Ilyushin Il-2

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Il-2
Il2 sturmovik.jpg
Kiểu Máy bay cường kích
Hãng sản xuất Ilyushin
Chuyến bay đầu tiên 20 tháng 12-1939
Được giới thiệu 1941
Hãng sử dụng chính Flag of the Soviet Union.svg Không quân Xô viết
Được chế tạo 1941-1945[1]
Số lượng được sản xuất 36.183[2]
Những phương án tương tự Ilyushin Il-1
Ilyushin Il-10

Ilyushin Il-2 Shturmovik (Tiếng Nga: Ил-2 Штурмовик) là một máy bay tấn công mặt đất trong Chiến tranh thế giới thứ hai, được chế tạo bởi Liên bang Xô viết với số lượng rất lớn. Cùng với chiếc máy bay tiếp theo của nó Ilyushin Il-10, tổng cộng 36.183 chiếc đã được chế tạo, khiến nó trở thành mẫu thiết kế máy bay quân sự được chế tạo với số lượng lớn nhất thế giới trong lịch sử hàng không và đứng thứ hai trong số những máy bay được chế tạo sau Cessna 172Polikarpov Po-2.

Với các phi công lái Shturmovik, chiếc máy bay này được gọi đơn giản là "Ilyusha". Với các binh sĩ dưới mặt đất, nó được gọi là "Thằng gù," "Tăng bay", hay cái tên mang ý nghĩa nhất đề cao nhất "Bộ binh bay." Máy bay Il-2 có một vai trò quan trọng trên Mặt trận phía Đông, và trong quan điểm của Liên Xô đây là máy bay giữ vai trò quyết định lớn nhất trong lịch sử chiến tranh dưới mặt đất hiện đại. Josef Stalin đã dành cho Il-2 một sự quan tâm to lớn, và coi Il-2 là một vũ khí không thể thiếu của Hồng quân. Khi một nhà máy máy bay sản xuất đặc biệt loại máy bay này đã chậm trễ giao các máy bay Il-2, Stalin đã gửi một thông điệp cho giám đốc nhà máy: "Chúng quan trọng với Hồng quân như không khí và bánh mì." [3] Theo các quảng cáo của Liên Xô thì thậm chí IL-2 "không hề bị đạn của địch làm thương tổn, lỗ thủng tự liền lại"[4]

Thiết kế và phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Il-2M tại Bảo tàng Hàng không Quốc gia Krumovo, Bulgaria

Ý tưởng về một loại máy bay tấn công mặt đất có giáp bảo hộ của Xô viết đã xuất hiện ngay từ thập niên 1930 khi Dmitry Pavlovich Grigorovich thiết kế chiếc TSh-1TSh-2 hai tầng cánh có giáp bảo vệ. Tuy nhiên, các động cơ Xô viết thời kỳ ấy không đủ công suất cần thiết để giúp chiếc máy bay nặng nề này có thể hoạt động tốt. Chiếc Il-2 được Sergey Ilyushin và đội của ông thiết kế tại Phòng thiết kế trung ương năm 1938. TsKB-55 là chiếc máy bay hai chỗ ngồi với lớp vỏ giáp nặng 700 kg (1.540 lb), bảo vệ phi công, động cơ, bộ tản nhiệt, và thùng nhiên liệu. Trọng lượng rỗng của Ilyushin hơn 4.500 kg (gần 10.000 lb), lớp vỏ giáp chiếm khoảng 15% tổng trọng lượng máy bay. Nguyên mẫu, cất cánh lần đầu ngày 30 tháng 12 năm 1939, đã chiến thắng trong cuộc cạnh tranh cấp chính phủ trước chiếc Sukhoi Su-6 và nhận được tên định danh VVS BSh-2. Tuy nhiên, BSh-2 cuối cùng bị từ chối nhường chỗ cho bản thiết kế một chỗ ngồi nhẹ hơn là TsKB-57, chiếc máy bay này cất cánh ngày 12 tháng 10 năm 1940. Động cơ Mikulin AM-35 1.370 sức ngựa (1.022 kW) nguyên bản tỏ ra quá yếu và đã được thay thế bằng động cơ 1.680 sức ngựa (1.254 kW) Mikulin AM-38 trước khi chiếc máy bay đi vào giai đoạn sản xuất.

Giai đoạn sản xuất bắt đầu năm 1941 với tên gọi Il-2, và 249 đã được chế tạo ở thời điểm Phát xít Đức xâm lược Liên bang Xô viết ngày 22 tháng 6 năm 1941.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Il-2 tại Bảo tàng quân sự Warsaw

Chiếc Il-2 đã đóng vai trò quyết định tại Mặt trận phía Đông, và theo quan điểm Xô viết đây là chiếc máy bay có vai trò quyết định nhất trong lịch sử chiến tranh trên bộ hiện đại. Có thể bay cả ngày lẫn đêm, chúng có khả năng phá hủy lớp vỏ giáp dày của các loại tăng PantherTiger I, và thỉnh thoảng bắn hạ cả những chiếc Bf 109 khi các phi công Đức bất cẩn lúc tấn công chúng. Josef Stalin đã dành cho Il-2 lời chúc tụng nồng nhiệt nhất theo cách của ông: khi một nhà máy sản xuất chậm tiến độ giao hàng so với các nhà máy khác, Stalin đã gửi bức điện sau tới vị giám đốc: "Chúng quan trọng với Hồng quân cũng như không khí và bánh mì." [3]

Chiếc Il-2 lần đầu tiên tham chiến trong 4th ShAP (Trung đoàn Tấn công Mặt đất) trên Sông Berezina vài ngày sau khi cuộc xâm lược của Phát xít Đức bắt đầu. Vì chiếc máy bay quá mới các phi công còn chưa được huấn luyện gì về các đặc tính bay cũng như các chiến thuật chiến đấu, và bộ phận hậu cần dưới mặt đất cũng chưa được đào tạo về bảo dưỡng và tái nạp vũ khí. Đáng ngạc nhiên, tới ngày 10 tháng 7 số lượng Il-2 của 4th ShAP chỉ còn 10 chiếc từ tổng số 65 chiếc trước đó.[5]

Những chiến thuật đã thay đổi khi phi công Xô viết biết cách sử dụng những sức mạnh của Il-2. Thay vì tiếp cận thẳng ở tầm thấp khoảng 50 mét, mục tiêu thường được đặt phía tay trái phi công và một vòng quay bổ nhào hẹp 30 độ sẽ là thích hợp, sử dụng đội hình tấn công từ bốn tới mười hai máy bay một lúc. Dù loại rocket RS-82 của Il-2 có thể phá hủy vỏ giáp của các loại xe bọc thép chỉ bằng một phát bắn, nhưng tỷ lệ trúng đích thấp tới mức các phi công Il-2 chủ yếu phải sử dụng súng trong chiến đấu.[6]

Các máy bay IL-2 của Không quân Liên Xô trong Chiến dịch Berlin, tháng 4-1945

Rất khó xác định khả năng thực của Il-2 nhờ những bằng chứng tài liệu. W. Liss trong Aircraft profile 88: Ilyushin Il-2 đề cập tới một trận chiến trong Trận Kursk ngày 7 tháng 7 năm 1943, trong đó 70 chiếc xe tăng Đức thuộc Sư đoàn Panzer số 9 đã bị những chiếc Ilyushin Il-2 tiêu diệt chỉ trong 20 phút.[7] Trong một bản báo cáo khác về tác chiến ngày hôm đó, một quân nhân Xô viết đã ghi chú rằng

Các lực lượng mặt đất đánh giá rất cao khả năng của không quân trên chiến trường. Một số cuộc tấn công của kẻ địch đã bị cản trở nhờ những chiến dịch không quân của chúng ta. Vì thế vào ngày 7 tháng 7 những cuộc tấn công bằng xe tăng vào vùng Kashara (Quân đoàn số 13) đã bị bẻ gãy. Tại đây những chiếc máy bay tấn công của chúng ta đã tiến hành ba đợt tấn công mạnh mẽ theo các nhóm mỗi nhóm 20-30 chiếc, phá hủy và làm tê liệt 34 xe tăng. Kẻ địch buộc phải tạm ngừng các cuộc tấn công tiếp theo, rút lui bảo toàn lực lượng về phía bắc Kashara.[8]

Nhờ lớp vỏ giáp bảo vệ, một chiếc Il-2 có thể chịu được nhiều phát đạn và đã chứng tỏ là một mục tiêu khó chịu đối với cả hỏa lực mặt đất và trên không. Một số phi công thích ngắm xuống từ buồng lái và gốc cánh trong những cuộc tấn công với đội hình Il-2 ở độ cao tốc độ thấp [9]. Nhiều phi công hàng đầu của Không quân Đức (Luftwaffe) tuyên bố rằng sẽ dễ dàng tiêu diệt Il-2 hơn khi vọt lên từ phía sau, ngoài tầm quan sát của pháo thủ đuôi, và ngắm bắn vào bộ phận bình dầu làm nguội thò ra ngoài của nó. Tính chính xác của tuyên bố này chưa được các phi công Il-2 xác nhận trong những cuộc phỏng vấn thời hậu chiến bởi Il-2 thường bay thấp rất gần mặt đất (chiều cao bay dưới 50 m (160 ft) là thông thường) và bộ phận tản nhiệt chỉ nhô ra 4 in (10 cm) khỏi bề mặt máy bay. Một nguy cơ chính của Il-2 là hỏa lực mặt đất Đức. Trong những cuộc phỏng vấn thời hậu chiến, các phi công Il-2 đã nói rằng pháo 20mm và 30mm chính là mối lo lớn nhất của họ. Tuy loại pháo 88mm có sức công phá lớn, nhưng những chiếc Il-2 là mục tiêu bay với vận tốc lớn so với tỷ lệ bắn khá chậm của loại pháo này và chỉ thỉnh thoảng một vài chiếc bị bắn hạ, các phi công Xô viết rõ ràng không đề cao loại pháo "88" như những phi công lái máy bay ném bom Đồng minh.

Pháo NS-37 của Il-2, Moscow, tháng 3 1943

Lớp giáp của Il-2 dày từ 5 đến 12 mm (0.2 to 0.5 in) và bọc kín động cơ cùng buồng lái có khả năng chống lại các loại đạn nhỏ và những vết bắn sượt của đạn súng cỡ lớn hơn. Đã có những báo cáo về việc lớp giáp vẫn đứng vững sau khi bị bắn trực tiếp bởi đạn 20mm. Không may thay, pháo thủ phía sau không được bảo vệ bởi lớp giáp và phải chịu tỷ lệ thương vong cao gấp bốn lần phi công. Số thương vong càng tăng thêm bởi chính sách của Xô viết không quay trở về với vũ khí thừa khiến máy bay phải bay nhiều vòng trên mục tiêu để xả hết đạn[cần dẫn nguồn]. Quân đội Xô viết thường buộc máy bay phải lượn thêm nhiều vòng trên mục tiêu sau khi đã bắn hết đạn để quan sát chất lượng cuộc bắn phá của những chiếc Il-2 trên trận địa Đức, quân Đức đặt tên cho loại máy bay này là Fleischer (Đồ tể). Cái tên nổi tiếng "Tăng bay" và "Der Schwarze Tod" ("Tử thần đen") không phải do các binh sĩ đặt. Tên tăng bay do nhà thiết kế đặt trong giai đoạn thiết kế đầu tiên. Tên thứ hai do cơ quan tuyên truyền Xô viết. Các phi công Đức gọi chúng là Eiserner Gustav (Gustav Sắt) hay Zementbomber (Máy bay ném bom bê tông) – cả hai đều do khả năng thao diễn kém của loại máy bay này[10]. Tên hiệu Phần Lan Maatalouskone ("Máy nông nghiệp" hay "máy thu hoạch") xuất phát từ kiểu tấn công tầm thấp của nó[11]

Tuy Il-2 đã chứng tỏ là một loại vũ khí không đối đất uy lực, nhưng nó cũng phải chịu nhiều thiệt hại do khả năng thao diễn kém trước các máy bay chiến đấu của địch, vì thế, vào tháng 2 năm 1942, mẫu thiết kế hai chỗ ngồi được khôi phục. Chiếc IL-2M với một pháo thủ phía sau dưới vòm buồng lái kéo dài bắt đấu đi vào hoạt động tháng 9 năm 1942 và tất cả những chiếc một chỗ ngồi đều được sửa đổi theo phiên bản này. Những thay đổi sau này gồm pháo 20-mm thành 23-mm tới 37-mm, cải tiến khí động học, sử dụng tấm cánh bên ngoài bằng gỗ thay cho kim loại để tăng hiệu quả sử dụng nhiên liệu. Năm 1943, chiếc IL-2 Kiểu 3hayr Il-2m3 xuất hiện với kiểu cánh được thiết kế lại nghiêng chéo phía sau 15 độ. Tính năng thao diễn và điều khiển tăng lên nhiều và đây đã trở thành phiên bản thường thấy nhất của Il-2. Một biến thể sử dụng động cơ xuyên tâm của Il-2 với động cơ Shvetsov ASh-82 đã được đệ trình năm 1942 nhằm giải quyết tình trạng thiếu động cơ Mikulin. Tuy nhiên, ASh-82 cũng được dùng trên loại máy bay Lavochkin La-5 mới và sử dụng được tất cả các loại động cơ của phòng thiết kế Lavochkin. Máy bay tấn công mặt đất sử dụng động cơ xuyên tâm Sukhoi Su-2 đã được chế tạo với số lượng nhỏ, nhưng nói chung bị coi là không thích hợp và không đủ khả năng thao diễn cũng như không được bảo vệ tốt. Pháo phòng không Xô viết thường nhầm chiếc máy bay này với máy bay Đức, và thường dẫn tới hậu quả nghiêm trọng.

Sau chiến tranh Il-2 hoạt động tại nhiều quốc gia Đông Âu, và cuối cùng hầu hết những chiếc Il-2/10 đều bị loại bỏ với sự xuất hiện của những chiếc phản lực quân sự. Chỉ vài chiếc còn tồn tại tới ngày nay, gồm những chiếc phục chế từ những chiếc đã lao xuống đất để trưng bày trong bảo tàng. Những năm gần đây, nhiều xác Il-2 đã được phát hiện và lấy lên từ Hồ Balaton, một hồ lớn và nông tại Hungary, gần địa điểm của một trận đấu tăng lớn trong Thế chiến II.

Phi đội[sửa | sửa mã nguồn]

Những phi công Il-2 nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Đại uý Anna Yegorova đã thực hiện 260 phi vụ

Trong số những phi công thành danh khi lái chiếc Il-2 có Đại úy Anna Yegorova, một nữ phi công đã thực hiện 260 phi vụ. Bà ba lần được tặng huân chương, lần cuối là "truy tặng", do phía Liên Xô đã cho rằng bà đã hy sinh sau khi bị bắn hạ. Trên thực tế, bà đã cố tìm cách sống sót trong tình trạng bị giam giữ tại một trại tập trung Đức. Thiếu úy Ivan Grigorevich Drachenko, một phi công Il-2 khác, được cho là một trong bốn người hai lần được trao huân chương Anh hùng Liên bang Xô viết và ba lần được trao Huân chương Vinh quang. Các phi công Begeldinov, Mylnikov, Alekseenko, và Gareev nhận được hai huân chương sao vàng Anh hùng Liên bang Xô viết, Gareev nhận được cả hai ngôi sao trong cùng một ngày.

Anh hùng Liên xô T. Kuznetsov sống sót sau khi chiếc Il-2 của ông bị bắn hạ lao xuống đất năm 1942 trong một phi vụ trinh sát. Kuznetsov thoát được ra khỏi xác máy bay và ẩn nấp gần đó. Trước sự ngạc nhiên của ông, một chiếc Bf 109 của Đức hạ cánh gần nơi đó và viên phi công bắt đầu lấy đi những mảnh xác chiếc Il-2 làm vật kỷ niệm. Quyết định nhanh chóng, Kuznetsov chạy tới chỗ chiếc máy bay Đức và lái nó về nhà, may mắn không bị các máy bay chiến đấu Xô viết bắn hạ.[7]

Là chiếc máy bay đặc trưng của Xô viết trong Thế chiến II, nhiều chiếc Il-2 đã trở thành "quà tặng" cho các phi công đặc biệt và được chi trả một phần nhờ các tổ chức như thị trấn quê hương, các nhà máy hay các đồng đội của các phi công đã ngã xuống. Trường hợp nổi tiếng nhất là một chiếc máy bay được mua bằng tiền tiết kiệm của một cô bé bảy tuổi con gái một phi công trung đoàn 237th ShAP. Biết về cái chết của cha mình, cô bé đã gửi 100 ruble cho Stalin yêu cầu ông dùng số tiền này cho một chiếc Il-2 để trả thù cho cha mình. Đáng ngạc nhiên, Stalin thực sự nhận được bức thư đó và trung đoàn 237th ShAP đã nhận được một chiếc Il-2m3 mới với dòng chữ "Từ Lenochka tặng cha" bên hông.

Nhận xét của các phi công[sửa | sửa mã nguồn]

  • Valentin Grigoryevich Averyanov (phi công, Anh hùng Liên Xô):
Chiếc máy bay này tốt và cần thiết cho cuộc chiến. Mặc dù không phải tất cả các phi công đều thích nó, nhưng quả thật, nó là một thứ vũ khí tin cậy, một chiếc "xe tăng bay" tuyệt vời... Đúng là ở độ cao thấp, nó không thể bổ nhào nhưng lại ném bom rất hiệu quả. Chúng tôi sử dụng từ 400 đến 600 kg bom treo dưới cánh. Tuy không thể nhìn trực diện mục tiêu ném bom trên mặt đất nhưng tôi nghĩ rằng không cần thiết phải làm vậy. Vậy cần làm gì? Có một bí quyết! Do bay thấp nên cần tính toán, căn mục tiêu chính xác. Vũ khí chính xác nhất của máy bay là một khẩu pháo 23 mm. Sau này, chúng tôi đã thay bằng một khẩo pháo NA-37mm. Mỗi khi bạn khai hỏa, máy bay như dừng lại - một hiệu ứng phản lực rất mạnh mẽ của vũ khí.

—Valentin Averyanov, [12]

  • Nikolai Ivanovich Purgin (phi công, Anh hùng Liên Xô):
IL-2 có khả năng chịu thương tích vì nó được bọc thép. Nó có thể thực hiện cuộc ném bom từ độ cao 1.000 m với góc bổ nhào từ 45 đến 60 độ. Thường thì mỗi cuộc công kích của nó diễn ra trong thời gian chưa đầy 10 phút.

—Nikolai Ivanovich Purgin, [13]

  • Nikolai Ivanovich Shtangeev (phi công):
Máy bay này tất nhiên không có tính cơ động cao như máy bay tiêm kích nhưng động cơ của nó hoạt động rất bền bỉ. Máy bay vẫn duy trì được tính năng bay ổn định, ngay cả với những vết thương nghiêm trọng. Tầm nhìn là tuyệt vời và buồng lái thì rất rộng rãi.

—Shtangeev Nikolai Ivanovich, [14]

  • Usov Valentin Vladimirovich (xạ thủ súng máy kiêm cơ khí trên không):
Tôi nghĩ rằng tại thời điểm đó thì đây là máy bay duy nhất có sự kết hợp thành công giữa hỏa lực, khả năng cơ động tốt và vỏ giáp bảo vệ... Tất nhiên, một vỏ giáp dày 20 mm là khá nặng, nhưng đã chống lại được rất nhiều đợt công kích... Ngoài ra, vỏ giáp còn đầy đủ hơn để có thể thu bánh xe vào bên trong một cái "dạ dày" chắc chắn. Điều này tất nhiên làm cho dầu thủy lực bị nóng lên nhưng thiệt hại đó có thể sửa chữa được. Hạn chế duy nhất mà tôi thấy ở loại máy bay này là khó bảo trì.

—Shtangeev Nikolai Ivanovich, [15]

Trong tài liệu nghiên cứu của Bộ nghiên cứu quân sự nước ngoài, Viện Khoa học quân sự Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc do Nhà xuất bản Thanh Hoa - Bắc Kinh ấn hành năm 1984, trong đó có đoạn được cho là dẫn từ một cuốn sách của Viktor Vasilyevich Suvorov, cho rằng việc bố trí pháo thủ phía sau với lớp giáp bảo vệ kém hơn (chỉ 6 mm) là một sự hy sinh có chủ đích. Tuy nhiên, bản gốc cuốn sách này: "Bên trong quân đội Xô viết" do cả hai nhà xuất bản Hamilton - London và MacMillan - New York cùng xuất bản không có đoạn đề cập đến việc này. Năm 1987, John Hackett, Sir khi dịch lại cuốn sách này và ấn hành tại Grafton Book - London cũng bác bỏ đoạn nói trên trong dị bản của Trung Quốc. Nhiều phi công và pháo thủ IL-2 không nhớ đã thấy hoặc nghe về bất kỳ điều gì về một phi đội phi công tù nhân nào ở Liên Xô. Các cơ quan tuyên truyền của Đức cũng không đề cập tới việc này. Trong những năm gần đây, các tài liệu giải mật từ các văn khố Xô viết đã được đưa ra ánh sáng cho thấy Không quân Xô viết thực sự có sử dụng "các đội phạm binh" nhưng họ chỉ được sử dụng làm lính quét dọn đường băng và phục vụ nhũng việc không quan trọng trên mặt đất. Việc họ mon men lại gần các máy bay bị cấm chỉ, có thể bị coi là hành động phản nghịch và bị bắn chết tại chỗ.[16] Đa số những chiếc Il-2 chế tạo sau năm 1944 và loại Il-10 tiếp sau đều có giáp bảo vệ cho pháo thủ. Vladimir Konstantinovich Kokkinaki, phi công thử nghiệm nhiều phiên bản của loại máy bay này cho biết: Thiếu sót ban đầu là kết quả của việc vị trí pháo thủ phía sau chỉ được nghĩ tới và khắc phục sau khi chiếc máy bay này đã trải qua một thời gian chiến đấu[17] và điều đó chắc chắn không phải một hành động có chủ ý.[18]

Chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Il-2 đã được chế tạo với số lượng rất lớn, trở thành một trong những loại máy bay được chế tạo nhiều nhất trong lịch sử máy bay quân sự.

Giai đoạn đầu Cuộc chiến tranh Xô-Đức tốc độ sản xuất còn chậm, vì các nhà máy chế tạo máy bay gần Mátxcơva và các thành phố chính khác ở phía tây nước Nga phải di tản về phía đông dãy Ural sau cuộc xâm lược của Phát xít Đức. Ilyushin và các kỹ sư của mình đã có thời gian để xem xét phương pháp sản xuất, và hai tháng sau khi di chuyển, những chiếc Il-2 đã lại được sản xuất. Tuy vậy, tốc độ này vẫn chưa đáp ứng đòi hỏi của Chủ tịch Stalin, và ông đã gửi bức điện sau cho một giám đốc nhà máy sản xuất Il-2:

Ông đã bỏ rơi đất nước chúng ta và hồng quân của chúng ta. Đến tận thời điểm này ông vẫn chưa sản xuất những chiếc IL-2. Máy bay IL-2 đang cần thiết cho hồng quân, như không khí, như bánh mì. Shenkman sản xuất một chiếc IL-2 mỗi ngày và Tretiakov sản xuất một hay hai chiếc MiG-3 hàng ngày. Đó là một sự chế giễu đối với đất nước và hồng quân của chúng ta. Tôi yêu cầu ông không được để chính phủ phải kiên nhẫn hơn nữa, và yêu cầu ông sản xuất thêm những chiếc IL. Tôi cảnh báo ông lần cuối cùng. Stalin.

Theo một lời kể, "việc sản xuất của Shturmoviks nhanh chóng đạt tốc độ. Quan niệm của Stalin rằng Il-2 'như bánh mì' với Hồng Quân đã có ảnh hưởng tại các nhà máy sản xuất của Ilyushin quân đội nhanh chóng có được số lượng lớn Shturmoviks cho nhu cầu của mình."[19]

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

IL-2 kiểu 1 chỗ ngồi (trái) và IL-2M kiểu 2 chỗ ngồi (phải)
TsKB-55
Nguyên mẫu hai chỗ ngồi
BSh-2
Tên định danh Không quân Liên xô cho nguyên mẫu TsKB-55.
TsKB-57
Nguyên mẫu một chỗ ngồi.
Il-2I
Máy bay chiến đấu có giáp bảo vệ, chỉ là nguyên mẫu.
Il-2
Kiểu sản xuất một chỗ ngồi dùng động cơ AM-38.
Il-2M
Kiểu sản xuất hai chỗ ngồi, pháo ShVAK 20 mm được thay bằng pháo VYa 23mm, dùng động cơ AM-38F cải tiến.
Il-2M3 (Il-2 Type 3)
Cánh nghiêng phía ngoài, phiên bản AM-38F cải tiến hơn nữa.
Il-2 Type 3M
Dùng pháo 37 mm Nudelman-Suranov NS-37 thay loại VYa 23mm.
Il-2T
Phiên bản phóng ngư lôi cho Hải quân Xô viết được trang bị một ngư lôi 533 mm (21 in), chiếc tàu lớn nhất bị đánh đắm khoảng 6.000 tấn giãn nước.
Il-2U
Phiên bản huấn luyện, cũng được gọi là UIl-2.

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Các quốc gia sử dụngIl-2

 Bungary[sửa | sửa mã nguồn]

Không quân Bulgaria đã nhận 120 chiếc Il-2 và 10 chiếc Il-2U huấn luyện năm 1945. Những chiếc máy bay này được sử dụng trong giai đoạn 1945 - 1954[20].

Flag of the Czech Republic (bordered).svg Tiệp Khắc[sửa | sửa mã nguồn]

Không quân Tiệp Khắc nhận 33 chiếc Il-2 và 2 chiếc Il-2U huấn luyện. Chúng được sử dụng trong khoảng 1944 - 1949[21].

 Ba Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Không quân Quân đội Ba Lan (sau năm 1947 Không quân Ba Lan) nhận khoảng 230 chiếc Il-2 trong giai đoạn 1944 - 1946. Tất cả được cho về hưu năm 1949[21].

 Liên Xô[sửa | sửa mã nguồn]

Không quân Xô viết
Hàng không Hải quân Xô viết

Flag of SFR Yugoslavia.svg Nam Tư[sửa | sửa mã nguồn]

Không quân Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư nhận 213 chiếc mọi phiên bản và sử dụng tới tận năm 1954[20].:
  • Sư đoàn không quân đột kích 29
    • Trung đoàn không quân đột kích 421 - Skoplje
    • Trung đoàn không quân đột kích 554 - Niš
  • Sư đoàn không quân đột kích 37
    • Trung đoàn không quân đột kích 422 t - Zagreb-Pleso
    • Trung đoàn không quân đột kích 423 - Ljubljana

Tiêu chuẩn kỹ thuật (Il-2M3)[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc điểm chung[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phi đội: Hai, phi công và pháo thủ phía sau
  • Chiều dài: 11.6 m (38 ft 1 in)
  • Sải cánh: 14.6 m (47 ft 11 in)
  • Chiều cao: 4.2 m (13 ft 9 in)
  • Diện tích cánh: 38.5 m² (414 ft²)
  • Trọng lượng rỗng: 4.360 kg (9.610 lb)
  • Trọng lượng chất tải: 6.160 kg (13.580 lb)
  • Động cơ: Mikulin AM-38F V-12 làm lạnh bằng chất lỏng

Tính năng bay[sửa | sửa mã nguồn]

Trang bị vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Michulec, Ił-2 Ił-10, p. 27-28.
  2. ^ Michulec, Ił-2 Ił-10, p. 27.
  3. ^ a ă Hardesty 1982, p. 170.
  4. ^ Con người bay lên trời-NXB Trẻ p34
  5. ^ Shores 1977, p. 73.
  6. ^ Shores 1977, p. 72-82.
  7. ^ a ă Liss,1966
  8. ^ Glantz and Orenstein 1999, p.260.
  9. ^ http://www.tarrif.net/wwii/interviews/ilmari_juutilainen.htm
  10. ^ Michulec, Ił-2 Ił-10, p.3
  11. ^ Source German wiki: Im Landserjargon auch als "Eiserner Gustav" bekannt
  12. ^ Драбкин Артем, Я дрался на Ил-2 — М.: Яуза, Эксмо, 2005
  13. ^ Драбкин Артем, Я дрался на Ил-2 — М.: Яуза, Эксмо, 2005
  14. ^ Драбкин Артем, Я дрался на Ил-2 — М.: Яуза, Эксмо, 2005
  15. ^ Драбкин Артем, Я дрался на Ил-2 — М.: Яуза, Эксмо, 2005
  16. ^ Voice of Russia article accessed May 2006
  17. ^ Григорьев Григорий Карлович, Следы в небе. — М.: ДОСААФ, 1960
  18. ^ Tư liệu về IL-2
  19. ^ web reference accessed June 2006. See also www.vectorsite.net article.
  20. ^ a ă Michulec, Ił-2 Ił-10, p.29
  21. ^ a ă Michulec, Ił-2 Ił-10, p.28
  • Donald, Donald and Lake, Jon, eds. Encyclopedia of World Military Aircraft. London: AIRtime Publishing, 1996. ISBN 1-880588-24-2.
  • Glantz, David M. and Orenstein, Harold S. The Battle for Kursk 1943: The Soviet General Staff Study. London: Frank Cass, 1999. ISBN 0-7146-4493-5.
  • Hardesty Von. Red Phoenix: The Rise of Soviet Air Power, 1941-1945. Washington, DC: Smithsonian Books, 1982. ISBN 1-56098-071-0.
  • Liss, W. Ilyushin Il-2: Aircraft profile 88. Leatherhead, UK: Profile Publications, 1968. No ISBN.
  • Michulec, Robert. Ił-2 Ił-10. Monografie Lotnicze #22. Gdańsk: AJ-Press, 1999. ISBN 83-86208-33-3. (Polish language)
  • Шавров, В.Б. () История конструкций самолетов в СССР 1938-1950 гг. (3 изд.). Moscow: Машиностроение, 1994. ISBN 5-217-00477-0. (Shavrov, V.B. Istoriia konstruktskii samoletov v SSSR, 1938-1950 gg. (3rd ed.). translation: History of Aircraft design in USSR: 1938-1950. Moscow: Mashinostroenie Publishing House, 1994. ISBN 5-217-00477-0.)
  • Shores, Christopher. Ground Attack Aircraft of World War II. London: Macdonald and Jane's, 1977. ISBN 0-356-08338-1.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ để liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dãy
  • Máy bay tương tự