Xã hội nguyên thủy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Xã hội nguyên thủy (hay còn gọi là công xã thị tộc) là giai đoạn đầu tiên và dài nhất trong lịch sử phát triển của loài người, từ khi có con người xuất hiện trên trái đất đến khi xã hội phân chia thành các giai cấp và xuất hiện nhà nước.

Xã hội nguyên thủy phát triển kế thừa lối sống xã hội bầy đàn của linh trưởng tổ tiên, và thể hiện gần gũi nhất hiện có hai loài là tinh tinhbonobochâu Phi. Xã hội nguyên thủy cũng kết thúc khác nhau ở các vùng và dân tộc khác nhau. Nhiều dân tộc ở châu PhiNam Mỹ đã có lối sống không thay đổi trong chục nghìn năm qua, và họ như là bảo tàng sống của loài người về thời nguyên thủy, như người Hadza [1][2], San [3][4],...

Thị tộc và bộ lạc[sửa | sửa mã nguồn]

Người tinh khôn với số lượng nhất định, đã biết tổ chức thành thị tộc là những nhóm người gồm vài chục gia đình, có quan hệ họ hàng, gần gũi với nhau, thậm chí do cùng một bà mẹ đẻ ra (hay gọi là có quan hệ huyết thống với nhau), sống quây quần cùng làm chung ăn chung [5].

Người tinh khôn sống chủ yếu nhờ hái lượm và săn bắt các con thú. Hình thức săn bắt bấy giờ là săn đuổi, tức là dùng số đông người bây vây lấy bầy động vật, dồn cho chúng lao xuống vực, sau đó mới ném đá, phóng lao xuống cho chúng chết hẳn. Vì vậy, những công việc như thế, luôn đòi hỏi sự phối hợp ăn ý với nhau.[5]

Trong nội bộ thị tộc, người ta không phân biệt đâu là của anh và đâu là của tôi. Nói cách khác, trong thị tộc không có sở hữu tư nhân, nhưng có sở hữu của thị tộc. Mỗi thị tộc chiếm cứ một khu vực xác định, tức lãnh thổ của thị tộc [5]. Sự phát triển không đều của các thị tộc, gồm có hoặc phát triển lên và phân chia ra các thị tộc mới, hoặc tàn lụi do bệnh tật hay tai biến, dẫn đến lãnh thổ có thể thay đổi.

Buổi đầu của thời đại kim khí[sửa | sửa mã nguồn]

Việc phát hiện ra kim loại để làm công cụ lao động có ý nghĩa hết sức to lớn. Trước kia con người chỉ biết sử dụng đá để làm công cụ. Cho tới khoảng 4000 năm TCN, con người đã phát hiện ra đồng nguyên chất. Đồng nguyên chất rất mềm, nên chủ yếu dùng làm đồ trang sức. Sau đó họ biết pha đồng với thiếcchì cho đồng cứng hơn, gọi là đồng thau. Từ đó, người ta đã đúc ra được các loại rìu, cuốc, thương giáo, lao, mũi tên, trống đồng,v.v...[5]. Khoảng 3000 năm trước đây, cư dân ở Tây ÁNam Âu là những người đầu tiên biết đúc và dùng đồ sắt để làm lưỡi cày, cuốc, liềm, kiếm, dao găm,v.v...

Nhờ có công cụ kim khí, con người có thể khai phá đất hoang tăng, tăng năng suất lao động, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều, không chỉ đủ ăn mà còn dư thừa...

Xã hội nguyên thủy tan rã[sửa | sửa mã nguồn]

Do có công cụ lao động mới, một số người có khả năng lao động giỏi hơn, hoặc lợi dụng vị trí hay uy tín của mình để chiếm đoạt một phần của cải dư thừa của người khác và trở nên giàu có, còn một số người khác lại khổ cực thiếu thốn. Xã hội phân hóa thành người giàu-người nghèo.[5]

Chế độ "làm chung, ăn chung, hưởng chung" ở thời kì công xã thị tộc bị phá vỡ. Xã hội nguyên thủy dẫn tan rã, nhường chỗ cho xã hội có giai cấp đầu tiên - xã hội cổ đại

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Marlowe, F. W. (2010). The Hadza: Hunter-Gatherers of Tanzania. Berkeley: Univ. California Press. ISBN 978-0-520-25342-1.
  2. ^ Ndagala, D. K.; Zengu, N. (1994). “From the raw to the cooked: Hadzabe perceptions of their past”. Trong Robert Layton. Who needs the past?: indigenous values and archaeology. London: Routledge. tr. 51–56. ISBN 0415095581. 
  3. ^ Barnard, Alan (2007). Anthropology and the Bushman. Oxford: Berg. tr. 4–7. ISBN 9781847883308. 
  4. ^ “Who are the San? – San Map (Click on the image to enlarge)”. WIMSA. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2017. 
  5. ^ a ă â b c Lịch sử 6 (Sách Giáo viên). Nhà xuất bản Giáo dục. 2002. 

2. Lương Ninh, Lịch sử thế giới cổ đại, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2002

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]