Dangerous (album)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Dangerous
Album phòng thu của Michael Jackson
Phát hành 26 tháng 11, 1991
Thu âm 25 tháng 6, 1990 - 29 tháng 10, 1991
Thể loại R&B, club/dance, dance-pop, urban, Pop rock, new jack swing[1]
Thời lượng 76:58
Hãng đĩa Epic Records
EK-45400
Sản xuất Michael Jackson
Teddy Riley
Bill Bottrell
Đánh giá chuyên môn
Thứ tự album của Michael Jackson
Bad
(1987)
Dangerous
(1991)
HIStory
(1995)
Bìa thay thế
Bản đặc biệt
Đĩa đơn từ Dangerous
  1. "Black or White"
    Phát hành: 11 tháng 10, 1991
  2. "Remember the Time"
    Phát hành: 3 tháng 2, 1992
  3. "In the Closet"
    Phát hành: 20 tháng 4, 1992
  4. "Who Is It"
    Phát hành: 13 tháng 7, 1992
  5. "Jam"
    Phát hành: 31 tháng 8, 1992
  6. "Heal the World"
    Phát hành: 23 tháng 11, 1992
  7. "Give In to Me"
    Phát hành: 15 tháng 2, 1993
  8. "Will You Be There"
    Phát hành: 28 tháng 6, 1993
  9. "Gone Too Soon"
    Phát hành: 6 tháng 9, 1993

Dangerousalbum phòng thu thứ tám của nam ca sĩ nhạc pop người Mỹ Michael Jackson, phát hành ngày 26 tháng 11 năm 1991 bởi hãng đĩa Epic. Đây là album đầu tiên của ông thực hiện sau khi kí hợp đồng mới với Sony Music, và cũng là album đầu tiên kể từ Forever, Michael (1973) mà không có sự tham gia sản xuất của Quincy Jones, người đã đồng ý kết thúc mối quan hệ hợp tác dài lâu sau album Bad (1987). "Dangerous" đã bán được hơn 30 triệu album trên toàn thế giới, trong đó có 7 triệu album đã được tiêu thụ tại Mỹ, và đã trở thành một trong những album bán chạy nhất mọi thời đại.[2][3][4] Album đã sản sinh 4 đĩa đơn lọt vào top 10 bảng xếp hạng Billboard Hot 100 trong đó có một đĩa đơn đạt vị trí số một. Tương tự như các album trước đây của ông, phần âm nhạc của album bao gồm các yếu tố của nhạc R&B, pop và rock cũng như kết hợp một thể loại nhạc mới mẻ, new jack swing, sau khi nhà sản xuất Teddy Riley thuyết phục Jackson cho một sự cách tân mới trong âm nhạc.

"Dangerous" đã được sản xuất trong hơn một năm. Các chủ đề chính được thể hiện trong album bao gồm sự phân biệt chủng tộc, đói nghèo, bệnh hoang tưởng, tình yêu, trẻ em và thế giới. Chín đĩa đơn được phát hành từ album Dangerous giữa tháng 11 năm 1991 đến tháng 12 năm 1993, với bảy đĩa đơn phát hành tại Hoa Kỳ, và hai bài khác chỉ được phát hành bên ngoài nước Mỹ. Hai đĩa đơn phát hành bên ngoài nước Mỹ đã thành công khi nằm trong top 10 và 40 của nhiều quốc gia. "Dangerous" đã đạt vị trí số một tại 9 quốc gia, trong khi nằm trong top 10 ở hầu hết các quốc gia mà nó xuất hiện. Đây là album thứ hai của Michael Jackson đạt được vị trí quán quân trên bảng xếp hạng album Billboard 200 ngay trong tuần đầu tiên, và giữ nguyên vị trí này trong 4 tuần liên tiếp. Các bài hát không được phát hành làm đĩa đơn là "Why You Wanna Trip on Me", "She Drives Me Wild", "Can't Let Her Get Away" và "Keep the Faith" trong khi "Dangerous" ban đầu đã được dự định phát hành video và đĩa đơn nhưng đã bị hoãn lại vô thời hạn do tour diễn của nam ca sĩ và các vấn đề cá nhân sau đó.

Đây là album đầu tiên được sản xuất hoàn toàn bởi Jackson, cùng với sự góp sức từ Bill Bottrell và Teddy Riley. Tên của Jackson được ghi là tác giả trên tất cả các bài hát trong album ngoại trừ hai bài. Album này nhận được nhiều đề cử giải Grammy và giành được một giải cho "Album kĩ xảo nhất" - người chiến thắng là Bruce Swedien & Teddy Riley.[5] Ngoài thành công thương mại, album đã nhận được sự hoan nghênh từ phê bình đương đại. Họ đã công nhận đây là album new jack swing thành công nhất mọi thời đại.[6]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Tháng 10, 1991 - "Black or White" U.S. #1 / UK #1
  2. Tháng 1, 1992 - "Remember the Time" U.S. #3 / UK #3
  3. Tháng 4, 1992 - "In the Closet" U.S. #6 / UK #8
  4. Tháng 7, 1992 (Mỹ); tháng 9 năm 1992 (Anh) - "Jam" U.S. #26 / UK #12
  5. Tháng 8, 1992 (Châu Âu); Tháng 2 1993 (Mỹ) - "Who Is It" U.S. #14 / UK #10
  6. Tháng 10, 1992 - "Heal the World" U.S. #27 / UK #2
  7. Tháng 2, 1993 - "Give In to Me" UK #2 (chỉ phát hành tại Châu Âu)
  8. Tháng 5, 1993 - "Will You Be There" U.S. #7 / UK #8
  9. Tháng 11, 1993 - "Gone Too Soon" UK #33 (chỉ phát hành tại Anh)

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên bài hát Sáng tác Thời lượng
1. "Jam" (hợp tác với Heavy D) Michael Jackson, René Moore, Bruce Swedien, Teddy Riley 5:39
2. "Why You Wanna Trip on Me"   Teddy Riley, Bernard Belle 5:25
3. "In the Closet" (hợp tác với Công chúa Stéphanie của Monaco) Michael Jackson, Teddy Riley 6:32
4. "She Drives Me Wild" (hợp tác với Wreckx-n-Effect) Michael Jackson, Teddy Riley; lời rap: Aqil Davidson 3:42
5. "Remember the Time"   Teddy Riley, Michael Jackson, Bernard Belle 4:01
6. "Can't Let Her Get Away"   Michael Jackson, Teddy Riley 5:00
7. "Heal the World"   Michael Jackson 6:25
8. "Black or White" (hợp tác với L.T.B.) Michael Jackson; lời rap: Bill Bottrell 4:16
9. "Who Is It"   Michael Jackson 6:34
10. "Give In to Me" (featuring Slash) Michael Jackson, Bill Bottrell 5:29
11. "Will You Be There" (Theme from Free Willy) Michael Jackson 7:39
12. "Keep the Faith" (featuring The Andraé Crouch Singers) Glen Ballard, Siedah Garrett, Michael Jackson 5:57
13. "Gone Too Soon"   Larry Grossman, Buz Kohan 3:24
14. "Dangerous"   Michael Jackson, Bill Bottrell, Teddy Riley 7:00

Đề cử Grammy[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đề cử cho Giải thưởng Kết quả
1993 Dangerous Album kĩ xảo nhất Đoạt giải
"Black Or White" Ca sĩ thể loại giọng pop xuất sắc nhất Đề cử
"Jam" Ca sĩ thể loại giọng R&B xuất sắc nhất Đề cử
"Jam" Ca khúc R&B của năm Đề cử


Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng tuần[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Bảng xếp hạng Vị trí
1991 US Billboard 200 1
Norwegian Albums Chart
Australian ARIA Albums Chart
Brazilian Top 100 Albums Chart
French Albums Chart
UK Albums Chart
1992 US Billboard 200
Norwegian Albums Chart
Australian ARIA Albums Chart
Brazilian Top 100 Albums Chart
German Albums Chart[7]
1993 New Zealand Albums Chart
2009 Czech Albums Chart[8] 2
Polish Albums Chart[9] 6
Mexican AMPROFON Top 100 Albums[10] 6
Brazilian Top 10 CD ABPD[11] 4
2010 Czech Albums Chart[8] 39

Xếp hạng thập niên[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (1990–1999) Vị trí
Austrian Albums Chart[12] 8
US Billboard 200[13] 44

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Úc (ARIA)[14] 10× Bạch kim 700.000^
Áo (IFPI Austria)[15] 4× Bạch kim 200.000x
Brazil (ABPD)[16] Vàng 1,000,000[17]
Canada (Music Canada)[18] 6× Bạch kim 600.000^
Chile (IFPI)[19] 5× Bạch kim 125,000
Phần Lan (Musiikkituottajat)[20] Bạch kim 61,896[20]
Pháp (SNEP)[21] Kim cương 2,000,000[22]
Đức (BVMI)[23] 4× Bạch kim 2.000.000^
Indonesia 500,000[24]
Ý (FIMI)[25] 650,000[26]
Nhật (RIAJ)[27] 2× Bạch kim 400.000^
Malaysia (RIM)[28] 7× Bạch kim 175,000
Mexico (AMPROFON)[29] 2× Bạch kim+Vàng 600,000^
Hà Lan (NVPI)[30] 3× Bạch kim 300.000^
New Zealand (RMNZ)[31] 6× Bạch kim 90.000^
Tây Ban Nha (PROMUSICAE)[32] 6× Bạch kim 600.000^
Thụy Điển (GLF)[33] 3× Bạch kim 300.000^
Thụy Sĩ (IFPI Switzerland)[34] 5× Bạch kim 250.000x
Thailand 300,000[35]
Anh (BPI)[36] 6× Bạch kim 2,010,069[37]
Hoa Kỳ (RIAA)[38] 7× Bạch kim 7.000.000^

*Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ
^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng
xChưa rõ ràng

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Dangerous”. AllMusic. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2009. 
  2. ^ “Michael Jackson's Life & Legacy: The Eccentric King Of Pop (1986–1999)”. MTV. MTV. Ngày 6 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2010. 
  3. ^ Levis, Mike: Asia Pacific: The Media at Large, page 68. Billboard magazine (ngày 20 tháng 5 năm 1995).
  4. ^ “Michael Jackson: The Numbers, An Exclusive Look Into The Lifetime Sales Of The King Of POP”. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013. 
  5. ^ “Grammy for Bruce Swedien & Teddy Riley”. Grammy. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2009. 
  6. ^ Carter, Kelley L. (ngày 11 tháng 8 năm 2008). “New jack swing”. Chicago Tribune. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2008. 
  7. ^ “Die ganze Musik im Internet: Charts, News, Neuerscheinungen, Tickets, Genres, Genresuche, Genrelexikon, Künstler-Suche, Musik-Suche, Track-Suche, Ticket-Suche”. musicline.de. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2012. 
  8. ^ a ă ds. “Čns Ifpi”. Ifpicr.cz. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2012. 
  9. ^ “Oficjalna lista sprzedaży :: OLIS – Official Retail Sales Chart”. OLIS. 27 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2012. 
  10. ^ Mexican Albums Chart Week 29 – 2009
  11. ^ July 6 – July 12, 2009
  12. ^ “Best-selling Albums”. Austriancharts.at (bằng German). Hung Medien. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2010. 
  13. ^ Geoff Mayfield (25 tháng 12 năm 1999). 1999 The Year in Music Totally '90s: Diary of a Decade – The listing of Top Pop Albums of the '90s & Hot 100 Singles of the '90s. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  14. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2011 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. 
  15. ^ “Austrian album certifications – Michael Jackson – Dangerous” (bằng tiếng Đức). IFPI Áo.  Nhập Michael Jackson vào khung Interpret (Tìm kiếm). Nhập Dangerous trong khung Titel (Tựa đề). Chọn album trong khung Format (Định dạng). Nhấn Suchen (Tìm)
  16. ^ “Brasil album certifications – Michael Jackson – Dangerous” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Associação Brasileira dos Produtores de Discos. 
  17. ^ “Rock And Roll”. rockandroll.gr. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2012. 
  18. ^ “Canada album certifications – Michael Jackson – Dangerous”. Music Canada. 
  19. ^ “Récord de Ana Gabriel” (bằng Spanish). El Tiempo. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2012. 
  20. ^ a ă “Finland album certifications – Michael Jackson – Dangerous” (bằng tiếng Phần Lan). IFPI Phần Lan. 
  21. ^ “France album certifications – Michael Jackson – Dangerous” (bằng tiếng Pháp). Syndicat National de l'Édition Phonographique. 
  22. ^ “Les Meilleures Ventes de CD/Albums depuis 1968:” (bằng French). infodisc.fr. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2012. 
  23. ^ “Gold-/Platin-Datenbank (Michael Jackson; 'Dangerous')” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. 
  24. ^ Krishna Sen and David T. Hill. Media,Culture and Politics indonesia. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2012. 
  25. ^ “Italy album certifications – Michael Jackson – Dangerous” (PDF) (bằng tiếng Ý). Federation of the Italian Music Industry. 
  26. ^ “E' Claudio Baglioni il Jackson italiano”. La Stampa. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2012. 
  27. ^ “RIAJ > The Record > November 1996 > Highest Certified International Albums/Singles (Mar '89 - Sep '96)”. Recording Industry Association of Japan (bằng Japanese). Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2013. 
  28. ^ “Michael Jackson award”. Sony Music Entertainment. LiveAuctioneers. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2012. 
  29. ^ “Certificaciones 2009”. AMPROFON (bằng Spanish). Facebook. 2009. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2013. 
  30. ^ “Netherlands album certifications – Michael Jackson – Dangerous” (bằng tiếng Hà Lan). Nederlandse Vereniging van Producenten en Importeurs van beeld- en geluidsdragers. 
  31. ^ “Latest Gold / Platinum”. Radioscope. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2011. 
  32. ^ Salaverri, Fernando (tháng 9 năm 2005). Sólo éxitos: año a año, 1959–2002 (ấn bản 1). Spain: Fundación Autor-SGAE. ISBN 84-8048-639-2. 
  33. ^ “Guld- och Platinacertifikat − År 1987−1998” (PDF) (bằng tiếng Thụy Điển). IFPI Thụy Điển. 
  34. ^ “The Official Swiss Charts and Music Community: Awards (Michael Jackson; 'Dangerous')”. Hung Medien. 
  35. ^ Business Review. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2012. 
  36. ^ “Britain album certifications – Michael Jackson – Dangerous” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2012.  Enter Dangerous trong khung Search. Chọn Title trong khung Search by. Chọn album trong khung By Format. Nhấn Go
  37. ^ “Michael Jackson sales special”. music week. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2012. 
  38. ^ “American album certifications – Michael Jackson – Dangerous” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ.  Nếu cần, nhấn Advanced, rồi nhấn Format, rồi nhấn Album, rồi nhấn SEARCH