Vương quốc Nam Tư

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vương quốc của người Serb, Croat và Slovene (1918–1929)
Vương quốc Nam Tư (1929–1945)
Kraljevina Srba, Hrvata i Slovenaca
Kraljevina Jugoslavija

 

 

1918–1945
Quốc kỳ Quốc huy
Khẩu hiệu
"Jedan narod, jedan kralj, jedna država"  (Latin)
Један народ, један краљ, једна држава  (Kirin)
"Một nhà nước, một vị vua, một quốc gia"
Quốc ca
Quốc ca Vương quốc Nam Tư
Vị trí và lãnh thổ của Vương quốc Nam Tư ở châu Âu trong những năm 1930
Thủ đô Belgrade
Ngôn ngữ Ngôn ngữ chính thức:
Serbia-Croatia - Slovene[1]a
Chính quyền Quân chủ lập hiến (1918–1929, 1934–1945)
Quân chủ chuyên chế (1929–1934)
Vua
 •  1918–1921 Petar I
 •  1921–1934 Aleksandar I
 •  1934–1945 Petar IIb
Nhiếp chính
 •  1918–1921 Hoàng tử Alexander
 •  1934–1941 Hoàng tử Paul
Thủ tướng
 •  1918–1919 (đầu tiên) Stojan Protić
 •  1945 (cuối cùng) Josip Broz Tito
Lập pháp Quốc hội
 •  Thượng viện Thượng viện
 •  Hạ viện Hạ nghị viện
Giai đoạn lịch sử Giữa 2 Thế chiến · Đệ Nhị Thế chiến
 •  Thành lập Ngày 1 tháng 12 năm 1918
 •  Hiến pháp Vidovdan Ngày 28 tháng 6 năm 1921
 •  Chế độ độc tài Ngày 6 tháng 1 năm 1929
 •  Phe Trục xâm lược Ngày 6 tháng 4 năm 1941
 •  Liên bang Nam Tư Ngày 4 tháng 12 năm 1943
 •  Hiệp ước Vis Ngày 2 tháng 11 năm 1945
 •  Xóa bỏ chế độ quân chủ Ngày 29 tháng 11 năm 1945
Diện tích
 •  1918 247.542 km² (95.577 sq mi)
Dân số
 •  1918 (ước tính) 12.017.323 
      Mật độ 48,5 /km²  (125,7 /sq mi)
 •  1931 (ước tính) 13.934.038 
      Mật độ 56,3 /km²  (145,8 /sq mi)
Tiền tệ Krone Nam Tư (1918–1920)
dinar Nam Tư (1920–1945)
Hiện nay là một phần của  Bosnia và Herzegovina
 Croatia
 Kosovoc
 Macedonia
 Montenegro
 Serbia
 Slovenia
a. Được tuyên bố trong cả hai bản hiến pháp (1921 và 1931), srpsko-hrvatsko-slovenački cũng được dịch là Serbo-Croato-Slovene hay Serbocroatoslovenian, dù Serbia-Croatia và Slovene là những ngôn ngữ riêng biệt.[2][3]
b. Peter II, khi đó vẫn chưa đủ tuổi, được tuyên bố là đã trưởng thành bởi những người tham gia đảo chính quân sự. Không lâu sau khi ông chính thức nắm quyền, Nam Tư bị phe Trục chiếm đóng và vị vua trẻ bị lưu đày. Năm 1944, ông chấp nhận sự thành lập của Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư, cùng với vị trí là nguyên thủ quốc gia tạm thời. Ông bị phế truất bởi quốc hội Nam Tư vào năm 1945.
c. Kosovo đang là khu vực tranh chấp giữa Cộng hòa Serbia và nước Cộng hòa Kosovo, tự tuyên bố độc lập vào ngày 17 tháng 2 năm 2008, trong khi Serbia tuyên bố nó là một phần lãnh thổ của mình. Kosovo được 91/193 thành viên Liên Hiệp Quốc công nhận.

Vương quốc Nam Tư (tiếng Serbia-CroatiaSlovene: Kraljevina Jugoslavija, chữ Kirin: Краљевина Југославија) là một quốc gia trải dài từ Tây Balkan đến Trung Âu, và tồn tại trong thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến năm 1918–1941.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà nước này được thành lập năm 1918 bằng việc kết hợp quốc gia lâm thời Nhà nước Slovene, Croat và Serb, từ lãnh thổ của Đế quốc Áo-Hung cũ, với Vương quốc Serbia độc lập. Vương quốc Montenegro sát nhập với Serbia chỉ năm ngày sau đó, trong khi các khu vực Kosovo, VojvodinaMacedonia đã là một phần của Serbia trước khi sát nhập. Trong 11 năm đầu tồn tại, quốc gia này có tên chính thức là Vương quốc Serb, Croat và Slovene, nhưng cái tên Nam Tư là tên thường được gọi từ khi thành lập. Ngày 17 tháng 4 năm 1941, Nam Tư bị Đức quốc xã chiếm đóng và được tái cấu trúc thành bốn tỉnh nằm dưới sự cai quản của ngoại quốc; một chính phủ lưu vong hoàng gia, được Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland công nhận và sau là tất cả các cường quốc thuộc khối Đồng Minh, đã được thành lập ở Luân Đôn. Năm 1943, một đất nước mới mang tên Liên bang Dân chủ Nam Tư tuyên bố thành lập, và thủ đô của nó được giải phóng sau Cuộc phản công Beograd. Vua của nước này bị chính thức phế truất bởi hội đồng Hiến pháp vào ngày 29 tháng 11 năm 1945.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Busch, Birgitta; Kelly-Holmes, Helen (2004). Language, Discourse and Borders in the Yugoslav Successor States. Multilingual Matters. tr. 26. ISBN 978-1-85359-732-9. 
  2. ^ Alexander, Ronelle (2013). “Language and Identity: The Fate of Serbo-Croatian”. Trong Daskalov, Rumen; Marinov, Tchavdar. Entangled Histories of the Balkans: Volume One: National Ideologies and Language Policies. Koninklijke Brill NV. tr. 371. ISBN 978-90-04-25076-5. Now, however, the official language of the new state, the Kingdom of Serbs, Croats, and Slovenes, bore the unwieldy name Serbo-Croato-Slovene (srpsko-hrvatsko-slovenački). 
  3. ^ Wojciechowski, Sebastian; Burszta, Wojciech J.; Kamusella, Tomasz (2006). Nationalisms across the globe: an overview of nationalisms in state-endowed and stateless nations 2. School of Humanities and Journalism. tr. 79. ISBN 978-83-87653-46-0. Similarly, the 1921 Constitution declared Serbocroatoslovenian as the official and national language of the Kingdom of Serbs, Croats, and Slovenians.