Công Ấn Độ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Pavo cristatus)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Pfau imponierend.jpg
Con trống
Pavo cristatus -Tierpark Hagenbeck, Hamburg, Germany -female-8a (1).jpg
Con mái
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Aves
Bộ (ordo) Galliformes
Họ (familia) Phasianidae
Phân họ (subfamilia) Phasianinae
Chi (genus) Pavo
Loài (species) P. cristatus
Danh pháp hai phần
Pavo cristatus
Linnaeus, 1758
Indian Peacock Range.svg

Công Ấn Độ hay Công xanh (danh pháp khoa học: Pavo cristatus) là một loài chim lớn và rực rỡ của họ trĩ gốc từ Nam Á, nhưng được giới thiệu và bán hoang dã ở nhiều nơi khác trên thế giới. Loài này lần đầu tiên được đặt tên và được mô tả bởi Linnaeus vào năm 1758. Tên Pavo cristatus vẫn đang được sử dụng hiện nay. Công Ấn Độ được tìm thấy chủ yếu trên mặt đất trong rừng mở hoặc trên đất trồng mà chúng tìm thức ăn như quả, ngũ cốc nhưng cũng sẽ săn mồi như những con rắn, thằn lằn và loài gặm nhấm nhỏ. Con chim được chúc tụng tại Ấn Độthần thoại Hy Lạp và là quốc điểu của Ấn Độ. Công Ấn Độ được liệt kê như ít quan tâm của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN).

Phân loại học và đặt tên[sửa | sửa mã nguồn]

Công Ấn Độ là một trong nhiều loài được Linnaeus miêu tả đầu tiên trong tác phẩm Systema Naturae của ông năm 1758 và cho đến nay nó vẫn mang tên ban đầu của nó là Pavo cristatus.[2] Tên Latinh của chi là Pavo và tiếng Annglo-Saxon pawe (từ phát sinh ra từ "peacock") được tin là từ tượng thanh về nguồn gốc của chúng và dựa trên tiếng kêu bất thường của loài chim này. Tên loài là cristatus để chỉ mào của nó.[3]

Việc sử dụng tên tiếng Anh peacock trong văn viết vào khoảng 1300 và được phát âm thành nhiều kiểu khác nhau như pecok, pekok, pecokk, peacocke, peocock, pyckock, poucock, pocok, pokok, pokokke, và poocok. Tên gọi hiện tại xuất hiện vào cuối thế kỷ 17. Chaucer (1343–1400) đã dùng tên gọi này để chỉ một người tự hào và phô trương trong nụ cười của anh ta "proud a pekok" trong quyển Troilus and Criseyde (Book I, line 210).[4]

Trong tiếng Hy Lạp peacock được gọi là taos và liên hệ trong tiếng Ba Tư "tavus" (như là Takht-i-Tâvus cho Peacock Throne nổi tiếng[5]). Trong tiếng Do Thái tuki (số nhiều tukkiyim) được cho là có nguồn gốc từ tiếng Tamil tokei nhưng đôi khi cũng có dính dáng đến tiếp Ai Cập tekh.[6][7]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Cổ công trống nhìn gần

Công là các loài chim có kích thước lớn với chiều dài từ đầu đến đuôi từ 100 đến 115 cm (40 đến 46 inch) và đến phần cuối của lông đuôi dài nhất từ 195 đến 225 cm (78 đến 90 inch) và trọng lượng 4–6 kg (8,8–13,2 lbs). Con mái có chiều dài nhỏ hơn vào khoảng 95 cm (38 inch) và trọng lượng 2,75–4 kg (6–8,8 lbs). Công Ấn Độ là đại diện lớn nhất và nặng nhất trong họ Trĩ (Phasianidae). Kích thước, màu sắc và hình dáng mào của chúng làm chúng không thể nào nhầm lẫn trong phạm vi phân bố của chúng.[8][9]

Đột biến và lai[sửa | sửa mã nguồn]

Một con công trắng là kết quả của quá trình chọn lọc nhân tạo ở nhiều vườn thú như con này ở Jardin des Plantes, Paris. Sự đột biến này rất dễ bị nhầm lẫn với bạch tạng.

Có nhiều dạng đột biết màu của loài công Ấn Độ. Quá trình này hiếm khi xuất hiện trong tự nhiên hoang dã, như sinh sản có chọn lọc đã làm trở nên phổ biến trong điều kiện nuôi nhốt. Đột biến kiểu Nhật Bản hai vai đen ban đầu được xem là một phân loài của P. c. nigripennis (hoặc thậm chí là cấp loài),[10] và từng là một chủ đề hấp dẫn trong thời kỳ của Darwin. Tuy nhiên nó chỉ là một trường hợp biến thể di truyền trong quần thể. Trong sự đột biến này, con trống trưởng thành có màu đen tuyền với đôi cánh đen.[11][12] Các con non đột biến nigripennis có màu trắng kem với cánh nghiêng sắc. Gen tạo ra màu đen tuyền ở con trống và con mái nó tạo ra sự pha loãng màu sắc giữa trắng kem và nâu.Các biến thể khác có nhiều màu và trắng tất cả là kết quả biến thể allen ở đoạn gen nhất định.[13][14]

Pavo cristatus mut. alba ở thảo cầm viên Palazzo Borromeo, Isola Bella, Italy

Giữa công trống Java loài Pavo muticus và công mái Ấn Độ, P. cristatus tạo ra cá thể lai ổn định được gọi là "spalding", được đặt tên theo bà Keith Spalding, một người chơi chim ở California.[15] Có thể gặp vấn đề là nếu không rõ phả hệ của các con chim đã thả vào tự nhiên, khi lai như vật và con cái của chúng thường giảm (xem quy luật Haldane).[16][17]

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Công Ấn Độ sinh sản trên khắp tiểu lục địa Ấn Độ và được tìm thấy ở những vùng đất thấp khô hơn của Sri Lanka. Ở Nam Á, nó được tìm thấy chủ yếu dưới độ cao 1.800 mét (1,1 mi) và trong rất ít trường hợp ở độ cao khoảng 2.000 mét (1,2 mi).[18] Nó được tìm thấy trong các khu rừng rụng lá khô và ẩm, nhưng có thể thích nghi trong các vùng trồng trọt và xung quanh nơi con người định cư và thường được tìm thấy ở nơi có nước. Ở nhiều nơi thuộc miền bắc Ấn Độ, chúng được bảo vệ bởi các quy định tôn giáo và sẽ tìm kiếm thức ăn xung quanh làng và thị trấn. Một số người cho rằng con công được Alexander Đại đế đưa vào châu Âu,[19] trong khi những người khác cho rằng loài này đã đến Athen vào năm 450 TCN và được du nhập vào đây thậm chí là sớm hơn.[20] Nó đã được du nhập đến nhiều nơi trên thế giới và đã trở thành nhóm hoang dã ở một vài khu vực.[21]

Tình trạng bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Công Ấn Độ phân bố rộng khắp ở Nam Á và được bảo vệ trong văn hóa và luật pháp Ấn Độ. Ước tính số cá thể của loài này khoảng hơn 100.000.[22] Tuy nhiên, việc săn bắt bất hợp pháp để lấy thịt vẫn tiếp diễn và đã được ghi nhận nhiều nơi ở Ấn Độ.[23] Loài này sinh sản nhanh chóng trong điều kiện nuôi nhốt và thả tự do. Các vườn thú, công viên, người chơi chim và các thương lái trên khắp thế giới duy trì việc sinh sản của loài này nên không cần phải tăng cường săn bắt chim hoang dã.

Săn bắt công để lấy thịt và lông và ngộ độc do ăn hạt giống đã được tẩm thuốc trừ sâu đang đe dọa loài này trong tự nhiên.[24] Phương pháp để xác định nếu lông đã được nhổ hoặc đã bị rơi tự nhiên đã được phát triển khi luật pháp Ấn Độ chỉ cho phép các bộ sưu tập lông vũ đã rụng.[25]

Nhiều nơi ở Ấn Độ, loài chim này có thể là mối phiền toái cho nông nghiệp.[21] Tuy nhiên, tác động tiêu cực của nó đối với cây trồng dường như được bù đắp khi mà chúng có nhiều lợi ích khi tiêu thụ số lượng cực lớn các loài gây hại như châu chấu. Họ cũng có thể là một vấn đề trong các khu vườn và ngôi nhà vì chúng làm hư hỏng thực vật, tấn công phản xạ làm phá vỡ kính và gương, làm trầy xe hoặc để lại phân của chúng. Nhiều thành phố nơi chúng được du nhập và di cư hoang dã có các chương trình quản lý loài công này như giáo dục công dân về cách phòng tránh các loài chim gây thiệt hại, cũng như điều trị những con chim.[26][27]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ BirdLife International (2012). Pavo cristatus. Sách đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2013.2. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2013. 
  2. ^ (tiếng Latinh) Linnaeus, Carl (1758). Systema naturae per regna tria naturae, secundum classes, ordines, genera, species, cum characteribus, differentiis, synonymis, locis. Tomus I. Editio decima, reformata. Holmiae. (Laurentii Salvii). 
  3. ^ Johnsgard, P.A. (1999). The Pheasants of the World: Biology and Natural History. Washington, DC: Smithsonian Institution Press. tr. 374. ISBN 1-56098-839-8. 
  4. ^ Weekley, E (1921). An etymological dictionary of modern English. John Murray, London. ISBN 1-176-40695-7. 
  5. ^ Lal, Krishna (2007). Peacock in Indian art, thought and literature. Abhinav Publications. tr. 11,26,139. ISBN 81-7017-429-5. 
  6. ^ Burton, R F (1884). The book of the sword. Chatto and Windus, London. tr. 155. ISBN 0-486-25434-8. 
  7. ^ Hehn, Victor; James P. Mallory (1976). Cultivated plants and domesticated animals in their migration from Asia to Europe: historico-linguistic studies Volume 7 of Amsterdam studies in the theory and history of linguistic science Amsterdam studies in the theory and history of linguistic science. Series I, Amsterdam classics in linguistics,1800-1925. John Benjamins Publishing Company. tr. 263. ISBN 90-272-0871-9. 
  8. ^ Whistler, Hugh (1949). Popular handbook of Indian birds (ấn bản 4). Gurney and Jackson, London. tr. 401–410. ISBN 1-4067-4576-6. 
  9. ^ Blanford, WT (1898). The Fauna of British India, Including Ceylon and Burma. Birds 4. Taylor and Francis, London. tr. 681–70. 
  10. ^ Sclater PL (1860). “On the black-shouldered peafowl of Latham (Pavo nigripennis)”. Proc. Zool. Soc. London: 221–222. 
  11. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên fbi2
  12. ^ Seth-Smith, D (1940). “Peafowl”. Avicultural Magazine 5: 205–206. 
  13. ^ Somes, RG Jr. and R. E. Burger (1991). “Plumage Color Inheritance of the Indian Blue Peafowl (Pavo Cristatus): Blue, Black-Shouldered, Cameo, and Oaten”. Journal of Heredity 82: 64–68. doi:10.1093/jhered/82.1.64. 
  14. ^ Somes, RG, Jr. and Burger, R. E. (1993). “Inheritance of the White and Pied Plumage Color Patterns in the Indian Peafowl (Pavo cristatus)”. J. Hered. 84 (1): 57–62. 
  15. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên jackson
  16. ^ Haldane, J. B. S. (1922). “Sex ratio and unisexual sterility in hybrid animals”. J. Genet. 12 (2): 101–109. doi:10.1007/BF02983075. 
  17. ^ Leimu, Roosa; Fischer, Markus (2010). Between-Population Outbreeding Affects Plant Defence. doi:10.1371/journal.pone.0012614. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2014.  sửa
  18. ^ Dodsworth, PTL (1912). “Occurrence of the Common Peafowl Pavo cristatus, Linnaeus in the neighbourhood of Simla, N.W. Himalayas”. J. Bombay Nat. Hist. Soc. 21 (3): 1082–1083. 
  19. ^ Whitman, CH (1898). “The birds of Old English literature”. The journal of Germanic Philology 2 (2): 40. 
  20. ^ Nair, P. Thankappan (1974). “The Peacock Cult in Asia”. Asian Folklore Studies 33 (2): 93–170. doi:10.2307/1177550. JSTOR 1177550. 
  21. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên hbk
  22. ^ Madge S and McGowan, P (2002). Pheasant, partridges and grouse, including buttonquails, sandgrouse and allies. Christopher Helm, London. 
  23. ^ Ramesh, K. and McGowan, P. (2009). “On the current status of Indian Peafowl Pavo cristatus (Aves: Galliformes: Phasianidae): keeping the common species common”. Journal of Threatened Taxa 1 (2): 106–108. doi:10.11609/jott.o1845.106-8. 
  24. ^ Alexander JP (1983). “Probable diazinon poisoning in peafowl: a clinical description”. Vet Rec. 113 (20): 470. doi:10.1136/vr.113.20.470. 
  25. ^ Sahajpal, V., Goyal, S.P. (2008). “Identification of shed or plucked origin of Indian Peafowl (Pavo cristatus) tail feathers: Preliminary findings”. Science and Justice 48 (2): 76–78. doi:10.1016/j.scijus.2007.08.002. PMID 18700500. 
  26. ^ “La Canada, California, City Council, Peafowl Management Plan Update”. 
  27. ^ “East Northamptonshire plan”. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Galusha, JG; Hill, LM (1996) A study of the behaviour of Indian Peacocks Pavo cristatus on Protection Island, Jefferson County, Washington, USA. Pavo 34(1&2):23–31.
  • Ganguli, U (1965) A Peahen nests on a roof. Newsletter for Birdwatchers . 5(4):4–6.
  • Prakash, M (1968) Mating of Peacocks Pavo cristatus. Newsletter for Birdwatchers . 8(6), 4–5.
  • Rao, MS; Zaki, S; Ganesh,T (1981) Colibacillosis in a Peacock. Current Science 50(12):550–551.
  • Sharma, IK (1969) Habitat et comportment du Pavon (Pavo cristatus). Alauda 37(3):219–223.
  • Sharma, IK (1970) Analyse ecologique des parades du paon (Pavo cristatus). Alauda 38(4):290–294.
  • Sharma, IK (1972) Etude ecologique de la reproduction de la paon (Pavo cristatus). Alauda 40(4):378–384.
  • Sharma, IK (1973) Ecological studies of biomass of the Peafowl (Pavo cristatus). Tori 22(93–94):25–29.
  • Sharma, IK (1974) Notes ecologique sur le paon bleu, Pavo cristatus. Les Carnets de Zoologie 34:41–45.
  • Sharma, IK (1981) Adaptations and commensality of the Peafowl (Pavo cristatus) in the Indian Thar Desert. Annals Arid Zone. 20(2):71–75.
  • Shrivastava, AB; Nair,NR; Awadhiya, RP; Katiyar, AK (1992) Traumatic ventriculitis in Peacock (Pavo cristatus). Indian Vet. J. 69(8):755.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]