Cá sa ba

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cá sa ba
Scomber japonicus (Matsuwasaba).jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum)

Chordata

(không phân hạng) Craniata
Phân ngành (subphylum) Vertebrata
Cận ngành (infraphylum) Gnathostomata
Liên lớp (superclass) Osteichthyes
Lớp (class) Actinopterygii
Phân lớp (subclass) Neopterygii
Cận lớp (infraclass) Teleostei
Liên bộ (superordo) Acanthopterygii
Bộ (ordo) Perciformes
Phân bộ (subordo) Scombroidei
Họ (familia) Scombridae
Phân họ (subfamilia) Scombrinae
Chi (genus) Scomber
Loài (species) S. japonicus
Danh pháp hai phần
Scomber japonicus
Houttuyn, 1782
Danh pháp đồng nghĩa
  • Pneumatophorus japonicus
  • Pneumatophorus japonicus japonicus
  • Scomber japonicus japonicus

Cá sa ba[1] hay sa pa (danh pháp hai phần: Scomber japonicus), còn biết đến như là cá thu Thái Bình Dương, cá thu Nhật Bản, cá thu lam hoặc cá thu bống, đôi khi còn gọi là "cá thu đầu cứng" hay "cá thu mắt bò", là một loài cá thu có quan hệ họ hàng gần với cá thu Đại Tây Dương (Scomber scombrus) trong họ Cá thu ngừ (Scombridae).

Nhận dạng[sửa | sửa mã nguồn]

Nó là loài cá nói chung nhỏ hơn cá thu Đại Tây Dương, với chiều dài trung bình trong khoảng 20–35 cm (8-14 inch). Chiều dài lớn nhất đã thông báo là 64 cm[2], trọng lượng lớn nhất đã thông báo là 2,9 kg[3] và tuổi thọ tối đa đã thông báo là 18 năm[4].

Về mặt giải phẫu, quan trọng nhất trong số các khác biệt, là cá sa ba có bong bóng tương đối phát triển gắn với thực quản, mà các loài "cá thu thật sự" trong chi Scomber không có. Nhưng điều đó không có nghĩa là cần phải mổ nó ra để nhận dạng do có khác biệt đặc trưng về màu sắc giữa chúng, với cá thu Đại Tây Dương có hông màu trắng bạc phía dưới đường giữa, trong khi phần dưới của hông cá sa ba có vằn với các đốm nhỏ tối màu, và nó có mắt to hơn cá thu Đại Tây Dương. Các khác biệt ít rõ ràng hơn là các vây lưng mọc gần nhau hơn ở cá sa ba và nó chỉ có 9 hay 10 gai trong vây lưng thứ nhất thay vì từ 11 trở lên, thường thấy ở cá thu Đại Tây Dương. Mặt cắt thân hình elip. Nói chung loài cá này hay di chuyển theo các hải lưu ấm nhưng nói chung chịu đựng nước lạnh tốt hơn cá thu lam. Khi mùa thu tới chúng di chuyển gần về vùng nhiệt đới nhưng khi mùa xuân tới thì chúng lại di chuyển về gần vùng có khí hậu ôn đới. Khoảng cách di chuyển mỗi ngày có thể trên 10 km.

Mùa sinh sản từ tháng 2 tới tháng 8 hàng năm, với trứng có đường kính 1,08-1,15 mm. Các cá thể có chiều dài khoảng 25 cm có thể đẻ 10-40 nghìn trứng trong khi các các thể dài trên 40 cm có thể đẻ tới 80-140 nghìn trứng, tuy nhiên tỷ lệ cá bột sinh tồn không cao do trứng và cá bột bị các loài cá khác ăn.

Hành vi[sửa | sửa mã nguồn]

Cá sa ba di chuyển thành bầy như cá thu Đại Tây Dương, và hành vi kiếm ăn của chúng cũng là tương tự, với thức ăn là các loài giáp xác sống ngoài biển khơi mà chúng bắt được tại cùng một nơi và một chỗ, trong khi những con cá bắt được từ vùng biển ven Woods Hole lại có thức ăn chủ yếu là các loài phù du thuộc phân lớp Chân cong (Copepoda), và ở mức độ ít hơn là các loài thuộc bộ Amphipoda, họ San pê (Salpidae), lớp Appendicularia, cũng như các con cá trích (Clupea spp.) nhỏ. Cá sa ba có thể tạo thành bầy di chuyển cùng các loài như cá ngừ Thái Bình Dương (Sarda chiliensis), cá sòng Thái Bình Dương (Trachurus symmetricus) và cá sacđin Nam Mỹ (Sardinops sagax).

Ngành đánh cá[sửa | sửa mã nguồn]

Sản lượng đánh giá (tấn) từ năm 1950 đến năm 2009

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Cá sa ba sống ngoài khơi với độ sâu sinh sống là 0–300 m, thường gặp tại độ sâu 50–200 m, tại Thái Bình Dương, ngoài khu vực nhiệt đới với nhiệt độ nước trong khoảng 10-27 C. Nói chung nó vắng mặt tại Ấn Độ Dương, ngoại trừ ở khu vực ven Nam Phi, tới khu vực Tây Cape. Cá thu lam (Scomber australasicus) được tìm thấy trong khu vực Hồng Hải và phía bắc Ấn Độ Dương, sự phân bố của nó chồng lấn với vùng phân bố của cá sa ba.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Nó được coi là cá có thịt nạc và trắng thịt, nhưng trong thịt và mỡ cá sa ba rất giàu axít docosahexaenoic (DHA) và axít eicosapentaenoic (EPA). Mùa cá nhiều mỡ là từ mùa thu tới mùa đông còn ít mỡ là từ mùa hè tới mùa thu. Tại Nhật Bản, nó được sử dụng ở dạng nướng, ăn với sushi hoặc có thể ăn gỏi, nhưng cần thận trọng do nó có thể nhiễm giun kí sinh của chi Anisakis. Ngoài ra, trong công nghiệp thực phẩm, người ta còn chế biến nó thành dạng cá hộp, cá hun khói, cá ướp đá hay cá muối.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tên gọi sa ba là phiên âm từ tiếng Nhật サバ)
  2. ^ 1994 US. GLOBEC - Global ocean ecosystems dynamics, a component of the U. S. Global Change Research Program. Eastern Boundary Current Program - A Science Plan for the California Current, Rep. No. 11, August.
  3. ^ 1994 Atlas pesquero de México. Instituto Nacional de la Pesca. 234 trang.
  4. ^ Castro Hernández J.J. và A.T. Santana Ortega, 2000, Synopsis of biological data on the chub mackerel (Scomber japonicus Houttuyn, 1782). FAO Fish. Synop. 157. 77 trang. FAO, Roma.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]