Homo naledi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Homo naledi
Khoảng thời gian tồn tại:
Canh Tân trung
0.335–0.236 triệu năm trước đây[1]

220px
737 mảnh xương thuộc loài H. naledi
Phân loại khoa học edit
Giới: Animalia
Ngành: Chordata
Lớp: Mammalia
Bộ: Primates
Phân bộ: Haplorhini
Thứ bộ: Simiiformes
Họ: Hominidae
Phân họ: Homininae
Tông: Hominini
Chi: Homo
Loài:
H. naledi
Danh pháp hai phần
Homo naledi
Berger et al., 2015
220px
Vị trí hang động Rising Star tại khu khảo cổ Cái nôi của nhân loại, Nam Phi

Homo naledi là một loài người cổ xưa được phát hiện vào năm 2013 trong hang động Rising Star thuộc khu khảo cổ Cái nôi của loài người, Nam Phi, có niên đại về thời Canh Tân giữa khoảng 335.000–236.000 năm trước. Khám phá ban đầu bao gồm 1.550 mẫu vật, đại diện cho 737 yếu tố xương cốt khác nhau của ít nhất 15 cá thể. Tuy số lượng mẫu được phát hiện rất cao, song vị trí của chủng người này trong chi Homo vẫn chưa sáng tỏ.

Ngoài những điểm tương đồng với nhiều chi Homo đương thời, họ còn lưu tồn một số đặc điểm từ tổ tiên Australopithecus và các chi Homo sơ khai (hiện tượng này còn có tên là tiến hóa khảm). Đặc điểm điển hình của họ là dung tích sọ nhỏ chỉ vào khoảng 465–610 cm3 so với 1.270–1.330 cm3 ở người hiện đại. Chiều cao trung bình của họ là 143,6 cm (4 ft 9 in); cân nặng trung bình là 39,7 kg (88 lb). Ước tính chỉ số hình thành não bộ ở người Naledi là 4,5 song giải phẫu não khá giống với người hiện đại, do đó, mức độ phức tạp tư duy của họ rất có thể ngang bằng người hiện đại. Khám phá về loài người não nhỏ sống cùng thời với các loài người não lớn đã khiến giới khoa học phải thay đổi quan niệm truyền thống rằng bộ não lớn đem lại lợi thế tiến hóa cao, và các đặc điểm trộn lẫn của chủng người mới này đã chỉ ra rằng chi Homo cũng rất đa dạng về mặt giải phẫu.

Giải phẫu học chỉ ra rằng H. naledi có khả năng di chuyển đường dài với sải chân và dáng đi giống người, song còn có thể di chuyển trên tán cây điêu luyện hơn các Homo khác. Ngoài ra xương của họ thích nghi tốt hơn cho hành vi leo trèo và sống trên cây hơn là chạy bền. Giải phẫu nha khoa cho thấy họ tiêu thụ thức ăn cứng phủ bởi nhiều hạt sạn như bụi hoặc đất. Mặc dù ta chưa tìm thấy bằng chứng về công cụ bằng đá hoặc bất kỳ dấu hiệu nào của văn hóa vật chất liên quan đến chủng người này, họ dường như đủ khéo léo để sản xuất và cầm nắm công cụ, và do vậy họ có khả năng chế tạo các kỹ nghệ thời kỳ đá giữa. Có giả thuyết cho rằng số di cốt trong hang động là bằng chứng của hành vi táng tục ở H. naledi, và rằng họ đã được đưa vào đó theo chủ đích.

Phát hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ hang động Rising Star đánh dấu vị trí Buồng Dinaledi màu vàng và Buồng Lesedi màu đỏ

Vào ngày 13 tháng 9 năm 2013 trong khi khám phá hệ thống hang Rising Star tại Cái nôi của nhân loại, hai nhà thám hiểm Rick Hunter và Steven Tucker phát hiện hóa thạch hominin ở dưới cùng của Buồng Dinaledi (Dinaledi Chamber).[2] Vào ngày 24, họ quay trở lại hang để chụp hình, rồi ngày 1 tháng 10 gửi ảnh cho các nhà cổ sinh vật học Nam Phi là Pedro BoshoffLee Rogers Berger.[2] Berger tập hợp một đoàn khai quật bao gồm cả Hunter và Tucker, với biệt danh là "Những phi hành gia dưới lòng đất" (Underground Astronauts).[3]

Buồng hang đã được khám phá ít nhất một lần kể từ những năm 1990. Những người vào hang trước đó đã làm xáo trộn một số xương cốt và có lẽ đã làm tổn hại đến chúng, song phần lớn sàn hang không có dấu vết đi lại trước năm 2013.[4] Buồng Dinaledi nằm cách lối vào hang chính khoảng 80 m (260 ft) dưới đáy của một vách đá thẳng đứng 12 m (39 ft), và có hành lang chính dài 10 m (33 ft) rộng 25–50 cm (10 in–1 ft 8 in) ở điểm hẹp nhất.[4] Tổng cộng, hơn 1.550 mảnh xương của ít nhất 15 cá thể (9 chưa trưởng thành và 6 trưởng thành[5]) được thu thập từ lớp trầm tích giàu đất sét. Berger và các đồng nghiệp công bố thành quả nghiên cứu của họ vào năm 2015.[6]

Các hóa thạch đại diện cho 737 yếu tố giải phẫu - bao gồm các mảnh hộp sọ, hàm, sườn, răng, chân tay và xương tai trong - từ các cá nhân già, trưởng thành, chưa trưởng thành và sơ sinh. Ngoài ra một số yếu tố liền khớp hoặc gần như liền khớp vẫn còn tồn tại, bao gồm một hộp sọ gắn với xương hàm, cùng bàn tay và bàn chân gần như hoàn chỉnh.[6][4] Với số lượng cá thể lớn đủ cả hai giới và đủ các lứa tuổi, đây được coi là bộ sưu tập hóa thạch hominin phong phú nhất từng được phát hiện tại châu Phi. Ngoài bộ sưu tập tại Sima de los Huesos và các mẫu người Neanderthal và người hiện đại sau này, đây là bộ sưu tập toàn diện nhất về mặt giải phẫu qua nhiều độ tuổi và từ nhiều cá thể, trong số các bản ghi hóa thạch hominin từ trước đến nay.[6]

Mẫu định danh DH1 bao gồm một phần mái sọ, một phần hàm trên và xương hàm gần như hoàn chỉnh của một nam giới. Các cận mẫu, từ DH2 đến DH5, đều bao gồm các mảnh mái sọ. Berger và các đồng nghiệp đặt danh pháp mới là Homo naledi, sở dĩ vì nadeli trong tiếng Sotho nghĩa là "ngôi sao" và nơi khai quật có tên là Hang Rising Star (Hang Sao Mọc).[6]

John Hawks và các đồng nghiệp báo cáo thêm di cốt của ít nhất 3 cá thể (2 người lớn và 1 trẻ em) tại Buồng Lesedi trong cùng hang động vào năm 2017.[7]

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2017, các nhà khoa học định tuổi 3 cái răng di cốt bằng phương pháp cộng hưởng spin điện tử (ESR) và phân rã uranium-thorium (U-Th); họ cũng định tuổi lớp trầm tích quanh nơi hài cốt nguyên trạng được tìm thấy bằng phương pháp U-Th và cổ địa từ; kết quả là chủng người nadeli đã sống cách đây 335.000–236.000 năm thuộc giai đoạn Canh Tân trung.[1] Giới chuyên gia trước đó cho rằng các hài cốt kia có niên đại 1~2 triệu năm[6][8][9][3] bởi vì không ai ngờ rằng tồn tại một loài hominin não nhỏ ở châu Phi với niên đại gần hiện tại như vậy.[10] Phát hiện này đã khiến ta phải chỉnh đốn quan điểm trước đây về sự tiến hóa loài người rằng một bộ não lớn nhất thiết phải có một lợi thế tiến hóa.[10] Giải phẫu hỗn độn của chủng người này đã mở rộng đáng kể hình thái khả dĩ ở chi Homo.[11]

H. naledi được cho là đã rẽ nhánh rất sớm khỏi các dòng Homo cùng thời. Không rõ thời điểm phân tách có trùng với nhánh H. habilis, H. rudolfensis, và A. sediba hay không; những chủng người mà thuộc nhóm phân loại chị em của H. erectus và các Homo não lớn cùng thời; hoặc, cũng có thể, họ là nhóm phân loại chị em so với các hậu duệ của H. heidelbergensis (tổ tiên chung cuối cùng của người hiện đại và người Neanderthal). Điều này có nghĩa là H. naledi tách khỏi dòng Homo bấy giờ muộn nhất vào khoảng 900.000 năm trước, và sớm nhất có lẽ vào khoảng thế Thượng Tân. Cũng có khả năng tổ tiên của họ phát sinh sau một sự kiện giao phối giữa Homo và các australopithecine hậu kỳ.[10] Cấu trúc hộp sọ của H. naledi rất giống với sọ của H. erectus.[11]

Không rõ những cá thể H. naledi được tìm thấy tại buồng Naledi là một quần thể sống biệt lập nội khu Cái nôi của loài người, hay họ sống rải rác khắp châu Phi. Nếu phạm vi sinh sống của họ thật sự lớn như vậy, thì một số hóa thạch hominin mảnh khảnh ở châu Phi, trước đây được cho là H. erectus hậu kỳ, nhiều khả năng là các mẫu vật đại diện cho H. naledi.[12]

So sánh hộp sọ H. naledi với những loài Homo não nhỏ khác: H. habilis, H. erectus georgicus, và H. floresiensis.

Giải phẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Hộp sọ[sửa | sửa mã nguồn]

Hộp sọ mã LES1 nhìn từ bốn phía

Hai hộp sọ nam giới H. naledi từ buồng Dinaledi có thể tích tầm 560 cm3 (34 in khối), và hai hộp sọ nữ giới có thể tích tầm 465 cm3 (28,4 in khối). Thể tích một hộp sọ nam giới H. naledi từ buồng Lesedi là 610 cm3 (37 in khối). Thể tích sọ các mẫu vật tại Buồng Dinaledi rất gần với australopithecine; để đối chiếu, thể tích sọ H. erectus trung bình vào khoảng 900 cm3 (55 in khối)[7] và thể tích sọ người hiện đại, lần lượt đối với nam và nữ, trung bình vào khoảng 1.270 và 1.130 cm3 (78 và 69 in khối).[13] Trái lại, thể tích sọ của mẫu vật tại Buồng Lesedi lại giống với H. habilisH. e. georgicus hơn. Chỉ số hình thành não bộ (encephalization quotient) của H. naledi được ước tính đạt mức 3,75; tức ngang bằng H. floresiensis song thấp hơn mọi loài Homo khác. Chỉ số hình thành não bộ của các Homo đương thời đều trên 6, riêng H. e. georgicus đạt 3,55 và A. africanus đạt 3,81.[14] Không rõ đặc điểm não nhỏ đây được lưu tồn từ tổ tiên chung cuối cùng của chi Homo với H. naledi, hay đây đơn thuần là sự tiến hóa thứ cấp diễn ra sau sự phân tách.[15]

Dẫu vậy, hình dạng hộp sọ vẫn mang các đặc điểm của Homo, chẳng hạn: nó khá thon, có các thùy thái dương/thùy chẩm, và không hẹp lại sau hốc mắt.[6][15] Hình thái thùy trán giống ít nhiều một bộ não Homo điển hình bất kể kích thước, khác hẳn với chi Australopithecus. Vùng này của não bộ liên quan đến khả năng sản xuất công cụ, phát triển ngôn ngữ và tập tính xã hội.[15]

Giống với người hiện đại nhưng khác những hominin hóa thạch (bao gồm các australopithecine Nam Phi, H. erectus và người Neanderthal), răng hàm thứ 2 vĩnh viễn của người Nadeli mọc tương đối muộn hơn trong đời. Nó mọc cùng thời điểm với răng tiền hàm thay vì mọc trước đó, điều này cho thấy họ trưởng thành chậm hơn đáng kể so với người hiện đại.[16] Tốc độ hình thành răng cửa khá giống người hiện đại.[17] Kích thước và hình dạng tổng thể của răng hàm tương đồng với ba mẫu vật Homo chưa xác định loài tại SwartkransĐộng Koobi Fora ở Đông Phi, và kích thước tương tự (hình dạng không tương tự) với H. sapiens thế Canh Tân. Cổ răng hàm tương tự theo tỉ lệ với A. afarensisParanthropus.[18] Không giống như người hiện đại và các Homo đương thời, H. naledi thiếu một số đặc điểm răng phụ trợ và có tần suất xuất hiện cao các cá thể biểu hiện các núm răng, cụ thể là metacone (đường giữa phía lưỡi) và hypocone (bên phải phía môi) ở răng hàm thứ 2 và thứ 3, và một núm hình chữ Y (đường gờ ở bên môi về phía má) trên cả 3 răng hàm. Tuy nhiên, H. naledi vẫn sở hữu nhiều điểm tương đồng nha khoa với các Homo đương thời.[19]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b Dirks, P.H.G.M.; Roberts, E.M.; Hilbert-Wolf, H.; Kramers, J.D.; Hawks, J.; và đồng nghiệp (2017). “The age of Homo naledi and associated sediments in the Rising Star Cave, South Africa”. eLife. 6: e24231. doi:10.7554/eLife.24231. PMC 5423772. PMID 28483040.
  2. ^ a b Tucker, Steven (13 tháng 11 năm 2013). “Rising Star Expedition”. Speleological Exploration Club. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2015.
  3. ^ a b Hawks, J.D. (2016). “The Latest on Homo naledi. American Scientist. 104 (4): 198. doi:10.1511/2016.121.198. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2017.
  4. ^ a b c Dirks, P.H.G.M.; Berger, L.R.; Roberts, E.M.; và đồng nghiệp (2015). “Geological and taphonomic context for the new hominin species Homo naledi from the Dinaledi Chamber, South Africa”. eLife. 4: e09561. doi:10.7554/eLife.09561. ISSN 2050-084X. PMC 4559842. PMID 26354289.
  5. ^ Bolter, D.R.; Hawks, J.; Bogin, B.; Cameron, N. (2018). “Palaeodemographics of individuals in Dinaledi Chamber using dental remains”. South African Journal of Science. Pretoria, ZA. 114 (1/2). doi:10.17159/sajs.2018/20170066.
  6. ^ a b c d e f Berger, L.R.; và đồng nghiệp (2015). Homo naledi, a new species of the genus Homo from the Dinaledi Chamber, South Africa”. eLife. 4. doi:10.7554/eLife.09560. PMC 4559886. PMID 26354291.
  7. ^ a b Hawks, J.D.; Elliott, M.; Schmid, P.; Churchill, S.E.; de Ruiter, D.J.; Roberts, E.M. (2017). “New fossil remains of Homo naledi from the Lesedi Chamber, South Africa”. eLife. 6: e24232. doi:10.7554/eLife.24232. PMC 5423776. PMID 28483039.
  8. ^ Dembo, M.; Radovčić, D.; Garvin, H.M.; Laird, M.F.; Schroeder, L.; Scott, J.E.; Brophy, J.; Ackermann, R.R.; Musiba, C.M. (2016). “The evolutionary relationships and age of Homo naledi: An assessment using dated Bayesian phylogenetic methods”. Journal of Human Evolution. 97: 17–26. doi:10.1016/j.jhevol.2016.04.008. hdl:2164/8796. PMID 27457542.
  9. ^ Thackeray, J.F. (2015). “Estimating the age and affinities of Homo naledi. South African Journal of Science. 111 (11/12). doi:10.17159/sajs.2015/a0124. ISSN 1996-7489.
  10. ^ a b c Berger, L.R.; Hawks, J.D.; Dirks, P.H.G.M.; Elliott, M.; Roberts, E.M. (2017). Homo naledi and Pleistocene hominin evolution in subequatorial Africa”. eLife. 6. doi:10.7554/eLife.24234. PMC 5423770. PMID 28483041.
  11. ^ a b Schroeder, L.; Scott, J.E.; Garvin, H.M.; Laird, M.F.; và đồng nghiệp (2017). “Skull diversity in the Homo lineage and the relative position of Homo naledi”. Journal of Human Evolution. 104: 124–135. doi:10.1016/j.jhevol.2016.09.014. PMID 27836166.
  12. ^ Stringer, C. (2015). “The many mysteries of Homo naledi. eLife. 4: e10627. doi:10.7554/eLife.10627. ISSN 2050-084X. PMC 4559885. PMID 26354290.
  13. ^ Allen, J. S.; Damasio, H.; Grabowski, T. J. (2002). “Normal neuroanatomical variation in the human brain: an MRI-volumetric study”. American Journal of Physical Anthropology. 118 (4): 341–358. doi:10.1002/ajpa.10092. PMID 12124914. S2CID 21705705.
  14. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Elliot2017
  15. ^ a b c Hollowaya, R. L.; Hurstb, S. D.; Garvin, H. M.; Schoenemann, P. T.; Vanti, W. B.; Berger, L. R.; Hawks, J. (2018). “Endocast morphology of Homo naledi from the Dinaledi Chamber, South Africa”. Proceedings of the National Academy of Sciences. 115 (22): 5738–5743. doi:10.1073/pnas.1720842115. PMC 5984505. PMID 29760068.
  16. ^ Cofran, Zhongtao; Skinner, M. M.; Walker, C.S. (2016). “Dental development and life history in Homo naledi. American Journal of Physical Anthropology. 159: 3–346. doi:10.1098/rsbl.2017.0339. PMC 5582112. PMID 26914367.
  17. ^ Gautelli-Steinberg, D.; O'Hara, M. C.; Le Cabec, A.; và đồng nghiệp (2018). “Patterns of lateral enamel growth in Homo naledi as assessed through perikymata distribution and number” (PDF). Journal of Human Evolution. 121: 40–54. doi:10.1016/j.jhevol.2018.03.007. PMID 29709292. S2CID 14006736.
  18. ^ Kupczik, K.; Delezene, L. K.; Skinner, M. M. (2019). “Mandibular molar root and pulp cavity morphology in Homo naledi and other Plio-Pleistocene hominins” (PDF). Journal of Human Evolution. 130: 83–95. doi:10.1016/j.jhevol.2019.03.007. PMID 31010546. S2CID 109058795.
  19. ^ Irish, J. D.; Bailey, S. E.; Guatelli-Steinberg, D.; Delezene, L. K.; Berger, L. R. (2018). “Ancient teeth, phenetic affinities, and African hominins: Another look at where Homo naledi fits in” (PDF). Journal of Human Evolution. 122: 108–123. doi:10.1016/j.jhevol.2018.05.007. PMID 29887210.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]