HIStory: Past, Present and Future, Book I

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HIStory: Past, Present and Future, Book I
Album phòng thu /Album tuyển tập của Michael Jackson
Phát hành 16 tháng 6, 1995 (1995-06-16)
Thu âm Tháng 9, 1994–Tháng 3, 1995
Thể loại Pop, R&B, new jack swing
Thời lượng 71:39 (Đĩa 1)
77:06 (Đĩa 2)
148:45 (Tất cả)
Hãng đĩa Epic
Sản xuất Michael Jackson, Jimmy Jam & Terry Lewis, Dallas Austin, David Foster, Bill Bottrell, R Kelly
Thứ tự album của Michael Jackson
Dangerous – The Remix Collection
(1993)
HIStory: Past, Present and Future, Book I
(1995)
Blood on the Dance Floor: HIStory in the Mix
(1997)
Đĩa đơn từ HIStory: Past, Present and Future, Book I
  1. "Scream/Childhood"
    Phát hành: 31 tháng 5, 1995
  2. "You Are Not Alone"
    Phát hành: 15 tháng 8, 1995
  3. "Earth Song"
    Phát hành: 27 thánh 11, 1995
  4. "This Time Around"
    Phát hành: 26 tháng 12, 1995
  5. "They Don't Care About Us"
    Phát hành: 31 tháng 3, 1996
  6. "Stranger in Moscow"
    Phát hành: 4 tháng 11, 1996
Greatest Hits: HIStory, Volume I
Album tuyển tập của Michael Jackson
Phát hành 13 tháng 11, 2001
Thu âm 1979 – 1991
Thể loại R&B, pop, rock, dance, new jack swing, funk
Thời lượng 71:39
Hãng đĩa Epic
Sản xuất Michael Jackson, Quincy Jones, Teddy Riley, Bill Bottrell
Thứ tự album của Michael Jackson
Invincible
(2001)
Greatest Hits: HIStory, Volume I
(2001)
Number Ones
(2003)

HIStory: Past, Present and Future, Book I (thường được viết tắt là HIStory) là album phòng thu thứ chín của nam ca sĩ nhạc pop người Mỹ Michael Jackson, phát hành vào ngày 16 tháng 6 năm 1995, bởi hãng Epic. Phần lớn các bài hát trong album đều được sáng tác và sản xuất bởi Jackson. HIStory là album đầu tiên của Jackson kể từ khi ông bị cáo buộc lạm dụng tình dục trẻ em năm 1993. Được ghi âm vào khoảng thời gian cuối năm 1994 - đầu năm 1995, 15 bài hát trong album đôi này chủ yếu nhắc đến những lời cáo buộc từ các phương tiện truyền thông liên quan đến Jackson, đặc biệt là các tờ báo lá cải. Các bài hát chủ đề trong album có nội dung bao gồm nhận thức về môi trường, sự cô lập, tham lam, và bất công.

Có thể nói, HIStory là album gây tranh cãi nhất trong sự nghiệp của Jackson. Jackson bị buộc tội sử dụng lời bài hát chống Do Thái trong bài hát "They Don't Care About Us", dẫn đến việc ông phải sửa lời bài hát sau này. Ca khúc "You Are Not Alone" - một ca khúc trong album do R. Kelly sáng tác, đã nhận phán quyết đạo nhạc và sau đó đã bị cấm phát sóng từ các đài phát thanh của Bỉ.

6 đĩa đơn và 2 đĩa đơn quảng cáo đã được phát hành từ HIStory: "Scream", "You Are Not Alone", "Earth Song", "This Time Around", "They Don't Care About Us" và "Stranger in Moscow". "This Time Around" chỉ được phát hành trên sóng phát thanh, và "Earth Song", "They Don't Care About Us" và "Stranger in Moscow" tuy không thành công tại Hoa Kỳ, nhưng lại rất thành công trên thị trường quốc tế, cả ba đều đạt vị trí top 10 ở nhiều quốc gia. Những video của các bài hát trong album đã trở nên ảnh hưởng lớn. Album gồm 2 đĩa: Đĩa đầu tiên (HIStory Begins) là một album tổng hợp những ca khúc hit của Jackson, trong khi đĩa thứ hai (HIStory Continues) bao gồm các bài hát mới, ngoại trừ ca khúc "Come Together" đã được thu âm từ năm 1987.

Album nhận được những đánh giá trái chiều của các nhà phê bình âm nhạc. Về mặt thương mại, album đạt được thành công lớn khi ra mắt ở vị trí số một tại Hoa Kỳ, Canada, Úc, PhápVương quốc Anh, cũng như nằm trong top 10 tại Tây Ban NhaMexico. HIStory được coi là album đa đĩa bán chạy nhất từng được phát hành bởi một nghệ sĩ solo, với 20 triệu bản được bán ra trên toàn thế giới (tổng là 40 triệu đĩa). Album nhận được 5 đề cử giải Grammy, và giành chiến thắng một giải ở hạng mục Video hình thái ngắn xuất sắc nhất cho video bài hát "Scream". Đĩa tuyển tập đầu tiên của album đã được tái phát hành vào ngày 13 tháng 11 năm 2001, với tên gọi Greatest Hits: HIStory, Volume I và đã bán được 4 triệu bản trên toàn thế giới tính đến đầu năm 2010.[1]

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Bối cảnh và quá trình sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

HIStory chủ yếu nhắm vào các tờ báo lá cải. Bắt đầu từ cuối những năm 1980, mối quan hệ giữa Jackson và phương tiện truyền thông đã rất khó khăn. Trong năm 1986, các tờ báo lá cải đã tung lên một câu chuyện rằng Jackson ngủ trong một buồng oxy hyperbaric, tuy nhiên Jackson phủ nhận điều đó.[2] Sau đó, những tờ báo này còn tung tin đồn rằng Jackson đã đề nghị mua bộ xương của "người voi" Joseph Merrick. Jackson đã mô tả câu chuyện này là "một lời nói dối trắng trợn".[2][3] Những câu chuyện ấy dần dần trở nên xấu đi và Jackson còn bị gán thêm biệt danh "wacko Jacko", Jackson bị khinh miệt. Sau đó, anh tạm thời ít tiếp xúc với giới báo chí, và từ đó, các phương tiện truyền thông bắt đầu tạo nên những câu chuyện riêng của họ về đời tư của ông.[4] Năm 1989, Jackson phát hành bài hát và video âm nhạc bài "Leave Me Alone", một bài hát về nhận thức của bản thân dưới bàn tay của báo chí, nhằm chỉ trích sự xen vào đời tư của ông của các phương tiện truyền thông.[5]

Trong năm 1993, mối quan hệ giữa Jackson và báo chí trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết khi ông bị cáo buộc tội lạm dụng tình dục trẻ em. Mặc dù ông không bị kết án tội, nhưng Jackson đã chịu sự giám sát từ giới truyền thông trong khi điều tra vụ án đang diễn ra. Họ đã đặt những tiêu đề giật gân để thu hút độc giả và người xem khi các nội dung chính nó đã không hỗ trợ cho tiêu đề. Điều này đã gây cú sốc lớn về mặt tinh thần cho Jackson.[6] Từ đó, Jackson bắt đầu sử dụng nhiều loại thuốc giảm đau, Valium, XanaxAtivan để đối phó với những căng thẳng của những lời cáo buộc.[7] Một vài tháng sau khi những cáo buộc này trở thành tin tức, Jackson đã nhịn ăn. Chẳng bao lâu sau, sức khỏe của Jackson đã xấu đi đến mức ông đã hủy bỏ phần còn lại của tour lưu diễn của mình và đã đi phục hồi chức năng.[8][9] Jackson đặt toàn bộ tầng thứ tư của một phòng khám và đã được đưa vào người Valium IV để cai thuốc giảm đau. Khi Jackson rời Hoa Kì đi vào phục hồi chức năng, các phương tiện truyền thông cho rằng Jackson cảm thấy không mấy cảm tình. Năm 1993, tờ The Daily Mirror đã tổ chức một cuộc thi "Spot the Jacko", treo thưởng cho độc giả một chuyến đi đến Disney World nếu họ có thể dự đoán một cách chính xác, nơi Jackson sẽ xuất hiện tiếp theo.[8] Cùng năm đó, tiêu đề báo News of the World cáo buộc Jackson là một kẻ chạy trốn, những tờ báo lá cải này cũng sai lầm khi cho rằng Jackson đã đi du lịch đến Châu Âu để có phẫu thuật thẩm mỹ khiến anh ta trông không thể nhận ra khi ông trở về.[8] Vào đầu năm tháng 11 năm 1993, Geraldo Rivera thiết lập một thử nghiệm mô hình, với một ban giám khảo là khán giả, mặc dù Jackson không được cho là một tội phạm.[10]

HIStory: Past, Present and Book I đã được thu âm từ tháng 9 năm 1994 đến tháng 3 năm 1995.[11] Jackson là đồng tác giả và sản xuất đa số các bài hát đặc trưng trong album. Bên cạnh Jackson, các nghệ sĩ khác đóng góp cho album này bao gồm nhạc sĩ Dallas Austin, The Notorious BIG, Bruce Swedien, R. Kelly và Rene Moore và nhà sản xuất khác bao gồm David Foster và Bill Bottrell.[11] HIStory là album phòng thu đầu tiên của Jackson kể từ album Dangerous phát hành 4 năm trước, và là sản phẩm chính thức đầu tiên của ông kể từ khi bị cáo buộc lạm dụng trẻ em tình dục vào năm 1994. HIStory được phát hành như là 1 album đĩa đôi; đĩa đầu tiên (History Begins) bao gồm các ca khúc nổi tiếng của Jackson trích từ 4 album phòng thu trước như: Off the Wall (1979), Thriller, Bad (1987) và Dangerous (1991). Album gồm có các định dạng đĩa CD đôi, cassette đôi, và đĩa hạn chế thời gian định dạng chạy, triple vinyl. Về mặt âm nhạc, HIStory chủ yếu bao gồm R&B, pop, rock, dance, urban, new jack swing, funk, và hip-hop.[12] HIStory chính thức phát hành vào ngày 16 tháng 6 năm 1995 bởi hãng Epic Records thuộc Sony Music.

"HIStory", tương tự các album trước như ThrillerBad, có lời bài hát mang nội dung đối phó với hoang tưởng. Đa số các bài hát được viết bởi Jackson. Một số bài hát trong album liên quan đến các cáo buộc lạm dụng tình dục trẻ em nhằm chống lại Jackson vào năm 1993[13] và sự ngược đãi nhận thức của giới truyền thông đối với ông, chủ yếu là các tờ báo lá cải.[14] Vì vậy, album đã được mô tả như là của album "cá nhân" nhất của Jackson.[15] Thể loại âm nhạc của album pha lẫn R&B, pop, hard rock và ballads.[13][15][16] Lời bài hát liên quan đến sự cô lập, tham lam, mối quan tâm về môi trường, bất công. "Scream" là một bản song ca với em gái Janet Jackson, các nhà phê bình đương đại lưu ý rằng rất khó để phân biệt tiếng nói của họ. "Scream" lời bài hát là về sự bất công.

Tiếp nhận và doanh số[sửa | sửa mã nguồn]

Album nhận được những đánh giá trái chiều từ giới phê bình, nhưng đa số là khen ngợi. Về mặt thương mại, HIStory ra mắt tại vị trí số một trên các bảng xếp hạng Billboard 200Top R&B/Hip-Hop Albums với hơn 391.000 bản được tiêu thụ trong tuần đầu.[17][18] Album được chứng nhận 7 đĩa bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp ghi âm của Mỹ (RIAA) vào ngày 22 tháng 10 năm 1999, công nhận 3.5 triệu album được tiêu thụ ở Hoa Kỳ kể từ khi phát hành.[19] Album đa đĩa được tính một lần cho mỗi đĩa trong album. Bởi vì HIStory là album đĩa đôi, đĩa CD của nó do đó tính cách riêng biệt cho các mục đích chứng nhận, có nghĩa là album đạt được đĩa bạch kim tại Hoa Kỳ sau khi 500.000 bản đã được tiêu thụ, không phải là một triệu. Ở Châu Âu, Liên đoàn công nghiệp ghi âm đã chứng nhận 6 lần đĩa bạch kim, công nhận 6 triệu được tiêu thụ trong lục địa, bao gồm 1,5 triệu bản ở Đức và 1,2 triệu bản được tiêu thụ ở Vương quốc Anh.[20] Đến năm 2010, HIStory đã bán được hơn 20 triệu bản (tính theo cấp số nhân, tổng cộng là 40 bản) trên toàn thế giới,[21] theo MSNBC, là album đa đĩa bán chạy nhất mọi thời đại.[22] Tuy nhiên, mức độ thành công của nó khó có thể so sánh với "Dangerous làm được 4 năm trước.

Giải thưởng, đề cử và kỉ lục[sửa | sửa mã nguồn]

Album được đề cử các giải Grammy trong 2 năm 19961997 tại các lễ trao giải tương ứng, và chiến thắng một giải. "You Are Not Alone" được đề cử ở hạng mục Trình diễn giọng pop nam xuất sắc nhất, "Scream" được đề cử ở hạng mục Trình diễn hợp tác Pop xuất sắc nhất và "Scream" đã giành giải Video hình thái ngắn xuất sắc nhất và "Earth Song" cũng được đề cử ở hạng mục này một năm sau đó. Album cũng được đề cử cho Album của năm. Tại MTV VMA 1995, "Scream" đã nhận được 10 đề cử, và chiến thắng 3 giải.

Album HIStory: Past, Present and Future Book I (1995) của Michael là album đôi của nghệ sĩ solo bán chạy nhất mới thời đại với hơn 20 triệu bản trên toàn thế giới (tính đĩa đơn là 40 triệu bản). Đây cũng là album đôi có doanh số tuần đầu bán chạy nhất trong lịch sử SoundScan với 391.000 bản, đánh bại Live at the BBC của The Beatles. Album cũng đạt kỉ lục là album đứng đầu bảng xếp hạng Vương quốc Anh với ngày phát hành sát với ngày công bố bảng xếp hạng mới (chỉ 2 ngày). Chỉ trong hai ngày đó, hơn 100 000 bản đã được bán ra, hơn doanh số hai album đứng sau cộng lại.[23]

Quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: HIStory World Tour

Sony Music đã chi 30 triệu đô để quảng bá cho album.[24] Trước khi phát hành album, các tờ báo âm nhạc đã dự đoán album sẽ bán như thế nào. Một nhà phân tích cho SoundScan đã bày tỏ ý kiến rằng báo chí đã mất liên lạc với công chúng khi họ đã đến Jackson, công chúng thích anh ấy, trong khi báo chí thì ngược lại. Ông tin rằng "người nói không" trong các phương tiện truyền thông sẽ được sự ngạc nhiên với việc tiếp nhận thương mại cho chiến dịch quảng bá của HIStory.[25] "Smile", "This Time Around" và "D.S." đã được phát hành như là đĩa đơn quảng bá vào năm 1995tháng 12 năm 1997. Do thiếu phát sóng trên radio, "Smile" và "D.S." đã không xuất hiện trên bất kỳ bảng xếp hạng âm nhạc nào trên toàn thế giới. "This Time Around", được phát hành như là đĩa đơn trên sóng phát hành tại Hoa Kỳ trong tháng 12 năm 1995. Bài hát đã đạt vị trí số 23 trên bảng xếp hạng Billboard Hot R&B Singles và 18 trên Billboard Hot Dance Music/Club Play chỉ ra sóng vô tuyến.

Để quảng cáo cho album, Jackson bắt tay thực hiện tour lưu diễn thế giới thành công về mặt thương mại, mang tên HIStory World Tour. Đây là tour lưu diễn solo thứ ba trong sự nghiệp của Jackson, và cũng là tour lưu diễn cuối cùng của ông với tư cách nghệ sĩ solo. HIStory World Tour, bắt đầu tại Prague, Cộng hòa Séc vào ngày 7 tháng 9 năm 1996, thu hút hơn 4,5 triệu người hâm mộ từ 58 thành phố ở 35 quốc gia trên khắp thế giới. Trung bình mỗi chuyến lưu diễn thu hút 54.878 người và kéo dài 82 ngày. Jackson đã không thực hiện bất kỳ buổi hòa nhạc nào tại Hoa Kỳ, ngọai trừ 2 buổi hòa nhạc vào tháng 1 năm 1997 tại Hawaii. Chi phí chỗ ngồi VIP, trung bình tốn khoảng 200 đô mỗi người. Mỗi buổi hòa nhạc ước tính kéo dài 12 giờ và 10 phút. HIStory World Tour kết thúc tại Durban, Nam Phi vào ngày 15 tháng 10 năm 1997.

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm đĩa đơn đã được phát hành từ HIStory. "Scream/Childhood", phát hành như là đĩa đơn Mặt A-đôi, là đĩa đơn đầu tiên phát hành từ HIStory vào tháng 5 năm 1995. "Scream" được hát và thực hiện bởi Jackson và em gái Janet Jackson. Đĩa đơn nhanh chóng ra mắt ở vị trí thứ năm - cũng là vị trí cao nhất của nó, trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Bài hát đã nhận được một đề cử Grammy cho "Trình diễn hợp tác giọng pop xuất sắc nhất".[26][27] Video âm nhạc cho "Scream" là một bài hát được giới phê bình hoan nghênh nhất về video ca nhạc của Jackson, nhận được nhiều giải thưởng. Với ngân sách sản xuất video là 9 triệu USD, "Scream" đã được công nhận là video âm nhạc đắt nhất từng được thực hiện vào năm 2010.[28]

"You're Not Alone" là đĩa đơn thứ hai phát hành từ HIStory. Sau khi ra mắt tại số một trên Billboard Hot 100 vào ngày 02 tháng 9 năm 1995,[29] nó trở thành bài hát đầu tiên trong lịch sử bảng xếp hạng ra ​​mắt tại vị trí số 1, phá vỡ kỷ lục trước đó của "Scream".[26] "You Are Not Alone" đã được phát hành trong tháng 8 năm 1995, và nó đứng đầu các bảng xếp hạng tại các thị trường quốc tế như Vương quốc Anh,[30] Pháp, và Tây Ban Nha.[31] Bài hát này được xem là một thành công lớn về mặt nghệ thuật lẫn thương mại.

"Earth Song" là đĩa đơn thứ ba được phát hành vào tháng 11 năm 1995. "Earth Song" không lọt vào bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Trên thị trường quốc tế, ca khúc đứng đầu bảng xếp hạng của 4 quốc gia, cũng như nằm trong top 10 tại 9 quốc gia khác.[32] Bài hát đã đứng đầu UK Singles Chart trong sáu tuần vào dịp Giáng sinh năm 1995 và đã bán được 1.000.000 bản, đây là đĩa đơn thành công nhất của Jackson tại đây, vượt qua sự thành công của "Billie Jean".[27]

"They Don't Care About Us" là đĩa đơn thứ tư. Nó đạt đến vị trí 30 trên các bảng xếp hạng Billboard Hot 100, và nằm trong top 10 của Billboard's Hot Dance Music và Hot R&B Singles Charts.[33]. Bài hát thành công hơn tại các quốc gia khác, so với Hoa Kỳ, khi nằm trong top 10 tại 14 quốc gia. Bài hát quán quân tại Đức trong ba tuần,[34] hạng 2 ở Tây Ban Nha, hạng 3 ở Áo, Thụy ĐiểnThụy Sĩ, cũng như hạng 4 ở PhápHà Lan.

"Stranger in Moscow" được phát hành như là đĩa đơn thứ năm và cuối cùng trong tháng 11 năm 1996. Bài hát đã được đón nhận bởi các nhà phê bình. "Stranger in Moscow" là single kém thành công nhất của Jackson tại Hoa Kỳ. Tại đây, bài hát chỉ đạt hạng 90.[35] Ngoài nước Mỹ, bài hát lại khả quan hơn, đứng đầu tại Tây Ban NhaÝ, trong khi nằm trong top 10 tại Anh, Thụy Sĩ và New Zealand.

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

HIStory Begins (Đĩa 1)
STT Tên bài hát Sáng tác Thời lượng
1. "Billie Jean" (Từ Thriller) Michael Jackson 4:54
2. "The Way You Make Me Feel" (Từ Bad) Michael Jackson 4:57
3. "Black or White" (song ca với L.T.B.) (từ Dangerous) Michael Jackson; lời phần rap bởi Bill Bottrell 4:15
4. "Rock with You" (Từ Off the Wall) Rod Temperton 3:39
5. "She's Out of My Life" (Từ Off the Wall) Tom Bahler 3:37
6. "Bad" (từ Bad) Michael Jackson 4:07
7. "I Just Can't Stop Loving You" (song ca với Siedah Garrett) (từ Bad) Michael Jackson 4:11
8. "Man in the Mirror" (Từ Bad) Siedah Garrett, Glen Ballard 5:18
9. "Thriller" (Từ Thriller) Rod Temperton 5:57
10. "Beat It" (Từ Thriller) Michael Jackson 4:18
11. "The Girl Is Mine" (song ca với Paul McCartney) (từ Thriller) Michael Jackson 3:41
12. "Remember the Time" (Từ Dangerous) Teddy Riley, Michael Jackson, Bernard Belle 3:59
13. "Don't Stop 'til You Get Enough" (Từ Off the Wall) Michael Jackson 6:04
14. "Wanna Be Startin' Somethin'" (Từ Thriller) Michael Jackson 6:02
15. "Heal the World" (Từ Dangerous) Michael Jackson 6:24
HIStory Continues (Đĩa 2)
STT Tên bài hát Sáng tác Thời lượng
1. "Scream" (song ca với Janet Jackson) James Harris III, Terry Lewis, Michael Jackson, Janet Jackson 4:38
2. "They Don't Care About Us"   Michael Jackson 4:44
3. "Stranger in Moscow"   Michael Jackson 5:43
4. "This Time Around" (song ca với The Notorious B.I.G.) Michael Jackson, Dallas Austin, Bruce Swedien, René Moore 4:20
5. "Earth Song"   Michael Jackson 6:46
6. "D.S." (featuring Slash) Michael Jackson 4:50
7. "Money"   Michael Jackson 4:41
8. "Come Together" (Cover lại từ The Beatles) John Lennon, Paul McCartney 4:02
9. "You Are Not Alone"   R. Kelly 5:45
10. "Childhood" (Ca khúc chủ đề của bộ phim Free Willy 2) Michael Jackson 4:28
11. "Tabloid Junkie"   Michael Jackson, James Harris III, Terry Lewis 4:32
12. "2 Bad" (song ca với Shaquille O'Neal) Michael Jackson, Bruce Swedien, René Moore, Dallas Austin 4:49
13. "HIStory" (hát nền bởi Boyz II Men) Michael Jackson, James Harris III, Terry Lewis 6:37
14. "Little Susie"   Michael Jackson 6:13
15. "Smile" (Cover lại từ Charlie Chaplin) Charlie Chaplin; John Turner, Geoffrey Parsons 4:56

Xếp hạng và chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (1995/1996/2009) Vị trí
cao nhất
Australia ARIA Albums Charts 1[36]
Austria Top 40 2[36]
Belgium Albums Chart (Flanders) 1[36]
Belgium Albums Chart (Wallonia) 1[36]
Brazil Top 10 CD 1[37]
Canadian Albums Chart 1[18]
Chile (APF) 1[38]
Czech Albums Chart 13[36]
Finnish Albums Chart 3[36]
French Albums Chart 1[39]
Italian FIMI Albums Chart 1[40]
Mexican Albums Chart 9[36]
Netherlands MegaCharts 1[36]
New Zealand Albums Chart 1[36]
Norwegian Albums Chart 1[36]
Spanish Albums Chart 2[41]
Swedish Albums Chart 3[36]
Swiss Albums Top 100 1[42]
UK Albums Chart 1[43]
U.S. Billboard 200 1[18]
U.S. Top R&B/Hip-Hop Albums 1[18]

Chứng nhận và doanh số[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Tổ chức Chứng nhận
Argentina CAPFV Bạch kim[44]
Úc ARIA 8× Bạch kim[45]
Áo IFPI 2× Bạch kim[46]
Brazil ABPD Vàng[47]
Canada CRIA 5× Bạch kim[48]
Đan Mạch IFPI Denmark 5× Bạch kim[49]
Châu Âu IFPI 6× Bạch kim[50]
Phần Lan IFPI Bạch kim[51]
Pháp SNEP Kim cương[52]
Đức IFPI 3× Bạch kim[53]
Nhật Bản RIAJ 2x Bạch kim[54]
Mexico AMPROFON Vàng[55]
Hà Lan NVPI 3× Bạch kim[56]
New Zealand RIANZ 10× Bạch kim[57]
Na Uy VG-lista Bạch kim[58]
Ba Lan OLiS Bạch kim[59]
Tây Ban Nha PROMUSICAE 3× Bạch kim[60]
Thụy Điển Sverigetopplistan Bạch kim[61]
Thụy Sĩ IFPI 3× Bạch kim[62]
Vương quốc Anh BPI 4× Bạch kim[63]
Mỹ RIAA 7× Bạch kim[19]

Xếp hạng cuối năm[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (1995) Vị trí
cao nhất
US Billboard 200 32[64]
UK Albums Chart 5[65]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chery, Carl: XXL: Michael Jackson Special Collector's Edition, page 100. American Press.
  2. ^ a ă Ken Tucker (25 tháng 6 năm 2009). “Beyond the Pale”. EW.com. Time Warner Inc. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2010. 
  3. ^ Taraborrelli, p. 355–361
  4. ^ Taraborrelli, p. 370–373
  5. ^ Taraborrelli, p. 365
  6. ^ “Michael Jackson speaks: 'I am totally innocent of any wrongdoing.'”. Jet. 10 tháng 1 năm 1994. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2008. 
  7. ^ Taraborrelli, p. 518–520
  8. ^ a ă â Campbell (1995), p. 89–93
  9. ^ Taraborrelli, p. 524–528
  10. ^ Campbell (1995), p. 104–106
  11. ^ a ă HIStory: Past, Present and Future, Book I liner notes Epic Records (1995).
  12. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên allmusicreview
  13. ^ a ă Patrick Macdonald (21 tháng 6 năm 1995). “'History' Lesson: Jackson's Living On Past Glories”. The Seattle Times. The Seattle Times Company. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010. 
  14. ^ Jim Farber (19 tháng 6 năm 1995). “HIS-SY FIT”. New York Daily News (Mortimer Zuckerman). Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010.  [liên kết hỏng]
  15. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên RS_HIStory
  16. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên e.w.review
  17. ^ “Jackson's 'Invincible' To Debut At No. 1”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. 7 tháng 11 năm 2001. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 
  18. ^ a ă â b “allmusic ((( Michael Jackson > Charts & Awards > Billboard Albums )))”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 
  19. ^ a ă “RIAA – Searchable Database”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 
  20. ^ Carl Bialik (15 tháng 7 năm 2009). “Spun: The Off-the-Wall Accounting of Record Sales”. Online.WSJ.com (Dow Jones & Company, Inc). Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  21. ^ Putti, Laura (24 tháng 8 năm 2001). “Il nuovo Michael Jackson fa un tuffo nel passato”. La Repubblica (bằng Italian). Gruppo Espresso. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2009. 
  22. ^ Access Hollywood (2 tháng 11 năm 2006). “The return of the King of Pop”. MSNBC. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2008. 
  23. ^ M4Me (15 tháng 7 năm 2009). “Những kỉ lục của Michael Jackson”. M4ME And MOD Forum (M4Me). Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  24. ^ “Yahoo! Movies biography”. Yahoo. Yahoo Inc. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2010. 
  25. ^ Farley, Christopher (19 tháng 6 năm 1995). “History and hubris”. Time. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2008. 
  26. ^ a ă Taraborrelli, J. Randy (2004). The Magic and the Madness. Headline. ISBN 0-330-42005-4. 
  27. ^ a ă Michael Jackson, The Ultimate Collection booklet.
  28. ^ Glenday, Craig (2005). Guinness World Records 2006. Guinness. ISBN 1-904994-02-4. 
  29. ^ “Week of September 02, 1995”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2010. 
  30. ^ George, p. 48
  31. ^ “Michael Jackson - You Are Not Alone”. LesCharts.com (bằng tiếng Pháp). Hung Medien. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  32. ^ “M. Jackson - Earth Song (nummer)”. Ultratop (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010. 
  33. ^ “allmusic (((Michael Jackson > Charts & Awards > Billboard Singles )))”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  34. ^ “Artist Chart History - 'They Don't Care About Us' Michael Jackson”. Musicline.de (bằng tiếng Đức). Musicline /Media Control. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  35. ^ “Artist Chart History - Michael Jackson”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2010. 
  36. ^ a ă â b c d đ e ê g h “HIStory”. Ultratop (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 
  37. ^ “CD - TOP 10 Semanal De 06 a 12 de Julho de 2009.” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Associação Brasileira dos Produtores de Discos. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 
  38. ^ “Hits of the World”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc) 107 (35): 61. 2 tháng 9 năm 1995. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2011. 
  39. ^ “French Albums Charts Archive (from 1968 to 2007)”. InfoDisc. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2010. 
  40. ^ “ALBUM - I NUMERI UNO (1995-2006)”. IT-Charts. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2010. 
  41. ^ Fernando Salaverri (2005). Sólo éxitos: año a año, 1959-2002. Fundación Autor-SGAE, 2005. ISBN 84-8048-639-2, 9788480486392 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  42. ^ “Scheweizer HitParade - Alben Top 100 25.06.1995”. HitParadae.ch (bằng Swiss). Hung Medien. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 
  43. ^ “Michael Jackson - History - Past, Present And Future Book 1”. The Official Charts Company. The Official Charts Company. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 
  44. ^ “Argentinian certification” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Cámara Argentina de Productores de Fonogramas y Videogramas. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2010. 
  45. ^ “ARIA Charts — Accreditations”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 
  46. ^ “Gold and Platin (search)” (bằng tiếng Đức). International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 
  47. ^ “Certificados” (bằng tiếng Bồ Đào Nhae). Associação Brasileira dos Produtores de Discos. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 
  48. ^ “CRIA: Certification results-History”. Canadian Recording Industry Association. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2012. 
  49. ^ “Album Top 40”. hitlist.nu. Truy cập 2012-22-04. 
  50. ^ “IFPI Platinum Europe Awards”. International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 
  51. ^ “Finnish certification” (bằng tiếng Phần Lan). International Federation of the Phonographic Industry. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 
  52. ^ “French certification” (bằng tiếng Pháp). Syndicat national de l'édition phonographique. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2012. 
  53. ^ “Gold-/Platin-Datenbank ('HIStory - Past, Present And Future')” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2010. 
  54. ^ “Michael Jackson Award”. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2012. 
  55. ^ “Certificaciones”. Amprofon.com.mx. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2011. 
  56. ^ “Dutch certification (search)” (bằng tiếng Hà Lan). Nederlandse Vereniging van Producenten en Importeurs. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010. 
  57. ^ “Gold / Platinum Albums”. Recording Industry Association of New Zealand. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012. 
  58. ^ “Norwegian certification (search)” (bằng tiếng Na Uy). International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010. 
  59. ^ “Platynowe płyty” (bằng Polish). Oficjalna Lista Sprzedaży. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010. 
  60. ^ “Top 100 Albums: Semana 32: del 03.08.2009 al 09.08.2009” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Productores de Música de España. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  61. ^ “Michael Jackson - HIStory: Past, Present and Future, Book I” (bằng tiếng Thụy Điển). International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010. 
  62. ^ “Edelmentall 1996”. HitParade.com (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 
  63. ^ “British certification”. British Phonographic Industry. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2012. 
  64. ^ “Billboard 200 Year-End of 1995”. geocities (bằng tiếng Nhật). Hung Medien. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 
  65. ^ “1995 in British music”. Wikipedia (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010.