SU-100

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
SU-100
Self-propelled artillery in Brest Fortress.jpg
SU-100 tại bảo tàng Pháo đài Brest
Loại Pháo tự hành chống tăng
Nguồn gốc Liên Xô Liên Xô
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 31,6 tấn (69.665 lbs)
Chiều dài 9,45 m (31 ft)
Chiều rộng 3,00 m (10 ft)
Chiều cao 2,25 m (7.38 ft)
Kíp chiến đấu 4

Bọc giáp giáp trước 75 ly (3 inch)
giáp bên 45 ly (1,77 inch)
giáp nóc xe 20 ly (0,78 inch)
Vũ khí chính pháo 100 ly D-10S
Vũ khí phụ không
Động cơ động cơ Diesel 4 kì V-2-34 12 xilanh
500 mã lực (370 kW)
Công suất/trọng lượng 16 mã lực/tấn
Hệ thống treo Hệ thống giảm xóc Christie
Tầm hoạt động 320 cây số (199 dặm)
Tốc độ 48 cây số/giờ (30 dặm/giờ)

SU-100 là tên một loại pháo tự hành chống tăng của Liên Xô. Nó được Hồng quân Xô Viết sử dụng rộng rãi trong năm cuối cùng của cuộc chiến tranh Xô-Đức và còn tiếp tục phục vụ trong quân đội Liên Xô và các đồng minh của nước này sau chiến tranh.

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

SU-100 được phát triển vào năm 1944 như là một bản nâng cấp của SU-85. Giống như SU-85 nó dùng thân xe của loại T-34-85. SU-100 được thiết kế và xây dựng tại Nhà máy máy móc hạng nặng Ural (Уральский Завод Тяжелого Машиностроения, còn mang một tên khác là Uralmash) tại Yekaterinburg. SU-100 nhanh chóng chứng tỏ nó là một trong những pháo tự hành chống tăng tốt nhất của thế chiến thứ hai[cần dẫn nguồn]. Pháo chính 100mm khi ở khoảng cách 2 km có thể xuyên thủng vỏ giáp 125 ly để thẳng góc với mặt đất (tương đương độ dày giáp trước của xe tăng hạng nặng Tiger I, và có thể xuyên thủng vỏ giáp nghiêng 85 ly của xe tăng Panther ở khoảng cách 1,5 km. Việc này có nghĩa là SU-100 có thể loại khỏi vòng chiến bất kỳ xe tăng Đức nào vào thời điểm đó, điều này khiến nó có cái biệt danh "Pizdets vsemu", tạm dịch là "sự kết thúc của mọi thứ"[1].

SU-100 được phát triển dưới sự giám sát của Lev Izrailevich Gorlitsky người đứng đầu các nhóm thiết kế pháo tự hành của Liên Xô lúc đó. Việc phát triển bắt đầu từ tháng 2 năm 1944 và mẫu thử nghiệm đầu tiên (mang tên "kế hoạch 138") được chế tạo vào tháng 3. Sau nhiều cuộc kiểm tra gắt gao với nhiều mẫu pháo 100 ly thì khẩu D-10S đã được chọn. Khẩu pháo này được phát triển bởi Phòng thiết kế Pháo của Nhà máy số 9 do Fyodor Fyodorovich Petrov đứng đầu. Sau đó khẩu pháo này được lắp đặt trên các xe tăng T-54T-55. Thần xe của SU-100 cũng được cải tiến nhiều so với tiền nhiệm SU-85: độ dày của giáp trước tăng từ 45 ly lên 75 ly, đồng thời chỗ ngồi của xa trưởng được đặt ở một khoang nhỏ nằm ở cạnh sườn phía bên phải của thân xe; điều này kết hợp với cupola của xa trưởng đã khiến người xa trưởng làm việc hiệu quả hơn. Hai bộ thông gió đã được lắp đặt thay cho một bộ ở SU-85. Việc sản xuất đại trà SU-100 bắt đầu từ tháng 9 năm 1944.

Lịch sử chiến đấu[sửa | sửa mã nguồn]

SU-100 trong một bảo tàng của Cộng hòa Séc

SU-100 được sử dụng rộng rãi trong năm cuối cùng của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Nó được sử dụng với số lượng lớn tại Hungary vào tháng 3 năm 1945, khi Hồng quân Xô Viết đánh tan đợt tấn công của phát xít Đức trong Chiến dịch Thức tỉnh Mùa xuân tại hồ Balaton. Cho đến tháng 7 năm 1945, 2.335 chiếc SU-100 đã được chế tạo.

SU-100 vẫn tiếp tục được Hồng quân Liên Xô sử dụng sau chiến tranh, việc sản xuất kéo dài đến năm 1947 ở Liên Xô và 1950 ở Tiệp Khắc. SU-100 được Hồng quân Xô Viết cho "nghỉ hưu" vào năm 1957 nhưng vẫn giữ lại trong kho làm lực lượng dự phòng; nhiều chiếc SU-100 vẫn tồn tại trong các kho dự phòng cho đến ngày nay.

Nhiều quốc gia thuộc khối Warszawa và các đồng minh khác của Liên Xô như Ai Cập, AngolaCuba tiếp tục sử dụng SU-100. SU-100 từng tham chiến trong cuộc Khủng hoảng Kênh đào Suez năm 1956 khi quân Ai Cập dùng nó để đối đầu với xe tăng M4 Sherman của Israel. Sau đó SU-100 cũng tham chiến trong Chiến tranh Ả Rập-Israel lần thứ ba (1967) và Chiến tranh Ả Rập-Israel lần thứ tư (1973). Nó được chỉnh sửa một chút để phù hợp với điều kiện sa mạc và vì vậy trở thành phiên bản SU-100M. Các phiên bản xuất khẩu của SU-100 tiếp tục được sử dụng cho đến năm 1970, thậm chí sau đó. Quân đội Nhân dân Việt NamLục quân Nhân dân Triều Tiên vẫn tiếp tục sử dụng SU-100 cho đến ngày nay.

SU-100 trở thành một phần của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa năm 1955 khi Hồng quân Xô Viết rút quân khỏi Đại Liên. Tất cả những khí tài quân sự của Liên Xô tại Đại Liên đều được bán cho CHND Trung Hoa, cụ thể là 99 pháo tự hành SU-100, 18 xe tăng hạng nặng IS-2, 16 xe tăng T-54 và 224 xe tăng T-34. Những khí tài này được CHND Trung Hoa dùng để cấu trúc nên Sư đoàn cơ giới số 1.

SU-100 trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Kíp lái của một chiếc SU-100 là nhân vật chính trong bộ phim «На войне как на войне» (Na vojne kak na vojne,"Chiến tranh là thế"), một trong vài bộ phim Xô Viết nói về các pháo thủ của pháo tự hành. Những cựu binh từng tham gia trong Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại đánh giá rằng bộ phim thể hiện cuộc chiến khá chân thực. Bộ phim có lồng nhạc của Bài ca của người lính xe tăng Xô Viết vốn rất phổ biến ở Liên Xô và Nga hiện nay.

Một mô hình SU-100 (tỉ lệ 1:35)

Một chiếc SU-100 được các nhân vật chính trong phim The Misfit Brigade (tạm dịch: lữ đoàn không phù hợp), trong đó chiếc SU-100 này đóng vai của một xe thiết giáp của phát xít Đức, có lẽ do hình dáng của nó giống như các loại pháo tự hành chống tăng Jagdpanzer 38 (t)Jagdpanther. Một điều hài hước là khi một người lính Đức trong phim nhìn thấy một chiếc xe tăng của Liên Xô bị quân Đức bắt, anh ta thốt lên: "Đó là xe tăng của chúng ta ! Chắc chắn thế, và nó đã bị sơn phết một cách rất cẩu thả. Mọi người có thể nhìn thấy dấu thập tự !... Bọn Nga cướp xe tăng của tôi !" Bộ phim này còn mang một tên khác là Wheels of Terror (tạm dịch: bánh xe kinh hoàng), dựa trên một tác phẩm của Sven Hassel.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]