Người Denisova

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cửa hang Denisova, nơi tìm thấy các mẫu vật Denisova gốc
Răng hàm mã hiệu Denisova 4

Người Denisova là một loài hoặc một phân loài của người cổ xưa từng sinh sống trên hầu khắp châu Á vào thời sơ kỳ tới trung kỳ đá cũ. Bởi vì di cốt của chủng người này rất hiếm, hầu hết những gì ta biết về họ đều là nhờ các phương pháp di truyền học. Tới nay, các nhà khoa học chưa tìm được mẫu vật nào đủ hoàn chỉnh để tiến hành mô tả học thuật, do vậy loài người này chưa được đặt danh pháp khoa học chính thức.

Các nhà khoa học lần đầu tiên xác định một cá thể Denisova vào năm 2010, dựa trên ADN ty thể (mtDNA) chiết xuất từ ​​xương ngón tay của một nữ giới vị thành niên phát hiện tại hang Denisova trên dãy Altay, Siberia vào năm 2008.[1] Phân tích ADN hạt nhân cho thấy người nữ kia có quan hệ huyết thống với chủng người Neanderthal. Hang động này có dấu tích cư trú của người Neanderthal song chưa rõ liệu họ và người Denisova từng chung sống với nhau hay không. Sau đó, nhiều mẫu vật Denisova mới tiếp tục được phát hiện tại hang Denisova và hang vôi Bạch Thạch Nhai trên Cao nguyên Tây Tạng ở Trung Quốc. Bằng chứng ADN chỉ ra màu da, màu tóc và màu mắt của người Denisova đều rất sẫm, đồng thời hình thể và khuôn mặt của họ có lẽ trông rất giống người Neanderthal. Tuy vậy, những chiếc răng hàm của họ rất lớn và trông gần giống răng của những loài người thuộc khoảng Canh Tân trung đến muộn và các vượn nhân phương Nam.

Người Denisova dường như đã lai tạp với người hiện đại, điều mà có thể thấy rõ nhất (khoảng 5%) trong bộ gen của thổ dân Melanesia, thổ dân Úcdân tộc Negrito Philippines. Sự phân bố gen chứng tỏ người Denisova đã lan rộng khắp Á-Âu, Philippines, tới New Guinea và/hoặc Úc song ta chưa thể xác nhận điều này. Quá trình xâm nhập gen Denisova vào gen người hiện đại có lẽ xảy ra cách đây 30.000 năm ở New Guinea, mà nếu chính xác có thể chỉ ra rằng họ vẫn sống sót cho đến khoảng 14.500 năm trước. Hơn nữa, ta có bằng chứng về sự giao phối của họ với quần thể người Neanderthal tại Altay, với khoảng 17% bộ gen Denisova từ Hang Denisova bắt nguồn từ đó. Mẫu vật con lai thế hệ đầu tiên biệt danh "Denny" có cha là một người Denisova còn mẹ là một người Neanderthal. Ngoài ra 4% bộ gen Denisova bắt nguồn từ một loài người cổ xưa chưa xác định đã tách khỏi dòng dõi người hiện đại vào khoảng 1 triệu năm trước.

Phân loại học[sửa | sửa mã nguồn]

Người Denisova có lẽ là một loài Homo mới hoặc một phân loài cổ xưa của Homo sapiens (người hiện đại về mặt giải phẫu, hay ngắn gọn là người hiện đại), nhưng vấn đề ở đây là số di cốt của người Denisova còn rất hiếm nên ta chưa thể xác định vị trí chính xác của họ trên cây tiến hóa loài người. Các danh pháp khoa học được đề xuất bao gồm H. densova[2]H. altaiensis.[3]

Lược sử nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Hang Denisova nằm về phía nam trung tâm Siberia, Nga, trên dãy núi Altai gần ngã ba biên giới Kazakhstan, Trung Quốc và Mông Cổ. Cái hang này được đặt theo tên của ẩn sĩ người Nga Dyonisiy từng sống ở đó vào thế kỷ 18. Hang Denisova được nhà cổ sinh vật học người Nga Nikolai Ovodov khám phá lần đầu tiên vào những năm 1970.[4]

Năm 2008, Michael Shunkov của Viện Hàn lâm Khoa học Nga và các nhà khảo cổ từ Viện Khảo cổ học và Dân tộc học thuộc Chi nhánh Siberia của Viện Hàn lâm Khoa học Nga đặt trụ sở tại Novosibirsk Akademgorodok đã tổ chức một cuộc điều tra thực địa hang động và tìm thấy xương ngón tay của một nữ hominin vị thành niên có niên đại cách đây 50–30.000 năm.[5][6] Nghiên cứu năm 2019 đã đẩy lùi ước tính thời gian về khoảng 76.200–51.600 năm trước.[7] Mẫu vật này được đặt biệt danh là người phụ nữ X vì ADN ty thể của cô thuộc một dòng dõi hominin cổ đại mới lạ đối với khoa học, khác biệt về mặt di truyền với cả người hiện đại đương thời lẫn người Neanderthal.[5]

Năm 2019, nhà khảo cổ người Hy Lạp Katerina Douka và các đồng nghiệp kiểm định niên đại các mẫu vật từ Hang Denisova bằng phương pháp cacbon phóng xạ và ước tính cá thể Denisova 2 (mẫu vật lâu đời nhất) sống cách đây 195.000–122.700 năm.[7] Ngoài ra, ADN Denisova với niên đại cổ hơn thế, cụ thể là 217.000 năm tuổi, đã được phát hiện trong lớp trầm tích ở buồng hang phía đông. Dựa trên các di vật được phát hiện cùng các di cốt trong hang, hominin cổ (rất có thể là người Denisova) có vẻ bắt đầu quần cư tại đây vào khoảng 287 ± 41 hoặc 203 ± 14 ka. Người Neanderthal cũng đã từng tới địa điểm này để cư trú và dường như chung sống với người Denisova vào khoảng 193 ± 12 ka và 97 ± 11 ka.[8]

Người Denisova trên bản đồ Châu Á
Hang Denisova
Hang Denisova
Hang Bạch Thạch Nhai
Hang Bạch Thạch Nhai
Hang Tam Ngũ Hào 2
Hang Tam Ngũ Hào 2
Vị trí hang Denisova thuộc dãy Altai tại Nga, hang Bạch Thạch Nhai trên cao nguyên Tây Tạng tại Trung Quốc và hang Tam Ngũ Hào 2 thuộc dãy Trường Sơn tại Lào

Các mẫu vật[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Yếu tố di cốt Niên đại Năm phát hiện Địa điểm Giới tính và tuổi đời Năm công bố Hình ảnh Mã GenBank
Denisova 3
(biệt danh Người phụ nữ X)[9][10][5]
Đốt xương đầu ngón tay thứ 5 76,2–51,6 ka[7] 2008 Hang Denisova (Nga) Nữ giới vị thành niên 13,5 tuổi 2010
Bản sao một phần của đốt ngón tay.
NC013993
Denisova 4[9][11] Răng hàm vĩnh viễn thứ 2 hoặc thứ 3 của hàm trên 84,1–55,2 ka[7] 2000 Hang Denisova (Nga) Nam giới trưởng thành 2010
Bản sao răng hàm Denisova. Một phần gốc răng này đã bị phá hủy để lấy ADN ty thể. Kích cỡ và hình dạng của nó khác biệt so với răng neanderthal hoặc sapiens.
FR695060
Denisova 8[12] Răng hàm vĩnh viễn thứ 3 của hàm trên 136,4–105,6 ka[7] 2010 Hang Denisova (Nga) Nam giới trưởng thành 2015 KT780370
Denisova 2[13] Răng hàm sữa thứ 2 của hàm dưới 194,4–122,7 ka[7] 1984 Hang Denisova (Nga) Nữ giới vị thành niên 2017 KX663333
Hàm răng Hạ Hà[14] Mảnh hàm dưới > 160 ka 1980 Hang Bạch Thạch Nhai (Trung Quốc) 2019 Xiahe mandible.jpg
Denisova 11
(biệt danh Denny, con lai Denisova x Neanderthal)
[15]
Không rõ là mảnh xương chân hay xương tay 118,1–79,3 ka[7] 2012 Hang Denisova (Nga) Nữ giới vị thành niên 13 tuổi 2016 Denisova-111.jpg

KU131206

TNH2-1[16] Vòng đỉnh răng hàm thứ 1 hoặc thứ 2 bên trái hàm dưới 164-131 kyr[16] 2018 Hang Tam Ngũ Hào 2 (Lào)[17] Bé gái 3,5-8,5 tuổi 2022 TNH2-1 Denisovan specimen.jpg
Denisova 13[18] Mảnh xương đỉnh Địa tầng thứ 22[18] có niên đại ~285±39 ka[8] 2019 Hang Denisova (Nga) Chưa quyết định

Tiến hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Cây tiến hóa và phân bố địa lý của người Denisova so với người Neanderthal, Homo heidelbergensisHomo erectus

Nhóm các nhà khoa học dẫn dắt bởi Johannes KrauseSvante Pääbo từ Viện nhân chủng học tiến hóa Max Planck của Đức đã giải trình tự thành công ADN ty thể (mtDNA) của mẫu vật Denisova 3 (mức bảo quản tốt bởi nhiệt độ trung bình của hang ở điểm đóng băng). MtDNA của Denisova 3 khác với người hiện đại ở 385 bazơ (nucleotide) trên tổng số khoảng 16.500 bazơ, trong khi khác biệt giữa người hiện đại và người Neanderthal là khoảng 202 bazơ. Để đối chiếu, sự khác biệt giữa tinh tinh và người hiện đại rơi vào khoảng 1.462 cặp bazơ mtDNA. Điều này chứng tỏ mtDNA của người Denisova tách khỏi dòng mtDNA của người hiện đại và người Neanderthal vào khoảng 1.313.500–779.300 năm trước; còn mtDNA của người hiện đại và người Neanderthal chia tách vào khoảng 618.000–321.200 năm trước. Krause và các đồng nghiệp kết luận rằng người Denisova là hậu duệ của một quần thể H. erectus di cư rất sớm ra khỏi châu Phi, hoàn toàn khác biệt với người hiện đại và người Neanderthal.[5]

Tuy vậy, theo phân tích ADN hạt nhân (nDNA) của mẫu Denisova 3 (mức bảo quản ADN của mẫu vật này tốt một cách bất thường, tức ít bị nhiễm bẩn) thì người Denisova và người Neanderthal có quan hệ họ hàng gần với nhau hơn so với người hiện đại. Giả thiết phần trăm khoảng cách tính từ tổ tiên chung cuối cùng của người và tinh tinh thì dòng dõi Denisova/Neanderthal tách khỏi dòng dõi người hiện đại vào khoảng 804.000 năm trước rồi chia tách tiếp vào khoảng 640.000 năm trước.[9] Giả thiết tốc độ đột biến là 1x10−9 hoặc 0.5x10−9 trên mỗi cặp bazơ (bp) mỗi năm, sự phân tách Neanderthal/Denisova lần lượt xảy ra vào khoảng 236–190.000 hoặc 473–381.000 năm trước.[19] Giả thiết tốc độ đột biến 1.1x10−8 mỗi thế hệ mà cứ sau 29 năm lại có thế hệ mới thì thời điểm phân tách cách đây 744.000 năm. Giả thiết 5x10−10 điểm nucleotide mỗi năm thì thời điểm phân tách cách đây 616.000 năm. Nếu chấp nhận niên đại 616.000 năm trước, sự phân tách có lẽ xảy ra trước khi các hominin phân tán khắp châu Âu.[20] Homo heidelbergensis thường được coi là tổ tiên trực hệ của người Denisova và người Neanderthal, đôi khi bao gồm người hiện đại.[21] Do sự khác biệt rõ rệt ở hình thái răng, dòng dõi Denisova có lẽ đã tách khỏi dòng dõi Neanderthal trước khi các đặc điểm nha khoa Neaderthal tiến hóa vào khoảng 300.000 năm trước.[9]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Krause, Johannes; Fu, Qiaomei; Good, Jeffrey M.; Viola, Bence; Shunkov, Michael V.; Derevianko, Anatoli P.; Pääbo, Svante (tháng 4 năm 2010). “The complete mitochondrial DNA genome of an unknown hominin from southern Siberia”. Nature (bằng tiếng Anh). 464 (7290): 894–897. doi:10.1038/nature08976. ISSN 1476-4687.
  2. ^ Douglas, M. M.; Douglas, J. M. (2016). Exploring Human Biology in the Laboratory. Morton Publishing Company. tr. 324. ISBN 9781617313905.
  3. ^ Zubova, A.; Chikisheva, T.; Shunkov, M. V. (2017). “The Morphology of Permanent Molars from the Paleolithic Layers of Denisova Cave”. Archaeology, Ethnology & Anthropology of Eurasia. 45: 121–134. doi:10.17746/1563-0110.2017.45.1.121-134.
  4. ^ Ovodov, N. D.; Crockford, S. J.; Kuzmin, Y. V.; Higham, T. F.; và đồng nghiệp (2011). “A 33,000-Year-Old Incipient Dog from the Altai Mountains of Siberia: Evidence of the Earliest Domestication Disrupted by the Last Glacial Maximum”. PLOS ONE. 6 (7): e22821. Bibcode:2011PLoSO...622821O. doi:10.1371/journal.pone.0022821. PMC 3145761. PMID 21829526.
  5. ^ a b c d Krause, J.; Fu, Q.; Good, J. M.; Viola, B.; và đồng nghiệp (2010). “The complete mitochondrial DNA genome of an unknown hominin from southern Siberia”. Nature. 464 (7290): 894–897. Bibcode:2010Natur.464..894K. doi:10.1038/nature08976. PMID 20336068.
  6. ^ Reich, D. (2018). Who We Are and How We Got Here. Oxford University Press. tr. 53. ISBN 978-0-19-882125-0.
  7. ^ a b c d e f g Douka, K. (2019). “Age estimates for hominin fossils and the onset of the Upper Palaeolithic at Denisova Cave”. Nature. 565 (7741): 640–644. Bibcode:2019Natur.565..640D. doi:10.1038/s41586-018-0870-z. PMID 30700871. S2CID 59525455. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2019.
  8. ^ a b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Jacobs2019
  9. ^ a b c d Reich, D.; Green, R. E.; Kircher, M.; và đồng nghiệp (2010). “Genetic history of an archaic hominin group from Denisova Cave in Siberia” (PDF). Nature. 468 (7327): 1053–60. Bibcode:2010Natur.468.1053R. doi:10.1038/nature09710. hdl:10230/25596. PMC 4306417. PMID 21179161. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2018.
  10. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Bennett
  11. ^ Callaway, Ewen (2010). “Fossil genome reveals ancestral link”. Nature. 468 (7327): 1012. Bibcode:2010Natur.468.1012C. doi:10.1038/4681012a. PMID 21179140.
  12. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên PNAS-20151111
  13. ^ Slon, V.; Viola, B.; Renaud, G.; Gansauge, M.-T.; và đồng nghiệp (2017). “A fourth Denisovan individual”. Science Advances. 3 (7): e1700186. Bibcode:2017SciA....3E0186S. doi:10.1126/sciadv.1700186. PMC 5501502. PMID 28695206.
  14. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên ChenBaishiya
  15. ^ Brown, S.; Higham, T.; Slon, V.; Pääbo, S. (2016). “Identification of a new hominin bone from Denisova Cave, Siberia using collagen fingerprinting and mitochondrial DNA analysis”. Scientific Reports. 6: 23559. Bibcode:2016NatSR...623559B. doi:10.1038/srep23559. PMC 4810434. PMID 27020421.
  16. ^ a b Fabrice, D.; Clément, Z.; Kira, E. W.; và đồng nghiệp (2022). “A Middle Pleistocene Denisovan molar from the Annamite Chain of northern Laos”. Nature Communications. 13 (2557). doi:10.1038/s41467-022-29923-z.
  17. ^ “Phát hiện dấu vết 'loài người ma' gần biên giới Việt Nam”. Báo Mới. 19 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2022.
  18. ^ a b Viola, B. T.; Gunz, P.; Neubauer, S. (2019). “A parietal fragment from Denisova cave”. 88th Annual Meeting of the American Association of Physical Anthropologists. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2020.
  19. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :0
  20. ^ Rogers, A. R.; Bohlender, R. J.; Huff, C. D. (2017). “Early history of Neanderthals and Denisovans”. Proceedings of the National Academy of Sciences. 114 (37): 9859–9863. doi:10.1073/pnas.1706426114. PMC 5604018. PMID 28784789.
  21. ^ Ho, K. K. (2016). “Hominin interbreeding and the evolution of human variation”. Journal of Biological Research-Thessaloniki. 23: 17. doi:10.1186/s40709-016-0054-7. PMC 4947341. PMID 27429943.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]