Homo habilis

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Homo habilis
Khoảng thời gian tồn tại: 2.3–1.65 triệu năm trước đây
220px
Phục dựng hộp sọ KNM-ER 1813 tại Naturmuseum Senckenberg, Đức
Phân loại khoa học edit
Giới: Animalia
Ngành: Chordata
Lớp: Mammalia
Bộ: Primates
Phân bộ: Haplorhini
Thứ bộ: Simiiformes
Họ: Hominidae
Phân họ: Homininae
Tông: Hominini
Chi: Homo
Loài:
H. habilis
Danh pháp hai phần
Homo habilis
Leakey et al., 1964
Các đồng nghĩa[1]

Homo habilis (phiên âm tiếng Việt: Hômô habilit; dịch nghĩa: Người khéo léo; Hán-Việt: Xảo nhân) là một loài người cổ xưa đã tuyệt chủng từng sinh sống ở Đông và Nam Phi vào thế Canh Tân sớm từ khoảng 2,31 - 1,65 triệu năm trước (mya). Sau khi được mô tả khoa học vào năm 1964, tính chính đáng của H. habilis bị tranh cãi nảy lửa do một số nhà khảo cổ cho rằng nó đồng nghĩa với Australopithecus africanus, một loài hominin khác mới được biết đến vào thời điểm đó, song tới nay đã nhận được sự công nhận chính thức. Vào những năm 1980, H. habilis được cho là tổ tiên trực hệ của loài người, sau này đã tiến hóa thành Homo erectus và phái sinh loài người hiện đại; tuy vậy quan điểm này giờ đang bị đặt trong vòng nghi vấn. Nhiều mẫu được cho là H. habilis vẫn còn khá mơ hồ và cũng có nhiều đề xuất tách chúng thành các loài riêng biệt, cụ thể thành hai loài "H. rudolfensis" và "H. gautengensis", trong đó chỉ có H. rudolfensis nhận được sự ủng hộ rộng rãi.

Giống như chi Homo đương thời, thể tích não H. habilis dao động trong khoảng từ 500–900 cm3 (31–55 in khối). Kích thước cơ thể H. habilis mới được biết chỉ từ 2 bộ xương rất phân mảnh và phần lớn dựa trên giả định rằng giải phẫu của chúng tương tự với các australopithecine tiền thân. Do đó một số nhà khảo cổ đề xuất nên gộp H. habilis vào chi Australopithecus và đổi danh pháp thành Australopithecus habilis. Mẫu vật nữ mang số hiệu OH 62 được ước tính có chiều cao tầm 100–120 cm (3 ft 3 in–3 ft 11 in) và cân nặng tầm 20–37 kg (44–82 lb) nếu lấy australopithecine làm chuẩn, nhưng nếu giả thiết tỷ lệ cơ thể giống người thì ước tính chiều cao sẽ vào khoảng 148 cm (4 ft 10 in) và cân nặng vào khoảng 35 kg (77 lb). Dẫu vậy tương tự như australopithecine, H. habilis có vẻ vẫn sống trên cây một phần. Các hominin sơ khai thường được phục dựng với bộ lông dày và lưỡng hình đực cái rõ rệt, nhưng phải lưu ý rằng những điều này chưa có căn cứ vững vàng.

H. habilis là chủ nhân của kỹ nghệ đồ đá Oldowan, họ sử dụng công cụ chủ yếu để mổ xẻ xác thịt tìm được. So với australopithecine, chi Homo sơ khai tiêu thụ rất nhiều thịt. Về tập tính xã hội ở H. habilis, các chi tiết còn mang nặng tính phỏng đoán và thiếu thốn bằng chứng. H. habilis cùng tồn tại với nhiều loài vượn nhân khác như H. rudolfensis, H. ergaster/H. erectusParanthropus boisei.

Phân loại học[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Hộp sọ phục dựng của mẫu KNM-ER 1813

Những di cốt được công nhận đầu tiên của H. habilis mang số hiệu OH 7, bao gồm một phần xương sọ, bàn tay và bàn chân độ tuổi vị thành niên có niên đại 1,75 triệu năm trước (mya). Các mẫu vật đó được Jonathan Leakey phát hiện trong Hẻm núi Olduvai, Tanzania vào năm 1960. Tuy nhiên, di cốt đầu tiên thu được đáng ra phải là chiếc răng hàm OH 4, được phát hiện bởi trợ lý cấp cao của vợ chồng nhà Leakey (cha mẹ của Jonathan Leakey) tên là Heselon Mukiri vào năm 1959, nhưng bấy giờ họ không nhận ra chiếc răng đó thuộc về H. habilis.[2] Vào khoảng thời gian đó, gia đình Leakey đã dành tổng cộng 29 năm miệt mài tìm kiếm hài cốt của các hominin sơ khai tại hẻm núi Olduvai, nhưng thay vào đó họ chỉ phát hiện nhiều hài cốt động vật và khám phá ra kỹ nghệ đồ đá Oldowan. Vào năm 1959, họ cho rằng chủ nhân của kỹ nghệ Oldowan là loài vượn nhân Paranthropus boisei (hồi đó có danh pháp là "Zinjanthropus"), nhưng sau khi mẫu OH 7 được phát hiện thì nhận định đó đã được đính chính.[2] Năm 1964, Louis Leakey cùng nhà cổ sinh người Nam Phi Phillip V. Tobias và nhà linh trưởng học người Anh John R. Napier chính thức xếp di cốt trên vào chi Homo với danh pháp H. habilis theo khuyến nghị của nhà nhân học người Úc Raymond Dart, cái tên mà trong tiếng Latinh nghĩa là "người khéo léo".[3] Mối liên hệ của mẫu OH 7 với kỹ nghệ Oldowan (được coi là bằng chứng về khả năng nhận thức tiên tiến) được sử dụng để biện giải cho việc xếp nó vào chi Homo.[4] Mẫu OH 7 sau được phê chuẩn là mẫu định danh của loài.[3]

Sau khi được mô tả học thuật, giới khoa học đã tranh luận nảy lửa rằng liệu H. habilis có nên được tái phân loại với loài Australopithecus africanus hay không (loài hominin sơ khai duy nhất khác được biết vào thời điểm đó), một phần bởi vì những di cốt đó rất cổ và bấy giờ thì thuyết Homo tiến hóa ở châu Á đang rất thịnh hành. Hơn nữa nếu xét theo tiêu chí chi Homo của Wilfrid Le Gros Clark đề xuất vào năm 1955 thì hộp sọ của mẫu còn quá bé.[2][5] Tính chính đáng H. habilis dần được chấp nhận rộng rãi sau nhiều cuộc khai quật khảo cổ khiến các bằng chứng mới lộ diện.[2] Năm 1983, Tobias cho rằng A. africanus chính là tổ tiên trực hệ của ParanthropusHomo (hai đơn vị phân loại chị em), và rằng A. africanus đã tiến hóa thành H. habilis, rồi tiến hóa tiếp thành H. erectus và cuối cùng tiến hóa thành người hiện đại (ở đây đề cập đến kiểu tiến hóa tách nhánh). Ông nhận định rằng sự phát triển từ A. africanus sang H. habilis là một bước nhảy vọt, và ngay sau đó quá trình tiến hóa loài người đã diễn ra dần dần do kích thước bộ não H. habilis tăng gần gấp đôi so với tổ tiên australopithecine.[6]

Mô hình tiến hóa loài người theo Tobias, 1983[6]

Nhiều nhà cổ sinh chấp nhận mô hình tiến hóa của Tobias và gán các di tích hominin trong khoảng Thượng Tân muộn tới Canh Tân sớm cho H. habilis ngoại trừ chi ParanthropusH. erectus. Cách phân loại này tuy vậy chỉ dựa trên đặc điểm sọ, khiến cho các nhà khảo cổ không có căn cứ phân loại khi tìm thấy các di cốt ngoài hộp sọ.[7] Rốt cuộc thì quá nhiều mẫu vật khác biệt nhau bị gom vào cùng một đơn vị phân loại, vậy nên giới khảo cổ đã đề ra các thuật ngữ H. habilis sensu precisiono ("nghĩa hẹp") và H. habilis sensu lato ("nghĩa rộng") để phân định các hình thái nội loài đó. Vào năm 1985, nhà cổ sinh người Anh Bernard Wood cho rằng hộp sọ lớn KNM-ER 1470 phát hiện vào năm 1972 tại Hồ Turkana, Kenya, thực sự là một loài khác chứ không phải H. habilis như bấy giờ tưởng;[8] hiện nay mẫu này được chỉ định danh pháp Homo rudolfensis. Cũng có ý kiến cho rằng hộp sọ này lớn như vậy bởi nó thuộc về giống đực, còn các mẫu H. habilis khác giống cái.[9] Những Homo sơ khai phát hiện ở Nam Phi thường bị các nhà khoa học hú họa xếp vào H. habilis hoặc H. ergaster/H. erectus. Năm 2010, nhà khảo cổ người Úc Darren Curoe đề xuất tách các Homo sơ khai ở Nam Phi thành loài "Homo gautengensis".[10]

Năm 1986, hài cốt phân mảnh số hiệu OH 62 cùng với các mảnh sọ H. habilis được phát hiện bởi nhà nhân học người Mỹ Tim D. White, đánh dấu lần đầu tiên các khía cạnh bộ xương H. habilis được xác lập, cho thấy chúng trông giống Australopithecus hơn là Homo.[7] Cộng thêm các đặc điểm nha khoa tương đồng với Australopithecus, Wood và nhà nhân sinh học Mark Collard vào năm 1999 đề nghị chuyển loài này sang chi Australopithecus.[11][12][13][14] Tuy nhiên, tái kiểm định mẫu OH 62 vào năm 2004 phản biện lại luận điểm trên.[15] Việc phát hiện hộp sọ 1,8 triệu năm tuổi mang tên người Gruzia Dmanisi vào đầu những năm 2000 (thể hiện một số điểm tương đồng với chi Homo sơ khai) đã dẫn đến suy đoán cho rằng các Homo sơ kỳ ở châu Phi, bao gồm cả H. habilisH. rudolfensis, là cùng một loài và nên được gán cho H. erectus.[16][17]

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Homo habilis

Homo rudolfensis

Homo ergaster

Homo erectus

Homo antecessor

Homo heidelbergensis

Homo neanderthalensis

Homo sapiens

Cây phát sinh chi Homo biểu thị H. habilisH. rudolfensis đã rẽ nhánh sớm khỏi dòng người hiện đại[18]

Vẫn chưa có sự đồng thuận rộng rãi về việc liệu H. habilis có phải là tổ tiên của H. ergaster/H. erectus hay chúng đơn thuần chỉ là một nhánh tách của dòng người,[19] và liệu rằng tất cả các mẫu vật được gán mác H. habilis đã chính xác hay chưa.[20] Song các nhà khoa học đều đống ý H. habilisH. rudolfensis nằm gần gốc cây tiến hóa Homo.[21]

Mặc dù hiện nay phần lớn cho rằng chi Homo tiến hóa từ chi Australopithecus, thời gian và vị trí của sự phân tách này vẫn gây nhiều tranh cãi. Việc phát hiện ra LD 350-1, mẫu vật Homo cổ nhất với niên đại 2,8 mya ở Vùng Afar của Ethiopia có lẽ chỉ ra rằng chi này đã tiến hóa từ A. afarensis vào khoảng thời gian đó. Mẫu LD 350-1 có lẽ là H. habilis song không chắc chắn.[22] Mẫu H. habilis cổ nhất được công nhận là mẫu A.L. 666-1 với niên đại 2,3 mya, nhưng nó sở hữu nhiều đặc điểm giải phẫu tân tiến hơn khi so với mẫu OH 7 gần đây, ngụ ý rằng hình thái nguyên bản (basal) và phái sinh (derived) tồn tại đồng thời và dòng dõi H. habilis xuất hiện trước thời điểm 2,3 mya.[23] Dựa trên các công cụ đá 2,1 triệu năm tuổi từ Thượng Trần tại Trung Quốc, H. habilis hoặc một loài tổ tiên dường như đã thiên di khắp châu Á.[24] Mẫu H. habilis trẻ nhất là OH 13, có niên đại tầm 1,65 mya.[23]

Dòng thời gian Tông Người châu Phi (trục hoành: triệu năm trước)
Xem chú thích
Người Tinh KhônHomo nalediHomo rhodesiensisHomo ergasterAustralopithecus sedibaParanthropus robustusParanthropus boiseiHomo rudolfensisHomo habilisAustralopithecus garhiParanthropus aethiopicusLD 350-1Australopithecus bahrelghazaliKenyanthropusAustralopithecus deyiremedaAustralopithecus africanusAustralopithecus afarensisAustralopithecus anamensisArdipithecus ramidusArdipithecus kadabba


Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Trích dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Antón, S. C. (2012). “Early Homo: Who, When, and Where”. Current Anthropology. 53 (6): 279. doi:10.1086/667695. S2CID 84830570.
  2. ^ a b c d Tobias, P. V. (2006). “Homo habilis—A Premature Discovery: Remembered by One of Its Founding Fathers, 42 Years Later”. The First Humans – Origin and Early Evolution of the Genus Homo. Vertebrate Paleobiology and Paleoanthropology. Springer, Dordrecht. tr. 7–15. doi:10.1007/978-1-4020-9980-9_2. ISBN 978-1-4020-9980-9.
  3. ^ a b Leakey, L.; Tobias, P. V.; Napier, J. R. (1964). “A New Species of the Genus Homo from Olduvai Gorge” (PDF). Nature. 202 (4927): 7–9. Bibcode:1964Natur.202....7L. doi:10.1038/202007a0. PMID 14166722. S2CID 12836722.
  4. ^ de la Torre, I. (2011). “The origins of stone tool technology in Africa: a historical perspective”. Philosophical Transactions of the Royal Society B. 366 (1567): 1028–1037. doi:10.1098/rstb.2010.0350. PMC 3049100. PMID 21357225.
  5. ^ Wood, B.; Richmond, B. G. (2000). “Human evolution: taxonomy and paleobiology”. Journal of Anatomy. 197: 39–41. doi:10.1046/j.1469-7580.2000.19710019.x. PMC 1468107. PMID 10999270.
  6. ^ a b Tobias, P. V. (1983). “Hominid evolution in Africa” (PDF). Canadian Journal of Anthropology. 3 (2): 163–183.
  7. ^ a b Johanson, D. C.; Masao, F.; Eck, G. G.; White, T. D.; và đồng nghiệp (1987). “New partial skeleton of Homo habilis from Olduvai Gorge, Tanzania”. Nature. 327 (6119): 205–209. Bibcode:1987Natur.327..205J. doi:10.1038/327205a0. PMID 3106831. S2CID 4321698.
  8. ^ Wood, B. (1985). “Early Homo in Kenya, systematic relationships”. Trong Delson, E. (biên tập). Ancestors: The hard evidence. Alan R. Liss. ISBN 978-0-8451-0249-7.
  9. ^ Wood, B. (1999). “Homo rudolfensis Alexeev, 1986: Fact or phantom?”. Journal of Human Evolution. 36 (1): 115–118. doi:10.1006/jhev.1998.0246. PMID 9924136.
  10. ^ Curnoe, D. (2010). “A review of early Homo in southern Africa focusing on cranial, mandibular and dental remains, with the description of a new species (Homo gautengensis sp. nov.)”. HOMO: Journal of Comparative Human Biology. 61 (3): 151–177. doi:10.1016/j.jchb.2010.04.002. PMID 20466364.
  11. ^ Wood, B.; Collard, M. (1999). “The Human Genus” (PDF). Science. 284 (5411): 65–71. Bibcode:1999Sci...284...65.. doi:10.1126/science.284.5411.65. PMID 10102822. S2CID 7018418. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2020.
  12. ^ Miller J. M. A. (2000). “Craniofacial variation in Homo habilis: an analysis of the evidence for multiple species”. American Journal of Physical Anthropology. 112 (1): 103–128. doi:10.1002/(SICI)1096-8644(200005)112:1<103::AID-AJPA10>3.0.CO;2-6. PMID 10766947.
  13. ^ Tobias, P. V. (1991). “The species Homo habilis: example of a premature discovery”. Annales Zoologici Fennici. 28 (3–4): 371–380. JSTOR 23735461.
  14. ^ Collard, Mark; Wood, Bernard (2015). “Defining the Genus Homo”. Handbook of Paleoanthropology. tr. 2107–2144. doi:10.1007/978-3-642-39979-4_51. ISBN 978-3-642-39978-7.
  15. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Haeusler2004
  16. ^ Margvelashvili, A.; Zollikofer, C. P. E.; Lordkipanidze, D.; Peltomäki, T.; Ponce de León, M. S. (2013). “Tooth wear and dentoalveolar remodeling are key factors of morphological variation in the Dmanisi mandibles”. Proceedings of the National Academy of Sciences (bằng tiếng Anh). 110 (43): 17278–83. Bibcode:2013PNAS..11017278M. doi:10.1073/pnas.1316052110. ISSN 0027-8424. PMC 3808665. PMID 24101504.
  17. ^ Lordkipanidze, D.; Ponce de León, M. S.; Margvelashvili, A.; Rak, Y.; Rightmire, G. P.; Vekua, A.; Zollikofer, C. P. E. (2013). “A Complete Skull from Dmanisi, Georgia, and the Evolutionary Biology of Early Homo”. Science (bằng tiếng Anh). 342 (6156): 326–331. Bibcode:2013Sci...342..326L. doi:10.1126/science.1238484. ISSN 0036-8075. PMID 24136960. S2CID 20435482.
  18. ^ Strait, D.; Grine, F.; Fleagle, J. G. (2015). “Analyzing Hominin Phylogeny: Cladistic Approach” (PDF). Trong Henke, W.; Tattersall, I. (biên tập). Handbook of Paleoanthropology (ấn bản 2). Springer. tr. 2006. doi:10.1007/978-3-642-39979-4_58. ISBN 978-3-642-39979-4.
  19. ^ Tattersall, I. (2019). “Classification and phylogeny in human evolution”. Ludus Vitalis. 9 (15): 139–140.
  20. ^ Tattersall, I.; Schwartz, J. H. (2001). Extinct Humans. Basic Books. tr. 111. ISBN 978-0-8133-3918-4.
  21. ^ Strait, D.; Grine, F. E.; Fleagle, J. G. (2014). “Analyzing Hominin Phylogeny: Cladistic Approach”. Handbook of Paleoanthropology (ấn bản 2). Springer. tr. 2005–2006. ISBN 978-3-642-39979-4.
  22. ^ Villmoare, B.; Kimbel, W. H.; Seyoum, C.; và đồng nghiệp (2015). “Early Homo at 2.8 Ma from Ledi-Geraru, Afar, Ethiopia”. Science. 347 (6228): 1352–1355. Bibcode:2015Sci...347.1352V. doi:10.1126/science.aaa1343. PMID 25739410.
  23. ^ a b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Spoor2015
  24. ^ Zhu, Z.; Dennell, R.; Huang, W.; Wu, Y.; Qiu, S.; Yang, S.; Rao, Z.; Hou, Y.; Xie, J.; Han, J.; Ouyang, T. (2018). “Hominin occupation of the Chinese Loess Plateau since about 2.1 million years ago”. Nature. 559 (7715): 608–612. Bibcode:2018Natur.559..608Z. doi:10.1038/s41586-018-0299-4. PMID 29995848. S2CID 49670311.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]