联网新闻中心. 「在第四次首脑小范围会谈中,总理谈到明天发表建交联合声明之后,大平外相根据田中首相的指示,准备对记者发表一次讲话,声明日本政府将跟台湾断绝外交关系,对此我们表示欢迎。这证明你们这次来是守信的,这是我们两国和平友好的良好开端。我们重建邦交,首先要讲信义。中国同外国交往,是守信义的。中日两国有古老的文化关系。中国有句古话说“言必信,行必果”。你们这次表现了这个精神。接着田中首相也回答了一句说:“信为万事之本”。」
  5. ^ 孙大力. “周恩来开拓中日友好事业的宝贵启示”. 中国共产党新闻网. 北京: 人民网. 
  6. ^ 徐行 (ngày 20 tháng 7 năm 2010). “1972年9月中日政府首脑建交谈判述略”. 来源:《党的文献》2010年第4期(总第136期). 北京: 新华网. 
  7. ^ 王效贤 (ngày 27 tháng 9 năm 2007). “在“纪念中日邦交正常化35周年座谈会”上的发言”. 中国人民抗日战争纪念馆网站. 北京: 中国人民抗日战争纪念馆 . 
  8. ^ 深度报道. “中日建交”. 新民晚报日本版 株式会社爱华 (日本 东京). 
  9. ^ 刘江永 (2012年9月). “不惑之年的中日关系:深层次问题凸显”. 原载 《世界知识》 2012年第18期. 北京: 环球视野编辑部 .  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)「关于废除“日台条约”问题,前言中写明日本方面重申站在充分理解中方提出的 “复交三原则”的立场上,谋求实现日中邦交正常化这一见解。为减少日方国内阻力,中方不再要求把“中日合约”是非法的、无效的、必须废除(复交三原则之一)这一条单独写入声明,而同意采用日本外相发表谈话的形式宣告该条约的结束。田中角荣还就此给周总理写下“信乃万事之本”。」
  10. ^ 中央社 (ngày 29 tháng 9 năm 2012). “中日建交40年 風雨不斷”. 新聞速報. 台北: 旺旺中時媒體集團. 
  11. ^ 日本曲解《中日联合声明》 中国政府"被迫"出手

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]