Alice ở xứ sở thần tiên (phim 2010)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Alice ở Xứ sở thần tiên
Áp phích phim
Thông tin phim
Đạo diễn Tim Burton
Sản xuất Richard D. Zanuck
Joe Roth
Suzanne Todd
Jennifer Todd
Tác giả Linda Woolverton
(Kịch bản)
Lewis Carroll
(Tiểu thuyết)
Diễn viên Mia Wasikowska
Johnny Depp
Helena Bonham Carter
Anne Hathaway
Stephen Fry
Crispin Glover
Michael Sheen
Âm nhạc Danny Elfman
Quay phim Dariusz Wolski
Dựng phim Chris Lebenzon
Hãng sản xuất Walt Disney Pictures
Roth Films
The Zanuck Company
Team Todd
Phát hành

Hoa Kỳ Walt Disney Studios Motion Pictures

Motion Pictures
Công chiếu 25 tháng 2, 2010 (2010-02-25)
(Buổi công chiếu ra mắt tại London)
5 tháng 3, 2010 (2010-03-05)
(Mỹ)
12 tháng 3, 2010 (2010-03-12)[1]
(Việt Nam)
Độ dài 108 phút 25 giây[2]
Quốc gia Hoa Kỳ Hoa Kỳ
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Kinh phí 150-200 triệu đô la Mỹ[3]
Doanh thu 1.025.467.110 đô la Mỹ[4]

Alice ở Xứ sở thần tiên (tiếng Anh: Alice in Wonderland) là bộ phim phiêu lưu giả tưởng công chiếu năm 2010 được đạo diễn bởi Tim Burton, kịch bản được viết bởi Linda Woolverton và phim có sự tham gia của các ngôi sao Mia Wasikowska, Johnny Depp, Helena Bonham Carter, Anne Hathaway, Crispin Glover, Michael SheenStephen Fry. Bộ phim được dựng lại từ cuốn tiểu thuyết Cuộc phiêu lưu của Alice vào Xứ sở thần tiênThrough the Looking-Glass của Lewis Carroll. Phim sử dụng kỹ thuật kết hợp giữa hành động thật của diễn viên và đồ họa máy tính (hoạt hình).

Trong phim, Alice đã mười chín tuổi. Cô được gọi trở về Xứ sở thần tiên "Underland" - nơi mà cô đã từng ghé thăm lúc cô mới ba tuổi, để giải cứu "Underland" thoát khỏi sự thống trị độc ác của Nữ hoàng Đỏ. Cô được tiên tri rằng chỉ mình cô là người có thể giết chết Jabberwocky (Quái vật hình rồng của Nữ hoàng Đỏ). Đạo diễn Burton cho biết bộ phim như là phần sáng tạo tiếp theo của cốt truyện chứ không dựa trên tác phẩm gốc.

Bộ phim ra mắt đầu tiên tại rạp Odeon Leicester Square ở London, Anh vào ngày 25 tháng 2 năm 2010. Phim khởi chiếu tại Australia vào ngày 4 tháng 3 năm 2010, ở Mĩ và Anh là ngày 5 tháng 3 năm 2010. Mặc dù phần lớn các buổi chiếu của phịm này được thực hiện tại các rạp IMAX 3D và Disney Digital 3D; nhưng tại các rạp truyền thống, phim vẫn thu hút được một khối lượng khán giả đông đảo. Nhờ vào doanh thu rất cao, Alice ở Xứ sở thần tiên trở thành phim có doanh thu trội nhất trong năm 2010 (tính đến thời điểm tháng 5) và là phim có doanh thu cao thứ năm mọi thời đại.[5][6][7] Với doanh thu một tỉ USD, Alice ở Xứ sở thần tiên cũng trở thành bộ phim thứ sáu có doanh thu đạt mốc trên một tỉ USD. Đây là bộ phim thứ hai của Walt Disney lập được kỉ lục này, bộ phim trước đây của Disney cũng nằm trong danh sách doanh thu khổng lồ là Cướp biển vùng Caribbean: Chiếc rương của tử thần. Đây cũng là bộ phim đầu tiên có doanh thu trên ngưỡng một tỉ USD mà không xếp vào loại PG-13.[8][9][10]

Nội dung phim[sửa | sửa mã nguồn]

Cô bé Alice, vẫn mơ những giấc mơ kì lạ về chú thỏ trắng mặc áo ghi-lê, về người làm mũ, về xứ sở Wonderland. Đó vẫn là thế giới kỳ diệu mà Alice lúc còn bé từng ghé thăm. Nhưng cô bé tưởng rằng đó là Wonderland - Xứ Sở Thần Tiên. Giờ đây, khi đã mười chín tuổi, cô mới biết cái tên thực sự của vùng đất này là "Underland".

"Underland" là một phần của trái đất. Nó nằm sâu dưới lòng đất và chỉ có nhảy xuống một cái hố thỏ mới là cách duy nhất để đến được thế giới đó. Vùng đất kỳ diệu này không còn được như xưa. Giờ đây nó đang trải qua một giai đoạn khó khăn bởi sự thống trị của Nữ Hoàng Đỏ. Thế lực của đội quân K Cơ và Nữ Hoàng Đỏ khiến nơi đây hoang tàn và u ám. Những người không theo phe của Nữ Hoàng Đỏ đang cố gắng đi tìm một người có thể giúp đỡ Xứ Sở "Underland" - đó chính là Alice.

Năm mười chín tuổi, Alice đã lớn, nhưng vẫn không khi nào thôi mơ về những giấc mơ đó. Giờ đây, cô đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp, cuộc đời cô sắp tiến tới một bước ngoặt quan trọng. Mẹ cô đã sắp đặt cho cô đính hôn với Hamish - câu con trai ngờ nghệch của gia đình Ascot quyền cao chức trọng. Anh ta bất ngờ cầu hôn Alice tại buổi tiệc đính hôn (mà Alice tưởng rằng đó chỉ là một bữa tiệc ngoài trời). Điều đó khiến cô rất bất ngờ và bỏ trốn mà không để lại một lời nói nào. Cô đuổi theo Thỏ Trắng mà cô đã bắt gặp trong buổi tiệc đính hôn. Chú Thỏ Trắng đó, mặc chiếc áo ghi-lê và luôn hối thúc Alice bằng chiếc đồng hồ nhỏ cứ kêu tí tách.

Đuổi theo Thỏ Trắng, Alice bỗng thấy chú thỏ biến mất xuống một cái hố đen. Cô nhìn xuống, chưa biết phải làm gì thì bất chợt cô rơi xuống hố. Sau khi chạm đáy của hố đen, cô nhận ra rằng mình đang ở trong một căn phòng lớn hình tròn với rất nhiều cánh cửa to nhỏ khác nhau. Cô thử mở chúng nhưng cánh cửa nào cũng bị khóa. Rồi cô thấy trên bàn có một lọ nước kèm theo tờ giấy nhỏ "HÃY UỐNG TÔI". Cô bèn uống nó và người cô bỗng trở nên nhỏ bé khác thường. Dưới đất lại có chiếc bánh nhỏ với dòng chữ "HÃY ĂN TÔI", cô bèn ăn nó và trở nên to lớn. Alice lấy chiếc chìa khóa trên bàn và mở chiếc cửa nhỏ, chiếc cửa hé mở nhưng Alice quá to lớn nên không thể chui qua. Cô lại uống lọ nước và trở nên tí hon khác thường. Cô chui qua cánh cửa và thế giới "Underland" xinh đẹp hiện ra trong mắt Alice - nơi mà cô từng ghé thăm khi còn bé. Mặc dù vậy, cô không còn ký ức gì về nơi này, về những gì của ngày xưa. Chúng chỉ như thoáng qua trong tâm trí Alice như những giấc mơ đã ám ảnh cô từ ngày còn bé.

Tại đây, cô được chào đón bởi thỏ trắng, cô sóc chuột Dormouse, ngỗng Dodo, hai anh em sinh đôi Tweedledum cùng Tweedledee và những bông hoa biết nói. Cô ngạc nhiên và nghĩ rằng mình đang mơ. Thỏ Trắng mừng rỡ vì sự xuất hiện của Alice (bởi chính Thỏ Trắng là người đem Alice về đây). Nhưng những người khác tranh cãi Alice là thật hay giả. Rồi họ dẫn cô đến sâu bướm Absolem để biết được điều gì đó. Absolem đã tiên tri rằng chỉ có Alice là người có thể giết con rồng Jabberwocky của Nữ hoàng Đỏ vào "Ngày Diệu Kỳ", đem lại hòa bình cho "Underland". Nhưng sâu bướm Absolem lại nói với Alice "cô rất khó có thể là Alice". Rồi bỗng nhiên đội quân K Cơ của Nữ Hoàng Đỏ đến tấn công nhóm của Alice. Mọi người chạy tán loạn, tất cả đều bị bắt. Alice bị con thú to lớn của đội quân K Cơ đuổi theo nhưng Alice vẫn nghĩ mình đang mơ và cô đứng lại chờ con thú. Con thú lao đến vồ một bên tay của Alice, thấy thế sóc chuột Dormouse đuổi theo và nhảy lên người con thú. Dormouse nhanh tay móc một con mắt của nó và cùng Alice chạy trốn vào rừng.

Đội quân K Cơ ngay sau đó thông báo cho Nữ Hoàng Đỏ rằng Alice đã trở lại và có thể là người tiêu diệt triều đại của Nữ Hoàng Đỏ. Đội quân K Cơ lập tức được lệnh phải đi truy bắt Alice ngay.

Trong khi đó, Alice lang thang trong rừng. Cô gặp phải một con mèo lơ lửng bí ẩn - đó chính là Cheshire. Con mèo băng bó vết thương cho Alice và dẫn cô đến chỗ của Mad Hatter và con thỏ March Hare. Sau đó Mad Hatter dẫn cô đến lâu đài của Nữ Hoàng Trắng. Trên đường đến đó, Mad Hatter kể cho Alice nghe về quá khứ đen tối - ngày Nữ Hoàng Trắng bị chị mình là Nữ Hoàng Đỏ cướp vương miện và từ đó Xứ Sở "Underland" bị thống trị dưới tay của phe hắc ám. Mad Hatter nói với Alice rằng cô không còn được như ngày xưa nữa. Rồi đột nhiên Mad Hatter phát hiện ra đội quân K Cơ đang đuổi theo mình. Mad Hatter đưa Alice lên chiếc mũ của mình và ném nó thật xa qua bên kia bờ sông để cô được an toàn và Mad Hatter bị đội quân của Nữ Hoàng Đỏ bắt đi. Cô ngủ lại trong chiếc mũ và sáng hôm sau cô được con chó Bayard phát hiện. Nó muốn đưa Alice đến lâu đài của Nữ Hoàng Trắng nhưng cô quyết định rằng cô sẽ vạch ra định mệnh cho mình và cô cưỡi Bayard đến lâu đài Nữ Hoàng Đỏ để cứu Mad Hatter cùng những người khác.

Khi đến lâu đài của Nữ Hoàng Đỏ, bà không biết danh tính của Alice (và cứ nghĩ tên cô là "Um") nên chào đón cô như một vị khách quý. Trong khi đó, Mad Hatter thuyết phục Nữ Hoàng Đỏ cho phép mình được làm mũ cho bà để kéo dài thời gian cho Alice thực hiện nhiệm vụ của mình. Còn Alice, khi được ở lại lâu đài của Nữ Hoàng Đỏ, cô nhân cơ hội đi tìm thanh kiếm Vorpal Sword (mà cô biết rằng đó là thanh kiếm duy nhất để có thể giết chết con rồng Jabberwocky). Cô được Thỏ Trắng chỉ rằng thanh kiếm nằm trong chiếc rươm khóa kỹ trong chuồng của Bandersnatch - con thú đã từng tấn công Alice. Cô lập tức đi tìm nó. Alice lấy được thanh gươm trong chuồng của Bandersnatch và đồng thời cô trả lại nó con mắt mà Dormouse đã móc của nó. Tuy nhiên, Nữ Hoàng Đỏ đã phát hiện ra "Um" chính là Alice nên phái đội quân K Cơ truy tìm cô. Alice bị đội quân của Nữ Hoàng Đỏ bao vây tại chuồng của con thú.

Bandersnatch bất ngờ xông vào đám quân lính và giải cứu cho Alice. Nó cùng với con chó Bayard chở cô đến lâu đài của Nữ Hoàng Trắng để trao trả thanh kiếm Vorpal Sword. Trong khi đó, tại lâu đài của Nữ Hoàng Đỏ, Mad Hatter bị đem đi xử tử. Nhưng mèo Cheshire đã bảo vệ cho Mad Hatter. Nhân lúc đó Mad Hatter đã kêu gọi mọi người nổi dậy chống Nữ Hoàng Đỏ. Bà quá tức giận và ra lệnh quân lính thả kềnh kềnh ra để trừng trị bọn họ. Mad Hatter cùng đồng minh chạy trốn đến lâu đài Nữ Hoàng Trắng.

"Ngày Diệu Kỳ" đã đến, đội quân của Nữ Hoàng Trắng đã chuẩn bị sẵn sàng cho trận đánh. Nhưng Alice vẫn chưa sẵn sàng. Cô bỏ chạy trong sự hy vọng của mọi người. Cô bắt gặp sâu bướm Absolem. Giờ đây sâu bướm đã chuẩn bị hóa kiếp, ông kể cho Alice nghe về chuyến thăm cách đây mười ba năm của cô bé Alice đến "Underland": về những bông hoa biết nói, về những sinh vật, về Mad Hatter, về bàn trà vui nhộn, về một thế giới xinh đẹp...Rồi sâu bướm giúp cô can đảm để có thể chiến đấu chống Jabberwocky.

Khi "Ngày Diệu Kỳ" đến, Nữ Hoàng Trắng và Nữ Hoàng Đỏ triệu tập đội quân hùng hậu của mình trên một mặt trận như một bàn cờ và gửi ra một người vô địch của mỗi bên để chiến đấu (Alice bên Nữ Hoàng Trắng đấu với Jabberwocky bên Nữ Hoàng Đỏ) để quyết định số phận của "Underland". Nữ Hoàng Trắng muốn thương lượng hòa bình với Nữ Hoàng Đỏ rằng trao vương miện lại cho Nữ Hoàng Trắng và mọi chuyện yên bình nhưng Nữ Hoàng Đỏ từ chối. Cuộc chiến bắt đầu. Hai bên chiến đấu quyết liệt, Alice luôn miệng nhắc sáu điều "không thể" mà trước đây mỗi sáng cô đều hay nói. Cuối cùng, Alice giết chết Jabberwocky và phe Nữ Hoàng Trắng chiến trắng, Nữ Hoàng Đỏ bị lưu đày. Nữ Hoàng Trắng đưa cho Alice một lọ máu của Jabberwocky, nếu uống nó Alice có thể về lại nhà. Nhưng bà cũng mong muốn Alice có thể ở đây mãi mãi, nhưng Alice quyết định phải về nhà và hứa rằng sẽ trở lại.

Sau khi uống máu, Alice trở về nhà, nơi cô phải làm tất cả những việc còn dang dở trước lúc cô tới "Underland" và phải chịu trách nhiệm về cuộc sống của cô. Sau đó cô trở thành người học việc của Chúa Ascot, với ý tưởng bắt đầu con đường thương mại xuyên đại dương đến Trung Quốc.[1][11]

Thông tin phim[sửa | sửa mã nguồn]

Viết kịch bản & những bước đầu làm phim[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 năm 2007, Joe Roth và Linda Woolverton được Walt Disney mời viết kịch bản cho Alice ở Xứ sở thần tiên.[12] Tháng 11 năm 2007, Burton ký hợp đồng với Disney để đạo diễn hai bộ phim 3D Alice ở Xứ sở thần tiên[13] và bộ phim Frankenweenie làm lại từ bộ phim cùng tên năm 1984 cũng do Burton đạo diễn. Burton đã nói rằng "mục tiêu của tôi là làm cho bộ phim thật hấp dẫn, mang tính tâm lý và có gì đó mới mẻ nhưng vẫn giữ được những nét cổ điển của tác phẩm Alice". Mục đích của ông khi làm bộ phim mới này là để cho câu chuyện trong phim thật mới mẻ và để thử tạo ra một Alice khác lạ.[14] Ông cũng không xem bộ phim là phần tiếp theo hay tưởng tượng lại từ tác phẩm gốc nào.[15]

Các nhân vật & phân vai[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim có nhiều nhân vật với các tính cách khác nhau và trong đó đa số các nhân vật dựa trên tác phẩm của Lewis Carroll:

Mia Wasikowska
  • Mia Wasikowska trong vai Alice Kingsleigh, mười chín tuổi - một cô gái "không thích hợp với tầng lớp thượng lưu".[16][17] Alice thay đổi kích thước trong suốt bộ phim, lúc chỉ cao 6 inches (khoảng 15,24cm), lúc lại cao đến 20 feet (khoảng 6m).[18] Khi tạo nhân vật Alice, người viết kịch bản Linda Woolverton đã nghiên cứu về tính cách của Alice, về lý do khiến Alice có thể vô cảm trước cuộc sống thượng lưu đó.[19] Mặc dù xã hội mà Alice sống đặt áp lực lên cô và muốn cô phải là một người con gái sang trọng và quyền quí nhưng cô đã dẹp bỏ và tự do bộc lộ tính cách của mình. Sống trong thời đại Victorian cùng những lễ giáo phong kiến đã khiến Alice cảm thấy như mình bị trói buộc.[20] Và mặc dù bị người khác định ra vận mệnh cho mình nhưng cô đã quyết tự chọn cho mình con đường sẽ đi. Nhà bình luận Liz Hoggard đã ca ngợi nhân vật Alice xứng đáng là một mẫu người để các cô gái noi theo: "ngoan cố, dũng cảm, và không giống con gái".[19][21]
  • Johnny Depp trong vai Tarrant Hightopp, với biệt danh Mad Hatter - người làm mũ và là đồng minh của Alice. Diễn viên Wasikowska (thủ vai Alice) đã nói rằng "cả hai nhân vật Alice và Hatter đều cảm thấy họ như là người ngoài và cảm thấy cô đơn trong thế giới riêng của họ, và họ coi nhau như một mối quan hệ bạn bè, đồng minh".[23][24] Mái tóc màu da cam ám chỉ đến một Hatter bị nhiễm chất độc thủy ngân do tác dụng phụ của công việc làm mũ, với đôi mắt cũng màu cam và chiếc mũ được tả rất kỹ lưỡng.[20][25] Những bi kịch của quá khứ đen tối vẫn còn ám ảnh Hatter và ảnh hưởng sâu sắc tới nhân vật cho đến bây giờ.[20] Johnny Depp và Burton nhất trí rằng màu da, màu mắt, tóc, trang phục, giọng nói, tính cách của Hatter sẽ thay đổi trong suốt bộ phim để phản ánh cảm xúc của nhân vật Hatter qua mỗi lần thay đổi đó.[26] Mad Hatter là một nhân vật được tạo ra từ những người khác nhau với chất giọng Scottish Glaswegian. Nhân vật Hatter nhảy điệu "Futterwacken" ở gần cuối phim làm cho nhân vật của Johnny Depp càng thêm huyền ảo.
Helena Bonham Carter trong vai Nữ hoàng Đỏ
  • Helena Bonham Carter trong vai Nữ hoàng Đỏ, một nữ hoàng dễ nổi nóng, giận dữ, luôn quát tháo và có thói quen chém đầu người làm phật ý mình.[20][27][28] Tên của Nữ hoàng Đỏ là Iracebeth, là chị của Nữ hoàng Trắng.[29] Nhân vật này không ưa thích động vật và bà ta sử dụng chúng để làm đầy tớ và làm những trò giải trí; dùng chúng như những con lợn để gác chân mỗi khi bà ta mỏi chân.[30] Nữ hoàng Đỏ tựa như kết quả của sự dung hợp giữa nhân vật Cơ Hậu trong tiểu thuyết Cuộc phiêu lưu của Alice vào xứ sở thần tiên và Nữ hoàng Đỏ trong Through the Looking-Glass.[20] Đầu của nhân vật Nữ hoàng Đỏ được tạo hình trong phim to gấp ba lần bình thường và đó là điểm đặc trưng của nhân vật này.[31][32] Nữ diễn viên Helena Bonham Carter khi diễn vai này đã lấy cảm hứng từ cô con gái của mình là Nell, một bé gái mới biết đi. Cô nói "Nhân vật Nữ hoàng Đỏ mà tôi thủ vai giống như một đứa trẻ mới biết đi, bởi vì bà có một cái đầu to và bà là một "bạo chúa" hung dữ. Mà một đứa trẻ mới biết đi thì không có thiện cảm gì với những thứ xung quanh, chẳng hạn như những sinh vật" và cô nói thêm "Nell làm mọi điều mà không biết nói lời "làm ơn" hoặc "cảm ơn"".[33] Carter cũng nhận xét rằng "Bà ta có vấn đề về mặt cảm xúc. Dường như không có gì có thể làm tan đi cơn giận của bà ta. Cơn thịnh nộ đó đó đã kéo dài được 2 năm rồi".[20]
Anne Hathaway thời kỳ sau quay phim, tháng 1 năm 2010
  • Anne Hathaway trong vai Nữ hoàng Trắng, em gái của Nữ hoàng Đỏ. Tên của Nữ hoàng Trắng là Mirana.[29] Đây là một trong số ít nhân vật trong phim không sử dụng kỹ thuật đồ họa để tạo hình nhân vật.[34] Nữ hoàng Trắng là một nhân vật kì cục và gây ấn tượng.[27] Diễn viên Hathaway nói "Nữ hoàng Trắng và Nữ hoàng Đỏ là hai chị em ruột. Nữ hoàng Trắng là một người muốn về phe hắc ám nhưng bà sợ đi quá xa và sa lầy vào tội ác như Nữ hoàng Đỏ. Điều đó khiến bà luôn tạo mọi thứ xung quanh mình thật sáng sủa và tràn ngập hạnh phúc. Nhưng bà sống trong một thế giới mà bà sợ rằng mình không thể tự chủ được bản thân".[35] Nữ hoàng Trắng là một người yêu hòa bình, chỉ ăn chay với một lời thề không bao giờ giết hại các sinh vật. Cách trang điểm, trang phục, phong cách của nhân vật Nữ hoàng Trắng được lấy cảm hứng từ nhóm nhạc Blondie, nữ diễn viên Greta Garbo và từ các tác phẩm nghệ thuật của Dan Flavin.[35] Burton cũng phát biểu rằng Nigella Lawson là nguồn cảm hứng để ông nghĩ ra tính cách của Nữ hoàng Trắng.[36]
  • Crispin Glover trong vai Stayne, tên đứng đầu trong đội quân K Cơ phục vụ cho Nữ hoàng Đỏ, với một khuôn mặt sẹo và mắt trái của ông bị che bởi một hình trái tim.[31] Stayne rất thủ đoạn, xảo quyệt và kiêu ngạo. Và trong phim, chỉ có Stayne là người duy nhất có thể làm dịu đi những cơn nổi nóng, tức giận của Nữ hoàng Đỏ.
Crispin Glove, tháng 3 năm 2010
Matt Lucas,
tháng 8 năm 2007
  • Matt Lucas thủ cả hai vai Tweedledee và Tweedledum, hai anh em sinh đôi tròn trịa. Hai anh em này luôn không đồng ý với ý kiến của nhau và thường hay nói nhảm cũng như đưa ra những quyết định trái ngược nhau khiến người khác phải bối rối trước họ.[37] Đạo diễn Burton đã nhận xét về tạo hình hai nhân vật này "đó là một sự pha trộn kì quặc".[38]
  • Michael Sheen thủ vai Nivens McTwisp,[29] con Thỏ Trắng[39] luôn trễ giờ và vội vã.[37] Khi Thỏ trắng kêu gọi Alice trở về Xứ Sở Thần Tiên, nó luôn lấy chiếc đồng hồ ra và hối thúc Alice phải thật nhanh chóng.
Michael Sheen, tháng 2 năm 2009
Alan Rickman,
tháng 5 năm 2010
  • Alan Rickman trong vai Absolem,[29] một con sâu bướm màu xanh da trời, một con sâu bướm thông thái, luôn hút thuốc và là một con sâu bướm khó hiểu. Rickman nhận vai để thu âm cho nhân vật Absolem và diễn xuất trên mặt của Rickman đã không được thể hiện trên mặt của nhân vật Absolem như kế hoạch đã định trước đó.[32]
  • Barbara Windsor trong vai Mallymkun,[29] chị sóc chuột chiến binh hung dữ và luôn muốn chiến đấu (mặc dù kích thước của nhân vật rất khiêm tốn). Nhân vật sóc chuột này luôn trung thành với người làm mũ Mad Hatter và luôn tin Mad Hatter là vô địch.[37]
  • Stephen Fry trong vai con mèo nhăn nhở Cheshire,[40] con mèo có thể biến hóa, bay lơ lửng và luôn xuất hiện với một nụ cười bí hiểm và ranh mãnh. Lúc thì Cheshire xuất hiện toàn thân, lúc lại chỉ với một cái đầu. Cheshire thoát ẩn thoát hiện trong những tình huống bất ngờ nhất.[41]
  • Paul Whitehouse trong vai March Hare, con thỏ rừng luôn lo lắng, hơi điên và có thói quen ném tách trà và các vật dụng khác vào người khác.[37][41]
  • Timothy Spall trong vai Bayard,[29] con chó bị bắt buộc phải làm việc cho Nữ hoàng Đỏ vì bà đã giam giữ vợ và các con của con chó Bayard.
  • Michael Gough trong vai Uilleam,[29] con chim cưu màu xanh chỉ xuất hiện trong phim trong một thời gian ngắn. Uilleam có vai trò như một người giúp đỡ Alice.[41]
  • Christopher Lee lồng tiếng con rồng Jabberwocky, con quái vật của Nữ hoàng Đỏ.
  • Leo Bill trong vai Hamish Ascot, con trai của Lord Ascot, là người đã cầu hôn Alice ở đầu phim nhưng đã bị Alice từ chối.[42]
  • Frances de la Tour trong vai Imogene,[41] bà dì của Alice, người luôn hoang tưởng về một ngày nào đó hoàng tử sẽ đến rước mình.[42]

Quá trình làm phim[sửa | sửa mã nguồn]

"Chúng tôi muốn một người mà...thật là khó để diễn đạt thành lời, nhưng có cái gì đó hấp dẫn ở cô ấy, một đời sống nội tâm phong phú. Cô ấy có một sức mạnh, tuy giản dị nhưng đủ làm chúng tôi thực sự thích. Không rực rỡ, không quá cầu kỳ. Đó là lý do tại sao tôi chọn cô ấy."
—Tim Burton chọn diễn viên Mia Wasikowska để thủ vai chính Alice.[43][44]

Theo kế hoạch ban đầu thì ngày khởi chiếu phim dự kiến trong năm 2009, nhưng cuối cùng đã được lùi lại tới ngày 5 tháng 3 năm 2010.[45] Khâu nhiếp ảnh theo như lịch trình được thực hiện từ tháng 5 năm 2008, nhưng cho đến tháng 9 năm 2008 mới bắt đầu thực hiện và hoàn thành trong 3 tháng.[13][46] Cảnh phim trong thời đại Nữ hoàng Victoria được quay tại phim Torpoint và Plymouth từ ngày 1 tháng 9 đến 14 tháng 10. 250 diễn viên địa phương đã được phân vai quần chúng vào đầu tháng 8 năm 2009. Các địa điểm chọn làm phim trường bao gồm Ngôi nhà Antony ở Torpoint, Charlestown, Cornwall và Barbican.[47][48] Mặc dù vậy, không có cảnh quay nào từ Barbican được sử dụng. Khâu ghi hình các chuyển động của diễn viên để lồng vào nhân vật trong phim bắt đầu từ tháng 10 năm 2009 ở Sony Pictures Studios tại thành phố Culver, California, mặc dù những cảnh quay ở đây bị lược bỏ sau đó.[49][50][51] Bộ phim cũng được quay tại Culver Studios.[52] Burton nói rằng ông đã sử dụng kỹ thuật kết hợp các hành động thật của diễn viên với đồ họa máy tính, mà không ghi hình.[53] Ông cũng nói rằng đây là lần đầu tiên mình quay phim trên một phông nền màu xanh.[53] Công việc quay phim trên phông nền xanh chiếm 90% trong toàn bộ khâu quay phim, và hoàn thành chỉ sau 40 ngày.[17] Nhiều diễn viên và nhân viên trong đoàn làm phim cảm thấy buồn nôn, đó là kết quả sau nhiều giờ làm việc trên phông nền xanh. Vì vậy, Burton đã sử dụng thấu kính màu hoa oải hương để khắc phục hiệu ứng tâm lý - thị giác đó.[17] Đối với các phông nền xanh dùng để ghi hình có thể cắt - cúp, các diễn viên phải diễn xuất, hành động mà xung quanh chỉ toàn một màu xanh, ngoài ra không có gì cả. Điều đó có nghĩa là các diễn viên phải tưởng tượng ra mọi thứ xung quanh mình, từ khung cảnh cho đến các nhân vật chung quanh. Diễn viên thủ vai Alice nói: "Điều này khó khăn bởi bạn không thể thu được thông tin gì từ môi trường xung quanh. Bạn phải tưởng tượng ra cảm giác như khi đang ở trong khung cảnh thật sự đúng vậy". Các nhân vật được tạo nên bằng công nghệ CGI trong khâu hậu kỳ như Thỏ trắng, Sóc, Rồng Jabberwocky, chú Thỏ điên March Hare, Chim Dodo thì trong quá trình quay phim các nhân vật này được thay thế bởi các tấm biển màu xanh hoặc là những người thật mặc đồ xanh từ đầu đến chân.[54] Do nhu cầu sử dụng các hiệu ứng kỹ xảo đồ họa nhiều, chẳng hạn như chỉnh sửa kích thước đầu của Nữ hoàng Đỏ, chiều cao của Alice biến đổi liên tục, cố vấn kỹ xảo hình ảnh Ken Ralston đã nói: "Đây là công việc lớn nhất, và cũng là công việc phức tạp và đòi hỏi sáng tạo nhất mà tôi từng làm".[55]

Sony Pictures Imageworks đảm nhận vai trò thiết kế các hiệu ứng hình ảnh trong phim.[56] Tổng cộng có khoảng 2500 hiệu ứng trong bộ phim.[54] Và bộ phim được chú ý hơn cả là ở định dạng 3D. Đạo diễn Burton cảm thấy rằng định dạng 3D trong bộ phim sẽ thích hợp với cốt truyện hơn và với bối cảnh trong phim. Burton và Zanuck vẫn quay phim bằng camera thông thường, dưới định dạng 2D và sau đó chuyển toàn bộ các cảnh quay sang 3D trong giai đoạn hậu kỳ. Zanuck giải thích rằng camera 3D quá đắt tiền và rất "vụng về" khi sử dụng. Và họ cảm thấy rằng không có gì khác nhau giữa quay phim bằng camera 2D để chuyển qua định dạng 3D và quay phim bằng máy quay 3D.[57] Burton cũng nói: "Tôi không thấy ích lợi gì khi quay phim ở định dạng 3D cả. Sau khi chứng kiến quá trình chuyển đổi được thực hiện với bộ phim The Nightmare before Christmas, tôi thấy không có lý do nào để tôi không làm như vậy cả. Quá trình quay sẽ diễn ra đơn giản hơn mà chất lượng hình ảnh vẫn được đảm bảo ở mức tối đa."[20] Tuy nhiên, khi so sánh với bộ phim 3D Avatar thì phần hình ảnh của Alice ở Xứ sở thần tiên chưa thể sống động bằng. Lý do chính là ở Avatar được quay bằng máy quay 3D trực tiếp nên bề dày và hình khối của các nhân vật cũng như khung hình rất rõ nét. Còn ở Alice ở Xứ sở thần tiên thì được quay bằng máy 2D và chuyển sang định dạng 3D nên hình ảnh mờ và lóa. Nhưng bộ phim của Tim Burton có nhiều chi tiết tương tác với khán giả hơn Avatar, như những hành động ném đồ vật, xuất hiện đột ngột hay lao vào màn hình...[11] Đạo diễn James Cameron, người đã làm nên siêu phẩm 3D Avatar khởi chiếu vào tháng 12 năm 2009 đã chỉ trích sự lựa chọn làm phim 3D của Burton. Ông phát biểu: "Không có ý nghĩa gì cả, khi mà quay phim 2D và sau đó là chuyển sang định dạng 3D".[58]

Tạo ra thế giới Underland[sửa | sửa mã nguồn]

Để tạo ra khung cảnh cho xứ sở Underland, đoàn làm phim đã tìm các tư liệu gốc, là các cuốn tiểu thuyết của nhà văn Lewis Carroll. Họ tìm kiếm và sưu tập tất cả các hình ảnh, bức vẽ của các họa sỹ đã từng vẽ hình cho những cuốn tiểu thuyết đó. Sau đó các nhà thiết kế trong đoàn làm phim bàn bạc với nhau để thống nhất tạo ra một xứ sở Underland vẫn giữ được những nét trong tiểu thuyết nhưng phải thật mới lạ. Underland khi Alice tới đang trên đà suy tàn vì sự thống trị độc ác của Nữ hoàng Đỏ. Cảm hứng cho những cảnh tàn tạ, héo úa đó chính là bức ảnh về một gia đình người Anh uống trà bên ngoài ngôi nhà của họ trong thời kì Thế chiến thứ II. Rồi theo mạch phim, về sau khi Alice đi tìm thanh kiếm và quyết đấu với quái vật thì cảnh phim khả quan, sáng sủa hơn.[54]

Tạo hình nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Nữ hoàng Đỏ[sửa | sửa mã nguồn]

Điều khó khăn đối với cố vấn kỹ xảo hình ảnh Ken Ralston khi tạo nhân vật Nữ hoàng Đỏ chính là phóng to cái đầu gấp ba lần bình thường, mà vẫn giữ được các hoạt động khác của cơ thể nhân vật một cách bình thường. Đoàn làm phim đã sử dụng một hệ thống camera đặc biệt để quay những cảnh thay đổi kích thước của nhân vật. Một máy quay thứ hai sẽ quay các chi tiết với độ phân giải cao hơn để cung cấp dữ liệu cho quá trình phóng to. Sau đó đội phụ trách kỹ xảo sẽ ghép các chi tiết đó vào phần cần thiết của tổng thể nhân vật.[54]

Mad Hatter[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với Hatter, đội phụ trách kỹ xảo đã tăng kích thước cho đôi mắt của nhân vật, để có thể thể hiện rõ hơn những cung bậc cảm xúc của nhân vật. Ngoài ra, họ còn cho thay đổi màu mắt của Hatter tùy theo tâm trạng của nhân vật. Đoàn làm phim đã khéo léo tạo hiệu ứng này mà không gây sự quá chú ý của khán giả nhưng vẫn đủ để khán giả có thể nhận ra.[20][54]

Alice[sửa | sửa mã nguồn]

Vấn đề đối với nhân vật Alice là kích thước của cô liên tục thay đổi trong phim. Đó cũng là một thử thách đối với đoàn làm phim, họ phải kết hợp chặt chẽ với nhau để tạo ra những tỷ lệ kích thước khác nhau cho chất vải của những bộ trang phục mà Alice mặc để chúng ăn khớp với nhau qua từng sự biến đổi của Alice. Khi cô thu nhỏ, các sợi vải phải được to ra và ngược lại.[20][54]

Quảng bá và giới thiệu phim[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 22 tháng 6 năm 2009, những hình ảnh đầu tiên của bộ phim được đăng tải trên trang web chính, những hình ảnh này của các nhân vật Mad Hatter, Nữ hoàng Trắng, Nữ hoàng Đỏ và hai anh em sinh đôi Tweedledee và Tweedledum.[46] Một hình ảnh mới của nhân vật Alice cũng được tung ra cùng thời điểm đó.[59] Trong tháng 7, những bức ảnh mới của phim tiếp tục được tung ra với hình ảnh Alice đang giữ Thỏ Trắng, Mad Hatter với thỏ rừng March Hare, Nữ hoàng Đỏ ôm con heo và Nữ hoàng Trắng nâng con chuột trên tay.[60][61][62]

Ngày 22 tháng 7 năm 2009, một đoạn trailer ngắn của bộ phim được tung ra và đăng trên trang web IGN, nhưng lại bị gỡ ngay sau một thời gian ngắn vì Disney xác nhận rằng đoạn trailer đó chưa đến lúc được tung ra. Disney cũng có kế hoạch cho ra mắt đoạn trailer này cùng thời điểm với A Christmas CarolG-Force vào ngày 24 tháng 7 năm 2009. Ngày 25 tháng 7 năm 2009, đoạn trailer phim được ra mắt tại Comic-Con (một hội nghị của những người hâm mộ truyện tranh) nhưng đoạn trailer đó có nhiều chi tiết khác với đoạn trailer bị rò rỉ trước đó. Đoạn trailer tại Comic-Con không có đối thoại của Mad Hatter. Đoạn trailer bị rò rỉ ban đầu được đăng trên một trong ba trang Facebook để quảng bá cho bộ phim. Các trang đó là "Những người trung thành với Nữ hoàng Trắng", "Những người trung thành với Nữ hoàng Đỏ" và "Những người không trung thành với Mad Hatter".[63]

Cũng tại hội nghị Comic-Con, các vật dụng và đạo cụ của bộ phim được trưng bày tại một cuộc triển lãm tên "Alice in Wonderland". Các vật dụng và đạo cụ đó bao gồm: của Nữ hoàng Đỏ là bộ váy, ghế, bộ tóc đỏ, kính, vương trượng; của Nữ hoàng Trắng là bộ váy, bộ tóc dài trắng và mô hình lâu đài của bà; của Mad Hatter là bộ côm-lê, mũ, bộ tóc màu cam, ghế, bàn trà; của Alice là các bộ váy mà Alice đã mặc trong phim, bộ áo giáp (để giết rồng Jabberwocky vào cuối phim), các vật dụng khác như là chiếc chìa khóa để mở cánh cửa tí hon, chiếc bánh "HÃY ĂN TÔI" để tăng kích thước nhân vật, chai nước nhỏ "HÃY UỐNG TÔI" để thu nhỏ kích thước nhân vật.[64]

Thông tin phát hành phim[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi chiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 12 tháng 2 năm 2010, các rạp phim ở Anh gồm Odeon, Vue và Cineworld đã có kế hoạch tẩy chay Alice ở Xứ sở thần tiên vì thời gian từ lúc chiếu rạp cho đến lúc ra DVD lẽ ra là 17 tuần thì hãng sản xuất đã giảm xuống còn 12 tuần.[65] Một tuần sau khi thông báo điều đó, rạp phim Cineworld, rạp có thị phần chiếm 24% trong thị trường rạp chiếu phim tại Anh, đã chọn chiếu bộ phim này ở hơn 150 rạp trong chuỗi các rạp của Cineworld. Giám đốc điều hành rạp phim Cineworld là Steve Wiener đã phát biểu rằng "Là những người dẫn đầu trong thị trường phim 3D, chúng tôi không muốn công chúng bỏ lỡ một buổi trình chiếu kỳ diệu như vậy. Sự thành công của Avatar đã cho thấy, hiện nay đang có một cơn bão khao khát với trải nghiệm phim 3D".[66] Ngay sau đó, chuỗi rạp phim Vue cũng ký thỏa thuận với Disney để chiếu Alice ở Xứ sở thần tiên, nhưng rạp Odeon vẫn tẩy chay bộ phim tại Anh, Ý, Ireland.[67] Ngày 25 tháng 2 năm 2010, rạp phim Odeon đã ký thỏa thuận với Disney và quyết định công chiếu phim vào ngày 5 tháng 3 năm 2010.[68] Các buổi chiếu ra mắt Hoàng Gia diễn ra tại rạp phim Odeon Leicester Square ở London vào ngày 25 tháng 2 năm 2010 để gây quỹ The Prince’s Foundation for Children & the Arts, hoàng tử xứ Wales và nữ công tước xứ Cornwall cũng đến dự. Điều đó không ảnh hưởng gì đến kế hoạch trình chiếu bộ phim tại các nước Tây Ban Nha, Đức, Bồ Đào NhaÁo.[67][69][70] Bộ phim được công chiếu tại Mỹ và Anh, ở cả hai nước đều trình chiếu ở các rạp Disney Digital 3D và IMAX 3D,[71] cũng như tại các nhà hát vào ngày 5 tháng 3 năm 2010.[72]Việt Nam, bộ phim được khởi chiếu với hai định dạng truyền thống và 3D tại các rạp trên toàn quốc vào ngày 12 tháng 3 năm 2010.[1]

Đánh giá và phê bình[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim nhận được nhiều phản hồi và đánh giá. Theo trang web Rotten Tomatoes, bộ phim chỉ nhận được tỉ lệ ủng hộ trung bình là 52%.[73] Bộ phim nhận được đánh giá trung bình 5.7/10 dựa trên 233 bài đánh giá từ các nhà phê bình.[74] Trong "Top Đánh Giá" của trang Rotten Tomatoes có rất nhiều các nhà phê bình nổi tiếng và được chú ý của các tờ báo, các trang web, các chương trình truyền hình và radio hàng đầu,[75] thì bộ phim được đánh giá tích cực là 62% dựa trên mẫu 34 bài đánh giá.[76] Quan điểm chung của giới phê bình mặc dù là bộ phim là một bữa đại tiệc về hình ảnh, nhưng Burton đã đánh mất sự chặt chẽ, mạch lạc và gần như mọi cảm xúc của tác phẩm nguyên bản.[73][76] Trang web Metacritic chuyên bình luận và phê bình các bộ phim, album nhạc, trò chơi đã đánh giá bộ phim Alice ở Xứ sở thần tiên ở mức 53/100 dựa trên 38 bài đánh giá.[77]

Nhà phê bình Todd McCarthy của tạp chí Variety đánh giá cao bộ phim và nhận xét rằng bộ phim có những "khoảnh khắc của niềm vui, sự khôi hài và làm người xem bất ngờ", nhưng cũng nói rằng "khi công chiếu thì đó cũng chỉ chỉ là một bộ phim bình thường, về một cuộc chiến bảo vệ công lý tương tự như những bộ phim bom tấn sử dụng công nghệ CGI khác trong những năm qua".[78] Theo tạp chí The Hollywood Reporter, Tim Burton rất sáng suốt khi lựa chọn định dạng 3D cho bộ phim, phù hợp với khung cảnh của bộ phim.[73] Nhà phê bình Matt Stevens của trang web E!Online đã nhận xét rằng nhân vật Alice mờ nhạt hẳn trong phim và không còn nhận được nhiều sự quan tâm của người xem do số mệnh của cô đã được dự báo trước từ đầu phim. Còn diễn viên Johnny Depp cũng không có gì đặc sắc trong vai người làm mũ Mad Hatter. Nhân vật Nữ hoàng Trắng do Anna Hathaway thủ vai cũng vậy. Chỉ nhân vật Nữ Hoàng Đỏ do Helena Bonham Carter thủ vai là đặc sắc nhất, khác lạ, ác độc nhưng vẫn có chút "con người".[73] Phóng viên Claire Martin của báo Denver Post cho rằng Tim Burton đã tìm được "một cách thức thú vị" để kể một câu chuyên thần tiên. Nhà phê bình Claudia Puig của báo USA Today thì đánh giá định dạng 3D trong bộ phim rất cao. Lou Lumenick của báo New York Post thì phát biểu rằng ông sẽ không có ý muốn xem phần tiếp theo của bộ phim nếu có, mặc dù ông cũng thừa nhận tài năng khai thác hiệu ứng hình ảnh và âm thanh của Tim Burton.[79]

Theo Joe Morgenstern của báo Wall Street Journal thì "hiệu ứng 3D là thú vị, nhưng chiều sâu được bổ sung không khỏa lấp được lỗ hổng trong ý tưởng và kịch bản". Nhà phê bình Keith Phipps của câu lạc bộ điện ảnh The A.V. Club thì chỉ trích bộ phim về sự tham lam quá mức các tình tiết của đạo diễn và người viết kịch bản, ông đã chỉ ra rằng nếu tiểu thuyết của Carroll là sự chuyển tiếp nhẹ nhàng và thơ mộng giữa những câu chuyện kể làm cho trẻ em có thể yên giấc và những giấc mơ trôi đi nhẹ nhàng thì bộ phim của Tim Burton lại đi quá sâu vào cuộc chiến giữa cái thiện, cái tốt với cái xấu trong dòng tường thuật dồn dập, tạo cảm giác ức chế cho người xem một cách không cần thiết, làm cho việc xem phim trở thành mệt mỏi.[80]

Quá nhiều hiệu ứng hình ảnh đặc biệt, đó là điều khiến nhà phê bình Stephanie Zacharek làm việc cho trang web Salon phải phàn nàn. Ông nhấn mạnh: "Burton đã chăm chút quá mức đến bài trí bộ phim và thiết kế nhân vật: từ trang phục đến diện mạo, tính cách, nhưng ông vẫn chưa hài lòng nên đã phải sử dụng thật nhiều kỹ xảo điện ảnh. Cuối cùng là trang phục, diện mạo nhân vật và hiệu quả đặc biệt thị giác đã thu hút gần hết sự chú ý của khán giả khiến họ không còn quan tâm mấy đến tình tiết câu chuyện, vốn đã khó nắm bắt đối với những người tập trung theo dõi nó. Nói chung, Alice ở Xứ sở thần tiên đã trở thành nồi súp cho các chủ nhân pha chế công nghệ mới và thử nghiệm sáng tạo thay vì là mảnh đất của những giấc mơ".[80]

Nhà báo Ty Burr của Boston Globe cho biết đạo diễn Tim Burton không thể che giấu mục đích chính khi làm bộ phim Alice ở Xứ sở thần tiên là doanh thu phải thật cao. Burr cho rằng bộ phim bị ảnh hưởng bởi nhiều phim khoa học giả tưởng, phù thủy, thần tiên được làm trước đó như The Lord of the Rings, Shrek, The Wizard of Oz, The Princess Bride, The Golden Compass. Ty Burr nói: "Tôi không khép Burton vào tội cố ý ăn cắp ý tưởng của người khác, nhưng rõ ràng để phim có thể thu lợi cao ông đã cóp nhặt mỗi nơi một chút".[80] Ông cũng phát biểu thêm rằng: "Trong cái phi thường của ngân sách lớn, Alice thật sự rất bình thường".[79] Nhà phê bình phim Carrie Rickey của The Philadelphia Inquirer cũng đồng ý với nhận xét của Ty Burr. Ông nói vui rằng: "Nếu được phép đặt lại tên phim, tôi sẽ đặt nó là Alice in Narnia: With Stops at Disneyland, the Shire, Rohan, Naboo, and Oz".[80] Nhà phê bình Dana Stevens của tờ báo mạng Slate không hài lòng lắm với cách chuyển thể tác phẩm của Carroll thành bộ phim của Tim Burton vì bà thấy nó bị thiếu một cái gì đó. Bà cho rằng áp lực phải có một bộ phim hoành tráng, đạt lợi nhuận cao đã chi phối mạnh vào khâu biên tập và kịch bản. Bà nói: "Dù bộ phim rất dồi dào tình tiết, thậm chí dư thừa, nhưng tôi vẫn thấy thiếu một thứ. Đó là cái hồn của Alice, là ngôn ngữ của nhân vật chính, và cả những gì Carroll muốn nhắn với thiếu nhi qua bộ truyện Cuộc phiêu lưu của Alice vào Xứ sở thần tiênThrough the Looking Glass của mình".[80]

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù là bộ phim dành cho thiếu nhi với thể loại cổ tích, thần tiên nhưng bộ phim lại chứa những chi tiết u ám, ghê rợn. Theo cơ quan kiểm duyệt phim ảnh Australia, Alice ở Xứ sở thần tiên khiến trẻ em hoảng sợ, khó hiểu và buồn bã khi xem, bởi những tình tiết rắc rối trong phim. Cơ quan kiểm duyệt này đã đưa ra lời khuyên với các bậc phụ huynh là tốt nhất không nên đưa trẻ em đi xem bộ phim này. Mặc dù vậy, các bậc phụ huynh vẫn quyết tâm cho con mình đi xem bởi theo họ, tác phẩm của Carroll đã gây ấn tượng khá mạnh đối với trẻ em.[81]

Doanh thu[sửa | sửa mã nguồn]

Alice ở Xứ sở thần tiên đã giành được vị trí số 1 khi thu về hơn $41 triệu trong ngày đầu tiên công chiếu tại Bắc Mĩ, lập được kỉ lục mới về doanh thu trong ngày đầu công chiếu trong tháng 3.[82][83] Ước tính bộ phim đem về được hơn $116.1 triệu trong ba ngày cuối tuần đầu tiên công chiếu, đánh bại kỉ lục cũ về doanh thu ba ngày cuối tuần đầu tiên công chiếu trong tháng 3 của bộ phim 300 với $70 triệu.[84] Nhờ vào doanh thu $116.1 triệu này, bộ phim đứng thứ 6 trong danh sách những phim có doanh thu vào ngày cuối tuần công chiếu đầu tiên cao nhất mọi thời đại, đứng thứ 1 trong danh sách phim không phải là phần tiếp theo có doanh thu vào ngày cuối tuần công chiếu đầu tiên cao nhất, phá vỡ kỉ lục trước đây của Người nhện.[85] Alice ở Xứ sở thần tiên cũng thu được $94 triệu tại 40 quốc gia khác trong ngày cuối tuần công chiếu đầu tiên, đưa vào tổng doanh thu của bộ phim trên toàn thế giới lên đến $210 triệu trong thời điểm đó.[86] Bộ phim đã phá vỡ kỉ lục chiếu trong các rạp IMAX của Avatar với doanh thu $9 triệu trước đây bằng cách kiếm $11.9 triệu trên 188 định dạng màn hình lớn với trung bình $64.197 cho mỗi địa điểm.[87]

Bộ phim thu về $62.7 triệu trong ngày cuối tuần công chiếu thứ 2, trở thành phim có doanh thu cao thứ 5 trong ngày cuối tuần công chiếu thứ 2, và giữ vị trí số một trong tuần đó.[88] Trong ngày cuối tuần thứ 3, bộ phim đứng nhất về doanh thu với $34.1 triệu, trở thành phim đứng thứ 6 về doanh thu trong ngày cuối tuần thứ 3, và đạt doanh thu cao hơn ba bộ phim ra mắt vào tuần đó là Diary of a Wimpy Kid, The Bounty Hunter, và Repo Men.[89][90] Trong hơn 7 tuần công chiếu, bộ phim đem về cho hãng Disney $330,846,000 tại MỹCanada, và $629,500,000 tại các nước khác. Tổng doanh thu trên toàn thế giới là $1,013,927,878 tính đến ngày 6 tháng 6 năm 2010.[4] Với doanh thu 1 tỉ USD ít lâu sau đó, Alice ở Xứ sở thần tiên trở thành bộ phim thứ 6 có doanh thu đạt mốc trên 1 tỉ USD trong lịch sử điện ảnh thế giới. Bộ phim trở thành phim có doanh thu cao nhất trong năm 2010, và trở thành phim có doanh thu cao thứ 5 mọi thời đại.[91][92]

Sản phẩm tại nhà[sửa | sửa mã nguồn]

Hãng Walt Disney Studios Home Entertainment sẽ phát hành phim dưới dạng đĩa Blu-ray Combo Pack (trong đó sẽ bao gồm đĩa Blu-ray, đĩa DVD và đĩa Digital Copy). Định dạng đĩa Blu-ray và DVD sẽ được phát hành vào ngày 1 tháng 6 năm 2010 tại Mỹ và vào 1 tháng 7 năm 2010 tại Úc.[93]

Giải thưởng & đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng Hạng mục Người nhận đề cử Kết quả
National Movie Awards Phim giả tưởng hay nhất Alice ở Xứ sở thần tiên Đề cử
Diễn viên xuất sắc nhất Helena Bonham Carter Đề cử
Johnny Depp Đề cử
MTV Movie Awards Phim hay nhất Alice ở Xứ sở thần tiên Đề cử
Vai diễn phản diện xuất sắc nhất Helena Bonham Carter Đề cử
Ngôi sao toàn cầu (Global Superstar)[94] Johnny Depp Đề cử
Teen Choice Awards Nữ diễn viên xuất sắc nhất Mia Wasikowska Đề cử
Nam diễn viên xuất sắc nhất Johnny Depp Đề cử
Phim giả tưởng hay nhất Alice ở Xứ sở thần tiên Đề cử

Vào ngày 29 tháng 4 năm 2010 tại Clovis Café ở Paris, các thành viên của hội Parisian Psychoanalytical Society đã trao tặng giải thưởng Lacanian Psychoanalysis Prize cho Tim Burton vì bộ phim Alice ở Xứ sở thần tiên của ông.

Award Category Recipient Result
National Movie Awards Best Fantasy Alice in Wonderland Đề cử
Best Performance Helena Bonham Carter Đề cử
Johnny Depp Đề cử
MTV Movie Awards Best Movie Alice in Wonderland Đề cử
Best Villain Helena Bonham Carter Đề cử
Global Superstar Johnny Depp Đề cử
Teen Choice Awards Best Fantasy Actress Mia Wasikowska Đề cử
Best Fantasy Actor Johnny Depp Đề cử
Best Fantasy Film Alice in Wonderland Đề cử
Scene Stealer - Female Anne Hathaway Đề cử
Breakout Female Mia Wasikowska Đề cử
Best Fight Mia Wasikowska vs. The Jabberwocky Đoạt giải
People's Choice Awards[95] Favorite MOVIE Alice in Wonderland Đề cử
Favorite DRAMA MOVIE Alice in Wonderland Đề cử
68th Golden Globe Awards[96] Best Motion Picture – Musical or Comedy Alice in Wonderland Đề cử
Best Actor – Motion Picture Musical or Comedy Johnny Depp Đề cử
Best Original Score Danny Elfman Đề cử
2011 Grammy Awards Best Score Soundtrack Album For Motion Picture, Television Or Other Visual Media Danny Elfman Đề cử
83rd Academy Awards[97] Best Art Direction Robert Stromberg, Karen O’Hara Đoạt giải
Best Costume Design Colleen Atwood Đoạt giải
Best Visual Effects Ken Ralston, David Schaub, Carey Villegas and Sean Phillips Đề cử
64th British Academy Film Awards[98] BAFTA Award for Best Costume Design Colleen Atwood Đoạt giải
BAFTA Award for Best Makeup and Hair Đoạt giải
BAFTA Award for Best Film Music Danny Elfman Đề cử
BAFTA Award for Best Production Design Robert Stromberg and Karen O’Hara Đề cử
BAFTA Award for Best Special Visual Effects Đề cử
2011 Kids' Choice Awards[99] Favorite Movie Alice in Wonderland Chưa quyết định
Favorite Movie Actor Johnny Depp Chưa quyết định

Nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Alice in Wonderland: An Original Walt Disney Records Soundtrack[sửa | sửa mã nguồn]

Burton đã cộng tác với nhạc sĩ Danny Elfman để cho ra album nhạc phim Alice in Wonderland: An Original Walt Disney Records Soundtrack (Alice ở Xứ sở thần tiên: Nhạc phim gốc). Danny Elfman từng tham gia cộng tác với Tim Burton trong rất nhiều bộ phim trước đó như Planet of The Apes, Batman Returns, The Nightmare Before Christmas. Trong lần cộng tác để thực hiện album này, ông phát biểu:[11]

Rõ ràng đây là một câu chuyện về Alice, do đó, Alice không chỉ có duy nhất một mà còn có tới vài giai điệu riêng, từ những âm hưởng ngọt ngào và ngây thơ khi cô bắt đầu chuyến đi, và sau đó mạnh mẽ dần lên, cũng như sự thay đổi của Alice trong phim.

Album Alice in Wonderland: An Original Walt Disney Records Soundtrack được phát hành ngày 2 tháng 3 năm 2010.[100] Album này đứng thứ #89 trên bảng xếp hạng Billboard Top 200 Albums. Dưới đây là danh sách các bài hát trong album:

Alice in Wonderland: An Original Walt Disney Records Soundtrack
Nhạc nền phim của Danny Elfman
Phát hành 2 tháng 3, 2010
Hãng đĩa Walt Disney Records
Thứ tự album của Danny Elfman
Người sói
(2010)
Alice in Wonderland: An Original Walt Disney Records Soundtrack
(2010)
STT Tên bài hát Thời lượng
1. "Alice's Theme"   5:07
2. "Little Alice"   1:34
3. "Proposal/Down the Hole"   2:58
4. "Doors"   1:51
5. "Drink Me"   2:48
6. "Into the Garden"   0:50
7. "Alice Reprise #1"   0:26
8. "Bandersnatched"   2:42
9. "Finding Absolem"   2:41
10. "Alice Reprise #2"   0:38
11. "The Cheshire Cat"   2:07
12. "Alice and Bayard's Journey"   4:04
13. "Alice Reprise #3"   0:24
14. "Alice Escapes"   1:07
15. "The White Queen"   0:36
16. "Only a Dream"   1:25
17. "The Dungeon"   2:18
18. "Alice Decides"   3:14
19. "Alice Reprise #4"   1:01
20. "Going to Battle"   2:41
21. "The Final Confrontation"   1:41
22. "Blood of the Jabberwocky"   2:37
23. "Alice Returns"   3:14
24. "Alice Reprise #5"   2:56

Almost Alice[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Almost Alice

Almost Alice là album tuyển tập các bài hát được lấy cảm hứng từ phim Alice ở Xứ sở thần tiên. Album gồm các bài hát của nhiều nghệ sĩ khác nhau.[100][101][102] Album được phát hành vào ngày 2 tháng 3 năm 2010.[100] Trong số đó có single Alice của Avril Lavigne được phát lần đầu vào ngày 27 tháng 1 năm 2010 trên chương trình radio của Ryan Seacrest.[103]

Trò chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Alice in Wonderland (trò chơi)
Nhà phát triển Étranges Libellules
Nhà phát hành Disney Interactive Studios
Nền tảng Nintendo DS, Wii, PC
Ngày phát hành 2 tháng 3 năm 2010
Thể loại Hành động, phiêu lưu
Đánh giá PEGI: 12+
ESRB: E10+

Ngày 23 tháng 7 năm 2010, hãng Disney Interactive Studios đã công bố về việc sản xuất video game mô phỏng từ bộ phim Alice ở Xứ sở thần tiên. Trò chơi này được phát hành cùng thời điểm với ngày khởi chiếu phim. Đây là trò chơi tương thích trên các hệ Wii, Nintendo DS và Windows PC. Nhạc nền của video game được soạn bởi nhà soạn nhạc Richard Jacques.[104] Các phiên bản trò chơi trên các hệ Wii, Nintendo DS và PC được phát hành vào ngày 2 tháng 3 năm 2010.[105] Trò chơi Alice in Wonderland được phát triển bởi Étranges Libellules, Pháp. Michael Lafferty đã đánh giá 7.6 trong thanh điểm 10 cho trò chơi này và nhận xét rằng "đồ họa trong trò chơi đẹp, mặc dù trò chơi không có gì mới lạ, nó vẫn tuyệt. Đó là một trò chơi có sự mô phỏng từ một bộ phim, nhịp điệu hay, nhưng dễ bị ảnh hưởng".[106]

Trước khi phim được khởi chiếu, trên kho ứng dụng của Apple cũng đã có trò chơi Alice in Wonderland phỏng theo bộ phim. Trong trò chơi, cuộc phiêu lưu của Alice có cả những câu đố và để đi tiếp chặng đường thì người chơi phải giải các câu đố đó. Trên kho ứng dụng của Apple, trò chơi này được bán với giá $4.99.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â T.Minh (2 tháng 3, 2010). “"Alice ở Xứ sở thần tiên" – bộ phim 3D thứ 2 ra mắt khán giả Việt”. hanoimoi.com.vn. Truy cập 17 tháng 5, 2010. 
  2. ^ “Alice ở Xứ sở thần tiên, đánh giá của BBFC”. BBFC. Truy cập 16 tháng 2, 2010. 
  3. ^ Fritz, Ben (7 tháng 3, 2010). “"First look: 'Alice in Wonderland' opens to record-setting $210 million"”. Los Angeles Times. Tribune Company. Truy cập 7 tháng 3, 2010. 
  4. ^ a ă “Alice in Wonderland (2010) – Box Office Mojo”. Box Office Mojo. IMDb. Truy cập 6 tháng 6, 2010. 
  5. ^ “'Alice ở Xứ sở thần tiên' đạt vị trí số 10 trong bảng xếp hạng phim ảnh mọi thời đại tính đến tháng 5 năm 2010 của Box Office - Reaches Number 10 in All-Time Box Office: Report”. Moviefone. Truy cập 4 tháng 5, 2010. 
  6. ^ “'Alice' Now No. 10 in All-Time Global Box Office”. TheWrap.com. Truy cập 4 tháng 5, 2010. 
  7. ^ “2010 Yearly Box Office Results”. Box Office Mojo. IMDb. Truy cập 13 tháng 5, 2010. 
  8. ^ “"Alice in Wonderland" Tops $1 billion at worldwide box office”. AMC Entertainment. Truy cập 26 tháng 5, 2010. 
  9. ^ “"Alice in Wonderland" Tops $1 billion worldwide”. Get The Big Picture. Truy cập 26 tháng 5, 2010. 
  10. ^ http://news.yahoo.com/s/nm/20100526/media_nm/us_alice
  11. ^ a ă â N.M (12 tháng 3, 2010). “Alice đưa khán giả VN bước vào xứ sở 3D diệu kỳ”. vnexpress.net. Truy cập 19 tháng 5, 2010. 
  12. ^ Garrett, Dianne (15 tháng 4, 2007). “Roth resurfaces with independents”. Variety (Reed Business Information). Truy cập 2 tháng 11, 2008. 
  13. ^ a ă Graser, Marc (15 tháng 11, 2007). “Burton, Disney team on 3D films”. Variety (Reed Business Information). Truy cập 15 tháng 8, 2008. 
  14. ^ Rice, Kellen (22 tháng 7, 2009). “Comic-Con 2009: Tim Burton talks Wonderland”. Blast Magazine (B Media Ventures). Truy cập 27 tháng 7, 2009. 
  15. ^ Ryder, Christopher (23 tháng 7, 2009). “Alice in Wonderland – Press Conference with Tim Burton”. Collider.com. Truy cập 9 tháng 1, 2010. 
  16. ^ Salisbury, Mark (10 tháng 3, 2009). “Through Tim Burton's Looking Glass”. Disney 23. 
  17. ^ a ă â Salisbury, Mark (15 tháng 2, 2010). “Tim Burton and Johnny Depp interview for Alice In Wonderland”. The Daily Telegraph (Telegraph Media Group). Truy cập 15 tháng 2, 2010. 
  18. ^ “Walt Disney's ALICE IN WONDERLAND Fun Facts”. Yahoo! Finance (Yahoo!). 4 tháng 2, 2010. Truy cập 5 tháng 2, 2010. [[]][liên kết hỏng]
  19. ^ a ă Rohter, Larry (26 tháng 2, 2010). “Drinking Blood: New Wonders of Alice’s World”. The New York Times. Truy cập 26 tháng 2, 2010. 
  20. ^ a ă â b c d đ e ê Huyền Nguyễn (12 tháng 3, 2010). “'Alice in wonderland' 3D đến Việt Nam”. zing.vn. Truy cập 17 tháng 5, 2010. 
  21. ^ Hoggard, Liz (25 tháng 2, 2010). “Liz Hoggard: Revenge of the life-savvy over-40s: Burton's Alice – a role model for girls of 2010”. The Independent. Truy cập 27 tháng 2, 2010. 
  22. ^ Taylor, Dave (5 tháng 3, 2010). “Review: "Alice in Wonderland"'”. Dave On Film. Truy cập 26 tháng 3, 2010. 
  23. ^ Abramowitz, Rachel (22 tháng 12, 2009). “'Alice in Wonderland' star Mia Wasikowska on Johnny Depp: 'He's so brave and smart'”. Los Angeles Times (Tribune Company). Truy cập 22 tháng 12, 2009. 
  24. ^ Boucher, Geoff (15 tháng 10, 2008). “Tim Burton talks about Johnny Depp, 'Alice in Wonderland' and 'The Dark Knight'”. Los Angeles Times (Tribune Company). Truy cập 15 tháng 10, 2008. 
  25. ^ Abramowitz, Rachel (24 tháng 12, 2009). “Johnny Depp explains how he picked his poison with the Mad Hatter”. Los Angeles Times (Tribune Company). Truy cập 24 tháng 12, 2009. 
  26. ^ “Johnny Depp is Mad”. Manila Bulletin (Yahoo). 2 tháng 3, 2010. Truy cập 7 tháng 3, 2010. [[]][liên kết hỏng]
  27. ^ a ă “The inhabitants of 'Alice in Wonderland'”. USA Today. Gannett Company. 23 tháng 6, 2009. Truy cập 9 tháng 1, 2010. 
  28. ^ “Cùng Alice "phiêu" trong xứ thần tiên”. 24h.com.vn. 16 tháng 3, 2010. Truy cập 17 tháng 5, 2010. 
  29. ^ a ă â b c d đ “Alice in Wonderland – Glossary of Terms/Script (early draft)” (PDF). Walt Disney Pictures. JoBlo.com. Truy cập 30 tháng 3, 2010. 
  30. ^ Salisbury, Mark (Tháng 3 2010). “Alice in Wonderland: The curious one that will get the kids screaming...”. Total Film (Future Publishing). 
  31. ^ a ă Kit, Borys (24 tháng 10, 2008). “Crispin Glover joins Alice in Wonderland. The Hollywood Reporter (Nielsen Business Media). Truy cập 25 tháng 10, 2008. 
  32. ^ a ă Topel, Fred (19 tháng 12, 2008). “Alan Rickman talks about Alice in Wonderland”. Crushable.com. Truy cập 21 tháng 2, 2010. 
  33. ^ Laws, Roz (5 tháng 3, 2010). “Film: Johnny Depp on magic, madness and The Wiggles”. Birmingham Mail. Trinity Mirror Midlands Limited. Truy cập 7 tháng 3, 2010. 
  34. ^ Topel, Fred (22 tháng 6, 2009). “Tim Burton Takes on 'Alice in Wonderland'”. Yahoo! Movies (Yahoo!). Truy cập 21 tháng 2, 2010. 
  35. ^ a ă “ALICE IN WONDERLAND – New Image and Anne Hathaway Q&A”. Business Wire. 1 tháng 2, 2010. Truy cập 2 tháng 2, 2010. 
  36. ^ Tim Burton's White Queen Based on Nigella Lawson – Foodsection.com, 2/25/10
  37. ^ a ă â b Characters Section on UK Official film site
  38. ^ Boucher, Geoff (9 tháng 2, 2010). “Tim Burton took a 'Shining' to Tweedledee and Tweedledum”. Los Angeles Times. Tribune Company. Truy cập 21 tháng 2, 2010. 
  39. ^ Mainwaring, Rachel (26 tháng 10, 2008). “Actor Sheen in Wonderland”. Western Mail (Trinity Mirror). Truy cập 5 tháng 10, 2008. 
  40. ^ “Five Minutes With: Stephen Fry” (BBC iPlayer). BBC News Online. 18 tháng 2, 2009. Truy cập 20 tháng 2, 2009. 
  41. ^ a ă â b Boshoff, Alison (20 tháng 2, 2010). “Alice's very weird wonderland: Why a behind-the-scenes row might see Tim Burton's most fantastical film yet disappear from cinemas as fast as the Cheshire Cat”. Daily Mail. Associated Newspapers. Truy cập 21 tháng 2, 2010. 
  42. ^ a ă “"Alice in Wonderland's" Queen Trumps the Mad Hatter”. louisvillemojo.com. 7 tháng 3, 2010. Truy cập 17 tháng 5, 2010. 
  43. ^ Hasegawa, Izumi (Tháng 7 2009). “Tim Burton Interview”. Buzzine. Truy cập 28 tháng 7, 2009. 
  44. ^ “Lạc vào xứ sở thần tiên của Tim Burton...”. 2sao.vietnamnet.vn. 10 tháng 3, 2010. Truy cập 17 tháng 5, 2010. 
  45. ^ McClintock, Pamela (20 tháng 2, 2008). “Disney unveils 2009 schedule”. Variety (Reed Business Information). Truy cập 15 tháng 8, 2008. 
  46. ^ a ă Wloszczyna, Susan (22 tháng 6, 2009). “First look: What a weird 'Wonderland' Burton's made”. USA Today (Gannett Company). Truy cập 22 tháng 6, 2009. 
  47. ^ “Burton brings Hollywood to Cornwall”. ThisisCornwall.co.uk. 29 tháng 9, 2008. Truy cập 29 tháng 9, 2008. 
  48. ^ Nichols, Tristan (31 tháng 7, 2008). “Plymouth in Wonderland”. The Plymouth Evening Herald (Northcliffe Media). 
  49. ^ Hassan, Genevieve (22 tháng 9, 2008). “Comic Lucas reveals movie plans”. BBC News Online. Truy cập 22 tháng 9, 2008. 
  50. ^ Roth, Zack (26 tháng 10, 2008). “On The Set of Alice In Wonderland”. ZDONK Entertainment. Truy cập 26 tháng 10, 2008. 
  51. ^ Witcher, Rosamund (3 tháng 2, 2010). “Tim Burton explores "Alice in Wonderland"”. Rotten Tomatoes (Flixster). Truy cập 4 tháng 2, 2010. 
  52. ^ Roberts, Sheila (5 tháng 12, 2008). “Alan Rickman Interview”. Movies Online. Truy cập 5 tháng 12, 2008. 
  53. ^ a ă Gaudiosi, John (25 tháng 7, 2009). “Tim Burton explores "Alice in Wonderland"”. Reuters. Truy cập 27 tháng 7, 2009. 
  54. ^ a ă â b c d Vũ Phượng (từ Megastar). “Alice ở Xứ sở thần tiên - Siêu phẩm 3D thứ hai tại VN”. buzz.yume.vn. Truy cập 17 tháng 5, 2010. 
  55. ^ Goldman, Michael (tháng 4 năm 2010). “Down the Rabbit Hole”. The American Society of Cinematographers. Truy cập 10 tháng 4, 2010. 
  56. ^ Kit, Borys & Carolyn Giardina (24 tháng 9, 2008). “Johnny Depp in deep with Disney”. The Hollywood Reporter (Nielsen Business Media). Truy cập 5 tháng 10, 2008. 
  57. ^ Caddell, Ian (3 tháng 12, 2008). “Richard Zanuck and James Cameron spar over Alice in Wonderland”. Straight.com (Vancouver Free Press Publishing Corp). Truy cập 5 tháng 12, 2008. 
  58. ^ Sciretta, Petter (2 tháng 12, 2008). “James Cameron Criticizes Tim Burton and 3D DVD Releases”. Slashfilm. Truy cập 11 tháng 8, 2009. 
  59. ^ “'Alice in Wonderland' Stills”. Yahoo! Movies (Yahoo!). 22 tháng 6, 2009. Truy cập 11 tháng 6, 2009. 
  60. ^ Ross Miller (4 tháng 7, 2009). “New Alice In Wonderland Character Shots”. screenrant.com. Truy cập 17 tháng 5, 2010. 
  61. ^ “New The White Queen Pic From ‘Alice in Wonderland’”. magicneverends.com. Truy cập 17 tháng 5, 2010. 
  62. ^ “Exclusive: New Alice In Wonderland Pic”. Empire (Bauer Media Group). 14 tháng 7, 2009. Truy cập 14 tháng 7, 2009. 
  63. ^ Frost, John (21 tháng 7, 2009). “Be The First To See The ALICE IN WONDERLAND Teaser Trailer!”. The Disney Blog. Truy cập 21 tháng 7, 2009. 
  64. ^ “Alice in Wonderland Props Totally Rock at Comic Con”. Shockya.com. 25 tháng 7, 2009. Truy cập 25 tháng 7, 2009. 
  65. ^ Reynolds, Simon (12 tháng 2, 2010). “Movies – News – UK cinemas plan 'Alice' boycott”. Digital Spy. Hachette Filipacchi. Truy cập 14 tháng 2, 2010. 
  66. ^ Dawtrey, Adam (18 tháng 2, 2010). “Cineworld backs off from Alice in Wonderland boycott”. The Guardian (Guardian Media Group). Truy cập 21 tháng 2, 2010. 
  67. ^ a ă Tran, Mark (23 tháng 2, 2010). “Odeon refuses to screen Alice in Wonderland after Disney row”. The Guardian. Guardian Media Group. Truy cập 24 tháng 2, 2010. 
  68. ^ Fletcher, Alex (25 tháng 2, 2010). Odeon makes U-turn on 'Alice' boycott”. Digital Spy (Hachette Filipacchi). Truy cập 25 tháng 2, 2010. 
  69. ^ Boucher, Geoff (10 tháng 2, 2010). “'Alice ở Xứ sở thần tiên' sẽ có buổi công chiếu ra mắt tại Anh vào ngày 25 tháng 2 năm 2010”. Los Angeles Times. Tribune Company. Truy cập 11 tháng 2, 2010. 
  70. ^ “Johnny Depp greets fans at Alice In Wonderland premiere”. BBC News. 26 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2010. 
  71. ^ Wloszczyna, Susan (22 tháng 6, 2009). “First look: What a weird 'Wonderland' Burton's made”. USA Today (Gannett Company). Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2009. 
  72. ^ Sciretta, Peter (31 tháng 3, 2009). “Tim Burton’s Alice in Wonderland Gets IMAX 3D Release Read more: Tim Burton’s Alice in Wonderland Gets IMAX 3D Release”. /Film. Truy cập 24 tháng 2, 2010.  Đã bỏ qua văn bản “ /Film http://www.slashfilm.com/2009/03/31/tim-burtons-alice-in-wonderland-gets-imax-3d-release/#ixzz0gUlLPylu” (trợ giúp)
  73. ^ a ă â b Hiếu Trung (13 tháng 3, 2010). “Alice ở Xứ sở thần tiên: Thiếu một chút cảm xúc”. tuoitre.vn. Truy cập 17 tháng 5, 2010. 
  74. ^ “Alice ở Xứ sở thần tiên (2010)”. Rotten Tomatoes. Flixster. Truy cập 19 tháng 3, 2010. 
  75. ^ “Rotten Tomatoes FAQ: What is Cream of the Crop”. Rotten Tomatoes. Flixster. Truy cập 5 tháng 3, 2010. 
  76. ^ a ă “Alice ở Xứ sở thần tiên (2010)”. Rotten Tomatoes. Flixster. Truy cập 5 tháng 3, 2010. 
  77. ^ “Alice in Wonderland Reviews”. Metacritic. CNET Networks. Truy cập 6 tháng 3, 2010. 
  78. ^ McCarthy, Todd (25 tháng 2, 2010). “Alice in Wonderland Review”. Variety. Reed Business Information. Truy cập 26 tháng 2, 2010. 
  79. ^ a ă Khang Huy (12 tháng 3, 2010). “"Alice in Wonderland" đến Việt Nam”. thanhnien.com.vn. Truy cập 17 tháng 5, 2010. 
  80. ^ a ă â b c Hiền Hòa (21 tháng 3, 2010). “Alice In Wonderland - 4 lý do gây thất vọng”. thegioidienanh.vn. Truy cập 19 tháng 5, 2010. 
  81. ^ Báo Đất Việt (8 tháng 3, 2010). “Trẻ em sẽ hoảng sợ khi xem "Alice ở Xứ sở thần tiên"”. giadinh.net.vn. Truy cập 20 tháng 5, 2010. 
  82. ^ “Alice in Wonderland Daily Box Office Results”. Box Office Mojo. IMDb. Truy cập 7 tháng 3, 2010. 
  83. ^ “'Alice in Wonderland' opens strongly at box office”. Reuters. Thomson Reuters. 6 tháng 3, 2010. Truy cập 6 tháng 3, 2010. 
  84. ^ “Top March Opening Weekends at the Box Office”. Box Office Mojo. IMDb. Truy cập 14 tháng 3, 2010. 
  85. ^ “Biggest Opening Weekends at the Box Office”. Box Office Mojo. IMDb. Truy cập 7 tháng 3, 2010. 
  86. ^ Goodman, Dean (7 tháng 3, 2010). “'Alice in Wonderland' leads worldwide box office”. Reuters. Thomson Reuters.  Đã bỏ qua văn bản “ 7 tháng 3, 2010” (trợ giúp)
  87. ^ “Alice in Wonderland Opens to Massive $210.3M Worldwide”. ComingSoon.net. CraveOnline. 7 tháng 3, 2010. Truy cập 7 tháng 3, 2010. 
  88. ^ “Top Grossing Movies in Their 2nd Weekend at the Box Office”. Box Office Mojo. IMDb. Truy cập 14 tháng 3, 2010. 
  89. ^ “Top Grossing Movies in Their 3rd Weekend at the Box Office”. Box Office Mojo. IMDb. Truy cập 25 tháng 3, 2010. 
  90. ^ “Weekend Box Office Results for March 19–21, 2010”. Box Office Mojo. IMDb. Truy cập 25 tháng 3, 2010. 
  91. ^ “2010 Yearly Box Office Results”. Box Office Mojo. IMDb. Truy cập 19 tháng 4, 2010. 
  92. ^ “All Time Worldwide Box Office Grosses”. Box Office Mojo. IMDb. Truy cập 19 tháng 4, 2010. 
  93. ^ “Alice in Wonderland (DVD)”. Truy cập 17 tháng 5, 2010. 
  94. ^ TaurusW (13 tháng 5, 2010). “MTV Movie Awards 2010 công bố đề cử "nóng"”. gioitre.phapluatxahoi.com.vn. Truy cập 29 tháng 5, 2010. 
  95. ^ “2011 People's Choice Awards Nominations”. peopleschoice.com. Truy cập January 28, 2011. 
  96. ^ “Golden Globes: The King's Speech, The Social Network and The Fighter reign supreme; Johnny Depp earns two nominations”. Entertainment Weekly. December 14, 2010. Truy cập January 28, 2011. 
  97. ^ Labrecque, Jeff (January 25, 2011). “Oscar nominations are in... The King's Speech rules with 12 nods”. Entertainment Weekly. Truy cập January 28, 2011. 
  98. ^ “2011 Film Awards Nominees”. January 6, 2011. Truy cập January 28, 2011. 
  99. ^ Kids' Choice Awards 2011 Nominees: Miley Cyrus, Justin Bieber and Selena Gomez lead
  100. ^ a ă â Walt Disney Records (Press Release) (12 tháng 1, 2010). “Buena Vista Records Presents ALMOST ALICE Featuring Other Voices from WONDERLAND”. EarthTimes. Truy cập 15 tháng 1, 2010. 
  101. ^ Kaufman, Gil (11 tháng 1, 2010). “Avril Lavigne Song To Appear On Tim Burton's 'Alice In Wonderland' Soundtrack”. MTV.com (Viacom). Truy cập 11 tháng 1, 2010. 
  102. ^ “Tokio Hotel And Kerli Will Collaborate On Tim Burton's 'Alice In Wonderland' Soundtrack”. MTV Buzzworthy Blog. Viacom. 12 tháng 1, 2010. Truy cập 12 tháng 1, 2010. 
  103. ^ Lavigne Avril. Phỏng vấn với Ryan Seacrest. Phỏng vấn với Avril Lavigne. KIIS Los Angeles, California. Ngày 26 tháng 1, 2010. Lưu trữ ngày 26 tháng 1, 2010.
  104. ^ “Illusion, magic and impossible ideas come to life in upcoming Alice in Wonderland video games from Disney Interactive Studios”. Disney Interactive Studios. 23 tháng 7, 2009. Truy cập 23 tháng 7, 2009. 
  105. ^ Weissman, Jason (17 tháng 2, 2010). “New Trailers for Alice in Wonderland for Wii and DS”. Gamerant.com. Truy cập 21 tháng 2, 2010. 
  106. ^ “Alice in Wonderland - An Adventure Beyond the Mirror (Wii)”. GameZone.com. Truy cập 17 tháng 5, 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]