Akikaze (tàu khu trục Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
IJN Akikaze departing Yokosuka Taisho 12.jpg
Tàu khu trục Nhật Akikaze rời cảng Yokosuka
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Đặt hàng: 1918
Hãng đóng tàu: Mitsubishi - Nagasaki
Đặt lườn: 7 tháng 6 năm 1920
Hạ thủy: 14 tháng 12 năm 1920
Hoạt động: 16 tháng 9 năm 1921
Xóa đăng bạ: 10 tháng 1 năm 1945
Số phận: Bị tàu ngầm Mỹ đánh chìm tại Luzon, ngày 3 tháng 11 năm 1944
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Minekaze
Trọng tải choán nước: 1.345 tấn (tiêu chuẩn);
1.650 tấn (đầy tải)
Độ dài: 97,5 m (319 ft 11 in) mực nước
102,6 m (336 ft 7 in) chung
Sườn ngang: 9 m (29 ft 6 in)
Mớn nước: 2,9 m (9 ft 6 in)
Động cơ đẩy: Turbine hơi nước Mitsubishi-Parsons
4 × nồi hơi đốt dầu
2 × trục
công suất 38.500 mã lực (28,7 MW)
Tốc độ: 72 km/h (39 knot)
Tầm xa: 6.700 km ở tốc độ 26 km/h
(3.600 hải lý ở tốc độ 14 knot)
Thủy thủ đoàn: 148
Vũ trang: 4 × hải pháo 120 mm (4,7 inch)/45 caliber Kiểu 3
6 × ống phóng ngư lôi 533 mm (21 inch)
2 × súng máy 7,7 mm
20 × mìn sâu

Akikaze (tiếng Nhật: 秋風) là một tàu khu trục thuộc lớp Minekaze được chế tạo cho Hải quân Đế quốc Nhật Bản ngay sau khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Chúng là những tàu khu trục hàng đầu của Hải quân Nhật trong những năm 1930, nhưng đã bị xem là lạc hậu vào lúc nổ ra Chiến tranh Thái Bình Dương.[1] Nó đảm trách vai trò tuần tra, vận tải và hộ tống trong Chiến tranh Thế giới thứ hai cho đến khi bị tàu ngầm Mỹ đánh chìm tại vị trí cách 257 km về phía Tây mũi Bolinao, Luzon, vào ngày 3 tháng 11 năm 1944.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Việc chế tạo lớp tàu khu trục kích thước lớn Minekaze được chấp thuận như một phần trong Chương trình Hạm đội 8-4 của Hải quân Đế quốc Nhật Bản trong giai đoạn năm tài chính 1917-1920, kèm theo lớp Momi cỡ trung vốn chia sẻ nhiều đặc tính thiết kế chung.[2] Được trang bị động cơ mạnh mẽ, những con tàu này có tốc độ cao và được dự định hoạt động như những tàu hộ tống cho những chiếc tàu chiến-tuần dương thuộc lớp Amagi mà cuối cùng đã không được chế tạo.[3]

Akikaze, chiếc thứ chín của lớp tàu này, được chế tạo tại Xưởng hải quân Maizuru. Nó được đặt lườn vào ngày 7 tháng 6 năm 1920; được hạ thủy vào ngày 14 tháng 12 năm 1920; và được đưa ra hoạt động vào ngày 16 tháng 9 năm 1921.[4]

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn tất, Akikaze được điều về Quân khu Hải quân Yokosuka thuộc Hạm đội 2 Hải quân Đế quốc Nhật Bản.[4] Tại đây, nó cùng với các tàu khu trục chị em Tachikaze, HakazeHokaze được tập trung để hình thành nên Đội Khu Trục 4 thuộc Hải đội Ngư lôi 1 (第1水雷戦隊). Trong những năm 1938-1939, hải đội này được phân công tuần tra tại khu vực bờ biển miền Trung của Trung Quốc nhằm hỗ trợ cho những nỗ lực của quân Nhật trong cuộc Chiến tranh Trung-Nhật.

Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, Akikaze đảm trách vai trò tuần tra và hộ tống vận tải. Vào lúc xảy ra cuộc tấn công Trân Châu Cảng, Akikaze đang được phân về Hải đội Khu trục 34 thuộc Không hạm đội 11 Hải quân Đế quốc Nhật Bản đặt căn cứ tại Takao, hỗ trợ việc tìm kiếm cứu nạn trên biển cho cuộc tấn công chiếm đóng Philippines, và hộ tống các đoàn tàu vận tải đi đến DavaoLegazpi.

Từ tháng 1 đến cuối tháng 4 năm 1942, Akikaze đặt căn cứ tại Davao, hộ tống cho tàu bè đi lại giữa Davao và Ambon. Sau một đợt ngắn quay trở về Maizuru để sửa chữa trong tháng 5 năm 1942, Akikaze đặt căn cứ ngoài khơi Rabaul, hộ tống các tàu vận tải suốt khu vực Tây Nam Thái Bình Dương. Vào ngày 14 tháng 3 năm 1943, Akikaze cùng hai tàu khu trục khác đã tấn công một tàu ngầm Mỹ, có thể là chiếc Triton, gần đảo Kairiru ở tọa độ 3°20′10″N 143°33′0″Đ / 3,33611°N 143,55°Đ / -3.33611; 143.55000.[5]

Sau một đợt sửa chữa khác tại Maizuru vào tháng 4 năm 1943, Akikaze quay trở lại Rabaul tiếp tục nhiệm vụ tuần tra và hộ tống. Nó bị hư hại nặng trong một cuộc không kích vào ngày 2 tháng 8, gây thương vong 23 người và bị buộc phải quay trở về Maizuru để sửa chữa một lần nữa vào tháng 9. Quay trở lại Rabaul vào giữa tháng 11, Akikaze thực hiện nhiều chuyến đi vận chuyển binh lính đến New Guinea từ tháng 10 năm 1943 đến tháng 2 năm 1944. Sang tháng 3, nó được điều về Truk, nơi nó hộ tống các đoàn tàu vận tải đi lại giữa Truk, SaipanPalau.[6]

Vào ngày 1 tháng 5, Akikaze được phân về Hải đội Khu trục 30 thuộc Hạm đội Trung tâm Thái Bình Dương. Sau một chuyến đi hộ tống đoàn tàu vận tải từ Nhật Bản đến Davao và Manila, nó được cho đặt căn cứ tại Manila. Hải đội Khu trục 30 được điều về Hạm đội Liên Hợp vào ngày 20 tháng 8. Trong các ngày 2425 tháng 10, Akikaze dẫn đầu đoàn hộ tống cho Lực lượng Tiếp liệu 2 thuộc Lực lượng Phía Bắc của Đô đốc Ozawa tham gia Trận chiến vịnh Leyte, cứu vớt những người còn sống sót trên chiếc tàu chở dầu hạm đội Jinei Maru bị chìm do trúng ngư lôi đối phương, và đưa họ quay trở về Mako.

Vào ngày 1 tháng 11, Hải đội Khu trục 30, bao gồm các tàu khu trục Yuzuki (soái hạm), UzukiAkikaze, rời Mako hộ tống tàu sân bay Junyōtàu tuần dương Kiso đi về phía Brunei. Vào ngày 3 tháng 11, tàu ngầm Mỹ Pintado bắn một loạt ngư lôi nhắm vào Junyō, nhưng Akikaze đã chặn chúng, hy sinh chính mình để bảo vệ chiếc tàu sân bay.[7] Akikaze chìm với tất cả những người trên tàu ở địa điểm cách 257 km (160 dặm) về phía Tây mũi Bolinao, Luzon ở tọa độ 16°48′B 117°17′Đ / 16,8°B 117,283°Đ / 16.800; 117.283Tọa độ: 16°48′B 117°17′Đ / 16,8°B 117,283°Đ / 16.800; 117.283.

Akikaze được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 10 tháng 1 năm 1945.[8]

Danh sách thuyền trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Warships of the Imperial Japanese Navy. 1869–1945 by H. Jentschura, D. Jung, P. Mickel, trang 141; Arms and Armour Press (1996) Cassell plc ISBN 0 85368 151
  2. ^ Howarth, The Fighting Ships of the Rising Sun
  3. ^ Globalsecurity.org, IJN Minekaze class destroyers
  4. ^ a ă Nishidah, Hiroshi (2002). “Minekaze class 1st class destroyers”. Materials of the Imperial Japanese Navy. 
  5. ^ Nguồn CombinedFleet.com cho là ngày 14 tháng 3, nhưng tài liệu Dictionary of American Naval Fighting Ships cho biết:

    Vào ngày 15 tháng 3, tàu ngầm Trigger báo cáo đã tấn công một đoàn tàu vận tải và bị phản công bằng mìn sâu. Cho dù cuộc tấn công nhắm vào nó đã chấm dứt, nó vẫn nghe được tiếng nổ của một cuộc tấn công bằng mìn sâu trong khoảng một giờ; và không có tín hiệu nào khác nhận được từ chiếc Triton. Việc nghiên cứu các tài liệu lưu trữ Nhật Bản sau chiến tranh cho biết Vào ngày 15 tháng 3 năm 1943, ba tàu khu trục Nhật đã tấn công một tàu ngầm tại một vị trí chệch về phía Tây Bắc khu vực được phân công cho Triton, và sau đó quan sát thấy các vệt dầu loang, mảnh vỡ và dụng cụ in ký hiệu của Hải quân Mỹ.

    Triton. DANFS. U.S. Naval Historical Center. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2008. 
  6. ^ Nevitt, Allyn D. (1997). “IJN Akikaze: Tabular Record of Movement”. Long Lancers. Combinedfleet.com. 
  7. ^ Hackett, Bob; Sander Kingsepp (28 tháng 11 năm 2007). “IJN Kiso: Tabular Record of Movement”. Junyokan. Combinedfleet.com. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008. 
  8. ^ Nishidah, Hiroshi (2002). “Minekaze class 1st class destroyers”. Materials of the Imperial Japanese Navy. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Howarth, Stephen (1983). The Fighting Ships of the Rising Sun: The Drama of the Imperial Japanese Navy, 1895-1945. Atheneum. ISBN 0689114028. 
  • Jentsura, Hansgeorg (1976). Warships of the Imperial Japanese Navy, 1869-1945. US Naval Institute Press. ISBN 087021893X. 
  • Watts, Anthony J (1967). Japanese Warships of World War II. Doubleday. ASIN B000KEV3J8. 
  • Whitley, M J (2000). Destroyers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Arms and Armour Press. ISBN 1854095218. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]