So đũa
| So đũa | |
|---|---|
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Plantae |
| (không phân hạng) | Angiospermae |
| (không phân hạng) | Eudicots |
| (không phân hạng) | Rosids |
| Bộ (ordo) | Fabales |
| Họ (familia) | Fabaceae |
| Phân họ (subfamilia) | Faboideae |
| Tông (tribus) | Sesbanieae |
| Chi (genus) | Sesbania |
| Loài (species) | S. grandiflora |
| Danh pháp hai phần | |
| Sesbania grandiflora (L.) Poiret |
|
So đũa hay điền thanh hoa lớn (danh pháp hai phần: Sesbania grandiflora, đồng nghĩa Aeschynomene grandiflora) là một cây nhỏ thuộc chi Sesbania trong họ Đậu (Fabaceae). Người ta tin nó có nguồn gốc từ Ấn Độ hay Đông Nam Á và mọc ở những nơi nóng ẩm.
Mô tả [sửa]
Cây so đũa cao 4–10 m, vỏ tiết mủ đỏ, lá do 50-60 phụ hợp thành, lá bẹ rụng sớm. Chùm hoa to, dài 7–8 cm, màu trắng đôi khi hồng. Quả dài 30–50 cm, hạt vàng sậm. Vỏ có chất màu đỏ và vàng.
Sử dụng [sửa]
Vỏ được dùng làm thuốc bổ, khai vị, trị tả. vát đi lớp vỏ cứng bên ngoài, phần vỏ xanh trắng bên trong dùng để nhai chầm chậm nuốc nước hơi rít, có vị hơi chát và ngọt, làm hạ đờm suyễn, ho ngứa cổ, làm nhọt lở trong miệng chóng lành. Đọt non,lá và hoa so đũa cũng được ăn như rau ở Đông Nam Á, đặc biệt ở Lào, Java thuộc Indonesia, Việt Nam, và vùng Ilocos của Philippines. Ở Việt Nam, hoa so đũa thường được dùng nấu canh chua, đọt non ăn như rau với mắm sống, món kho, vv. Trái so đũa khi còn non gập bẻ đôi được, đem xắt khúc ngâm nước chừng mươi phút để xả chát, xào với thịt hay luộc, khẩu vị không khác đậu đũa hay đậu cô ve. Trong tiếng Thái Lan, hoa của cây này được gọi là dok khae, còn tiếng Indonesia thì gọi là bunga turi hay kembang turi.
Liên kết ngoài [sửa]
| Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và tài liệu về: So đũa |
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về So đũa. |