Stand by Me Doraemon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Stand by Me Doraemon
Thông tin phim
Đạo diễn Takashi Yamazaki
Ryūichi Yagi
Tác giả Takashi Yamazaki
Dựa trên Doraemon của
Fujiko F. Fujio
Diễn viên Wasabi Mizuta
Megumi Ohara
Yumi Kakazu
Subaru Kimura
Tomokazu Seki
Yoshiko Kamei
Vanilla Yamazaki
Shihoko Hagino
Wataru Takagi
Kotono Mitsuishi
Yasunori Matsumoto
Miyako Takeuchi
Aruno Tahara
Satoshi Tsumabuki
Âm nhạc Naoki Sato
Hãng sản xuất Shirogumi
Robot Communications
Shin-Ei Animation
Bang Zoom! Entertainment (US)
Phát hành Toho (Nhật)
Lucky Red (Ý)
Alfa Pictures (Tây Ban Nha/ chiếu rạp)
Luk Internacional (Tây Ban Nha)
Viz Media (Mỹ)
M Pictures (Thái Lan)
TVM Corp. (Việt Nam)
Công chiếu 8/8/2014 (Nhật)
6/11/2014 (Ý)
10/12/2014 (Indonesia)
12/12/2014 (Việt Nam)
19/12/2014 (Tây Ban Nha)
19/12/2014 (Đài Loan)
25/12/2014 (Campuchia)
22/1/2015 (Brunei)
29/1/2015 (Malaysia)
19/2/2015 (Hồng Kông)
Độ dài 95 phút
Quốc gia Nhật
Ngôn ngữ Nhật
Anh
Kinh phí $35 triệu
Doanh thu ¥8.38 tỉ
US$86.1 triệu

Stand by Me Doraemon (STAND BY ME ドラえもん,STAND BY ME Doraemon?), tạm dịch: "Doraemon luôn bên tôi", là một bộ phim hoạt hình máy tính 3D Nhật Bản dựa trên manga Doraemon của Fujiko F. Fujio, phim của đạo diễn Yamazaki TakashiRyūichi Yagi [1]. Nội dung phim là tổ hợp các tập phim Doraemon bao gồm: Người bạn đến từ tương lai, Chuyện tình trên núi tuyết (sự lãng mạn trên đỉnh núi tuyết), Đêm trước đám cưới NobitaTạm biệt Doraemon dưới dạng một tập phim dài hoàn chỉnh. Câu chuyện xoay quanh việc Doraemon, một chú mèo máy không tai đến từ tương lai trở về những năm 70 để giúp một cậu bé "vô tích sự" tên là Nobita có một cuộc sống tươi đẹp hơn và đồng thời thay đổi tương lai đen tối của cậu sang một viễn cảnh tương sáng vốn sẽ thay đổi số phận của con cháu Nobita về sau trong đó có Sewashi, chắt của Nobita và là chủ của chú mèo máy. Phim kể lại câu chuyện từ lần đầu gặp gỡ đến lúc Doraemon hoàn tất nhiệm vụ, phải chia tay Nobita để trở về tương lai mãi mãi và cuộc hội ngộ bất ngờ của họ do chính Nobita tạo ra. Đây là bộ phim 3D đầu tiên về nhân vật Doraemon cũng như là phim đầu tiên trong loạt phim có nội dung dựa theo những tập truyện ngắn thay vì các tập truyện dài Doraemon hoặc những kịch bản mới.

Bộ phim là một thành công thương mại khi nằm trong top 5 phim Nhật Bản năm 2014 trên bảng xếp hạng tại Nhật Bản [2][3] , là một trong số phim có doanh thu cao nhất Nhật Bản năm 2014 với 79 triệuđô la Mỹ cũng như đoạt doanh thu tổng cộng 86.1 triệu đô la Mỹ trên toàn thế giới. Bộ phim đoạt Giải Viện Hàn lâm Nhật Bản lần thứ 38 cho Phim Hoạt hình xuất sắc [4] và giải thưởng của ban giám khảo Liên hoan nghệ thuật truyền thông Hoạt hình Nhật Bản lần thứ 18.

Phim được công chiếu vào ngày 8 tháng 8 năm 2014 ở Nhật Bản[5][6]. Bang Zoom! Entertainment đã giới thiệu phiên bản lồng tiếng Anh của phim tại Liên hoan phim quốc tế Tokyo vào ngày 24 tháng 10, 2014. Tại Việt Nam, phim được công chiếu vào ngày 12 tháng 12, 2014 tại các hệ thống rạp chiếu phim trên cả nước với tên chính thức Doraemon Đôi bạn thân.[7]

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Nobi Nobita là cậu bé sống ở hiện tại. Cậu luôn đi học trễ, bị thầy phạt, bị điểm kém và bị bạn bè bắt nạt nhất là SuneoJaian. Chính vì vậy mà cuộc sống trong tương lai con cháu của cậu rất nghèo khổ. Ở thế kỉ thứ 22, Thế hệ con cháu tương lại của cậu - Sewashi đã nhìn thấy và gửi Doraemon, một chú mèo robot của tuơng lai về quá khứ để cải thiện và thay đổi tương lai. Nhưng Doraemon không đồng ý và bị Sewashi cài đặt chương trình vào chú mèo phải làm cho Nobita hạnh phúc thì chú mới được trở về tương lai. Từ ngày Doraemon ghé vào đời cậu thì cuộc sống cậu trở nên thú vị và vui hơn: cậu không sợ đi học muộn, cậu không sợ làm bài điểm kém, cậu không sợ bị Jaian dọa nạt nữa...vì đã có Doraemon và những bảo bối thần kỳ giúp cho. Cậu rất thích Shizuka nhưng Shizuka lại thân với Dekisugi khiến cậu ghen tức và cậu muốn Doraemon dùng bảo bối làm Shizuka phải thích cậu. Mặc dù Doraemon đã giải thích rằng cua gái mà dùng đến bảo bối thì thật hèn nhát nhưng cậu không thôi, kết cục là sau một chuỗi vỡ kế hoạch khó đỡ, "Quả trứng động vật theo mẹ" đã tác hợp cho Jaian yêu say đắm Suneo và Shizuka yêu mến... Dekisugi. Dekisugi bảo Doraemon dừng bảo bối lại và cậu thú nhận rằng cậu cũng thích Shizuka nhưng muốn nó phải được tự nhiên. Nobita cảm thấy bản thân vô dụng, cậu đã suy nghĩ rất nhiều, cậu quyết định sẽ học thật tốt để có thể xứng đôi với Shizuka. Trớ trêu thay, cậu ôn tập môn toán để thi Nhật ngữ khiến bài kiểm tra vẫn 0 điểm và bị thầy nêu tên trước lớp dù Nobita đã học rất chăm chỉ. Đau đớn, tuyệt vọng Nobita nhờ Doraemon dùng bảo bối khiến Shizuka ghét cậu nhưng kế hoạch cũng bất thành vì tình bạn tốt đẹp của Shizuka dành cho cậu bạn đáng thương. Cũng sau sự việc này tương lai Nobita đã thay đổi, cậu sẽ không lấy Jaiko em gái Jaian như trước mà thay vào đó là Shizuka.

Muốn biết thực hư thế nào nên Nobi và Dora đã dùng tivi thời gian xem cảnh vài ngày trước khi cậu và Shizuka lấy nhau trong tương lai: trong một chuyến leo núi Shizuka đã gặp bão tuyết và không thoát ra được. Nobita đã dùng khăn trùm thời gian để biến thành chính mình khi đã trưởng thành đến để giải cứu Shizuka. Mọi chuyện trở nên tệ hại khi cậu đưa Shizuka vào một hang động gần đó, Shizuka bị cảm và ngất xỉu. Nobita hoảng loạn, trong lúc nguy cấp ấy Nobita thông minh bất chợt khi cố ghi nhớ ngày tận mạng này vào trong óc để Nobita lớn lúc đó cũng sẽ nhớ và chạy đến chi viện. May mắn thay, Nobita lớn đến kịp và đưa cả hai thoát khỏi đó. Nobita khi lớn đã nhìn thấy Doraemon đang ngủ trên băng ghế. Nobita nhỏ đã bảo Nobita lớn đến chỗ Doraemon nhưng cậu suy nghĩ một lúc rồi thôi. Cậu muốn Nobita hãy trân trọng những khoảnh khắc khi Doraemon bên cạnh. Shizuka đã đồng ý kết hôn với Nobita sau vụ việc này. Doraemon đã nói rằng trong hàng triệu ngôi sao trên bầu trời Nobita đã bắt được một ngôi sao may mắn. Cả hai đến đêm trước ngày cưới bằng cỗ máy thời gian. Trong đêm đó, cậu đã chứng kiến cảnh trò chuyện cảm động giữa Shizuka và ba cô ấy: cô ấy nói với ba của mình rằng cô không muốn kết hôn nữa vì thấy bản thân vô dụng, chưa được làm gì được cho ba mẹ, cô thấy mình chỉ là một gánh nặng nhưng ba cô đã bác bỏ và nói rằng cô là một món quà quý báu mà tạo hoá đã ban cho ông, được thấy con sinh ra, lớn khôn, đi học, trưởng thành và bây giờ lấy được một chàng trai tuy không hoàn hảo nhưng lại tốt tính như Nobita là ông thấy hạnh phúc, thấy đủ rồi. Nobita đã không kìm được nước mắt và sự hạnh phúc nên trở về hiện tại. Tín hiệu báo động trong Doraemon vang lên, cậu đã hoàn thành nhiệm vụ và có 24 giờ để trở lại tương lai. Nhìn Nobita được hạnh phúc mà từng dòng lệ trong khoé mi Doraemon cứ tuôn ra, khẽ nóisao mình thuơng bạn quá. Nobita muốn ngăn không cho Doraemon đi nhưng không được. Dù rằng tương lai đã tươi sáng hơn nhưng chú mèo vẫn không ngừng lo lắng. Nobita và Jaian sau đó có một trận đánh nhau nảy lửa và để Doraemon ra đi an lòng, Nobita quyết đấu tới cùng. Jaian bắt đầu thấm mệt và chấp nhận đầu hàng, Nobita đã thắng, thắng bằng chính sức của cậu. Doraemon đi tìm cậu, nhìn thấy và đưa cậu về nhà. Doraemon đã chăm sóc cậu và nhớ lại bao ký ức đã qua và rồi Doraemon nhìn Nobita lần cuối, ngăn hộc bàn dần khép lại, Doraemon đã đi.

Vào ngày Cá tháng tư, Jaian và Suneo lại bắt nạt Nobita khi lừa nói rằng Doraemon đã trở lại. Cậu đã dùng tất cả tiền mà cậu có được mua bánh rán tặng Doraemon. Và cậu đớn đau khi nhận ra rằng đó chỉ là lời nói dối. Cậu đã về nhà dùng bảo bối cuối cùng mà Doraemon đã để lại để trừng trị Jaian và Suneo. Tuy lúc đầu Nobita thấy vui vì điều này nhưng rồi buồn khi bên cạnh không có Doraemon. Cậu bỏ qua và trở về nhà, cậu thấy chán nản và buộc miệng nói với chính mình rằng Doraemon sẽ không bao giờ trở lại. Bảo bối cuối cùng mà Doraemon để lại chính là loại thuốc biến mọi lời nói thật thành nói xạo và cho kết quả ngay và luôn. Do thuốc vẫn còn tác dụng nên khi cậu lên phòng mình, cậu sửng sốt khi nhìn thấy Doraemon. Chợt nhận ra "Doraemon sẽ không bao giờ trở lại" đã trở thành câu nói xạo tuyệt nhất. Cả hai đã ôm nhau vào lòng và hứa sẽ "không bao giờ bên nhau mãi mai nữa" (PS: nói xạo).

Từ trái qua: Jaian, Nobita, Doraemon, ShizukaSuneo

Khác biệt so với bản manga[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nobita gặp Doraemon lần đầu vào ban ngày trong bản hoạt hình và manga. Trong phim, họ gặp nhau ban đêm.
  • Việc Sewashi cài chương trình ép Doraemon ở lại giúp Nobita chỉ có trong phim. Trong bản hoạt hình và manga, Doraemon không bị ép buộc đến giúp Nobita.
  • Trong bản hoạt hình và manga, bữa ăn đầu tiên của Doraemon lúc gặp Nobita lần đầu là bánh nếp chứ không phài bánh rán.
  • Các bảo bối của Doraemon được tái thiết kế cho hiện đại hơn trong truyện tranh.
  • Trong phim, Yoshio Minamoto là người nhận số tranh truyện Nobita mượn của Shizuka. Trong bản hoạt hình và manga, Mẹ Shizuka nhận chúng.
  • Việc Shizuka ngất xỉu trong nguy kịch và Nobita nhỏ dùng chính trí nhớ của mình để cầu cứu Nobita lớn là sáng tạo của biên kịch phim. Trong truyện gốc, họ chờ bão tan và ra về an toàn, Nobita trở thành "thảm hoạ của việc cứu hộ" khi vừa sái chân vừa mất mắt kiếng phải nhờ Shizuka đưa về.
  • Trong truyện gốc, Shizuka nhận lời cưới Nobita sau vì thương hại sau "thảm hoạ cứu hộ" của Nobita nhỏ. Trong phim, Nobita lớn chủ động cầu hôn với Shizuka và Nobita nhỏ nhận được câu trả lời của cô là "đồng ý".
  • Trong bản manga, Nobita đến thẳng vùng núi tuyết và Doraemon không đi theo.
  • Trong bản manga gốc, khi gặp nhóm bạn lúc trưởng thành làm tiệc đãi Nobita lên xe hoa, Jaiko không xuất hiện, Jaian là người đe doạ Nobita sẽ tẩn cậu một trận ra trò nếu làm Shizuka không hạnh phúc.
  • Đoạn phim Nobita hạnh phúc bay lượn trên trời cao trong khi Doraemon ngồi khóc ở dưới là sáng tạo của biên kịch phim.
  • Trong bản manga, Nobita uống lọ thuốc nói dối 800 trước khi đi tìm Jaian và Suneo. Trong phim, cậu uống trước mặt họ.

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Trước công chúng năm 2011, ban sản xuất khẳng định "Khác với các phim Doraemon thường lệ, đây là một phim Mon vừa cũ vừa mới".[8] Quá trình sản xuất mất một năm rưỡi để thiết kế nhân vật và 3 năm để theo sát các hoạt động cũng như biểu lộ cảm xúc của họ. Hoạt hoạ CGI được tiến hành sau khi các đoạn hội thoại được thu âm (Puresuko).[9] Phần cảnh quan của khu phố nơi Nobita sống được thực hiện với các mô hình thu nhỏ [10]. Các công nghệ 3D tối tân nhất như chiếu sáng tổng thể hay tán xạ bề mặt phụ được sử dụng để tái hiện các kết cấu chân thực nhất.

Các đoạn hội thoại trong phim đa số theo sát bản gốc hết mức có thể nhằm giữ được cái hay của bộ truyện gốc[11]. Vì là bộ phim 3D đầu tiên về Doraemon,Yamazaki và đạo diễn Yagi đã tuyển chọn những câu chuyện ngắn hay nhất để kết thành kịch bản phim thay vì những câu chuyện dài về những cuộc phiêu lưu của nhóm bạn Nobita. Thời gian của "hiện tại" trong phim được giữ ở giai đoạn giữa những năm 70, khi họ xem truyện lúc còn bé[12] .

Bộ phim từng được công bố là bộ phim truyện thường niên về Doraemon cuối cùng (sau 36 phim được thực hiện).[13] Hiện tại loạt phim đã được tiếp tục với Doraemon: Nobita's Space Heroes ra mắt năm 2015.[14]

Nhân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Bảo bối xuất hiện trong phim[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cỗ máy thời gian
  • Khăn trùm thời gian
  • Chong chóng tre
  • Cánh cửa thần kỳ
  • Bánh mì trí nhớ
  • Tivi thời gian
  • Khách sạn rễ cây
  • Máy ảnh tạo mốt
  • Nước nói dối USO 800
  • Dây cót tăng tốc
  • Quả trứng động vật theo mẹ
  • Bánh mì trí nhớ
  • Đường hầm thu nhỏ
  • Túi lấy đồ vật
  • Áo choàng tàng hình
  • Vòng tròn xuyên thấu
  • Phóng xạ khó chịu
  • Thuốc làm đông mây
  • Radio nói thật

Phân vai[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật Diễn viên lồng tiếng Nhật Diễn viên lồng tiếng Việt Diễn viên lồng tiếng Tây Ban Nha Diễn viên lồng tiếng Ý Diễn viên lồng tiếng Anh
Doraemon Mizuta Wasabi Nguyễn Thùy Tiên Estívaliz Lizárraga Pietro Ubaldi Mona Marshall
Nobita Ohara Megumi
Tsumabuki Satoshi
(khi trưởng thành) [15]
Nguyễn Anh Tuấn Nuria Marín Picó
Mario Vaquerizo (trưởng thành)
Davide Garbolino Johnny Yong Bosch
Shizuka Kakazu Yumi Ngọc Châu Sonia Torrecilla
Alaska(trưởng thành)
Federica Valenti Cassandra Morris
Jaian Kimura Subaru Hồ Tiến Đạt Alberto Escobal García Luca Bottale Kaiji Tang
Suneo Tomokazu Seki Thái Minh Vũ Anton Palomar Patrizia Scianca Brian Beacock
Dekisugi Hagino Shimako Trịnh Kiêm Tiến Renata Bertolas
Jacopo Calatroni (trưởng thành)
Spike Spencer
Sewashi Matsumoto Sachi Kim Anh Andrea Oldani Max Mittelman
Ba Nobita Matsumoto Yasumoto Tạ Bá Nghị Cesare Rasini
Mẹ của Nobita Mitsuishi Kotono Võ Ngọc Quyên Elda Olivieri Mari Devon
Ba của Shizuka Tahara Aruno [16] Trí Luân Marco Balbi
Mẹ của Jaian Takeuchi Miyako Kim Anh Elisabetta Cesone
Jaiko Yamazaki Vanilla Cao Thụy Thanh Hồng Jolanda Granato
Thầy giáo Takagi Wataru Trí Luân Sergio Romanò

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản tiếng Nhật[sửa | sửa mã nguồn]

"Himawari no Yakusoku"
Đĩa đơn của Motohiro Hata
Phát hành 8 tháng 6, 2014 (2014-06-08)
Thời lượng 5:17
Sáng tác Motohiro Hata
Sản xuất Motohiro Hata
Thứ tự đĩa đơn của Motohiro Hata
  • "Dialogue Monologue"
  • (2014)
  • "Himawari no Yakusoku"
  • (2014)
Video âm nhạc
"Himawari no Yakusoku" trên YouTube

Bài hát: "Himawari no Yakusoku" (ひまわりの約束 - Lời hứa hoa hướng dương) do ca sĩ "Hata Motohiro là bài hát nhạc phim chính thức của Stand by Me. Nó được phát hành hai phiên bản gồm bản giới hạn chỉ bán giới hạn tới cuối tháng 12 năm 2014 đính kèm theo bao đựng đĩa và hộp bằng bìa cứng cùng sticker và bản thường

BXH Thứ hạng
cao nhất
Oricon Weekly Singles Chart[17] 10
Billboard Japan Hot 100[18] 2

Phiên bản khác[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ Tên bài hát Sáng tác Người sáng tác Người sắp đặt Thể hiện Chú ý
Tiếng Anh Stand by me Fiver
[19]
Ca sỹ Tây Ban Nha
Tiếng Quảng Đông Phụng hiến (奉獻) Dương Hi Motohiro Hata Lâm Hân Đồng, Tiểu Trần Ai, Lâm Dịch Khuông, Hồ Hồng Quân Ca sỹ Hồng Kông
Tiếng Quan Thoại Bạn ngã đồng hành Stand by me (伴我同

行)

Trần Nhạc Dung Hoàng瀞 Di, Ngô Ánh Khiết, Chiêm nhã Văn,

TFBoys

Ca sỹ Đài Loan , Ca sỹ Đại lục

Công chiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Stand by Me Doraemon sẽ được công chiếu ở 59 quốc gia trên thế giới (Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao, Singapore, Malaysia, Brunei, Việt Nam, Thái Lan, Lào, Campuchia, Myanmar, Philippines, Indonesia, Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Maldives, Bhutan, Algeria, Afghanistan, Bahrain, Chad, Comoros, Djibouti, Ai Cập, Eritrea, Iraq, Jordan, Kuwait, Lebanon, Libya, Mauritania, Ma Rốc, Oman, Palestine, Qatar, Ả Rập Xê Út, Somali, Sudan, Nam Sudan, Syria, Tunisia, Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Tây Sahara, Yemen, Iran, Ethiopia, Ý, San Marino, Vatican, Malta, Monaco, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha, Pháp [20][21][22])[23]. Phim ra mắt tại Nhật ngày 8 tháng 8 năm 2014, tại Ý ngày 6 tháng 11 năm 2014 (dưới tên Doraemon - Il film), tại IndonesiaSingapore ngày 18 tháng 12 năm 2014, tại Tây Ban NhaĐài Loan ngày 19 tháng 12 năm 2014, tại Thái Lan ngày 31 tháng 12 năm 2014, tại Hồng Kông ngày 5 tháng 12 năm 2015 (dưới tên Doraemon 3D: Stand by Me), và Ấn Độ, Pháp, Trung Quốc trong năm 2015.[24][25]

Về giải trí tại gia, phim sẽ được phát hành dưới dạng đĩa Blu-ray, với phiên bản thường và đặc biệt, và DVD bởi Pony Canyon ngày 18 tháng 2 năm 2015.[26][27][28]

Một cuộc khảo sát trực tuyến tại Nhật cho kết quả có 20.4% khán giả là trẻ em, 21.5% trong độ tuổi 20-29, 20.4% trong độ tuổi 30-39, 20.4% trong độ tuổi 40-49. 47% khán giả là nam, 53% là nữ. Có 88.4% khán giả đã khóc khi xem phim.[29][30]

Tên trong những ngôn ngữ khác[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ Tên
Tiếng Trung STAND BY ME 哆啦A夢 (STAND BY ME Duō La A Mèng)
Tiếng Ý Doraemon - Il film
Tiếng Tây Ban Nha Quédate conmigo, Doraemon
Tiếng Việt Doraemon Đôi bạn thân
Tiếng Thái โดราเอมอน เพื่อน กันตลอดไป
Tiếng Hàn STAND BY ME 도라에몽
Tiếng Bengali (Bangladesh) স্ট্যান্ড বাই মি ডোরেমন

Doanh thu[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 12, 2014 phim đạt doanh thu 8 380 000 000 yên và nằm trong top 5 phim Nhật Bản năm 2014 trên bảng xếp hạng tại Nhật Bản [2][3] Doanh thu tổng cộng của phim đạt 86.1 triệu đô la Mỹ trên toàn thế giới và là một trong số phim có doanh thu cao nhất Nhật Bản năm 2014 với doanh thu trong nước hơn 79 triệu đô la Mỹ.[31]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nikkan Sports Award lần thứ 27
Giải Đạo diễn - Takashi Yamazaki [32]
  • Liên hoan nghệ thuật truyền thông Hoạt hình Nhật Bản lần thứ 18
Giải của Ban giám khảo
Phim Hoạt hình xuất sắc [4]

Các sản phẩm phụ[sửa | sửa mã nguồn]

Hoạt hình Stand by Me Doraemon Visual Story
Doraemon Doi ban than.jpg
Tựa gốc 映画「STAND BY ME ドラえもん」VISUAL STORY
Tác giả Fujiko F. Fujio
Quốc gia Nhật Bản
Ngôn ngữ tiếng Nhật
Bộ sách Doraemon
Thể loại phiêu lưu, du hành thời gian, tình cảm, hài hước
Nhà xuất bản Shogakukan
Phát hành 7 tháng 8, 2014
Kiểu sách Shinsho
Số trang 80
ISBN ISBN 9784093883818
Cuốn trước Nobita và viện bảo tàng bảo bối
  • New translation "Doraemon"
Fujiko · F · Fujio (tác giả), Hiroshi Sasaki (biên tập), Fujiko Pro (giám sát) ISBN 978-4-09-388384-9
Cuốn sách bao gồm 7 tập truyện ngắn cấu thành kịch bản phim. Hiroshi Sasaki có phần bình luận giữa các truyện.
  • Hoạt hình Stand by Me Doraemon Visual Story (To all the way from the movie "STAND BY ME Doraemon" VISUAL STORY)
Fujiko · F · Fujio (Tác giả) ISBN 978-4-09-388381-8
Bản chuyển thể thành tranh truyện từ phim
  • BD / DVD
Ra mắt ngày 18 tháng 2 năm 2015 với PCXE-50408 (BD bản đặc biệt), PCXE-50409 (BD bản thường), PCBE-54251 (DVD bản giới hạn)

Chú ý và Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Robot Cat Doraemon's 1st 3D CG Film Teased in Video”. Anime News Network. 14 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2013. 
  2. ^ a ă 2014年邦画ベスト10、山崎貴監督2作品で171億円!” Eiga.com. (2014年12月16日) 2014年12月17日閲覧。
  3. ^ a ă Doraemon nằm trong top 5 phim Nhật Bản 2014
  4. ^ a ă 第38回日本アカデミー賞最優秀賞発表!、日本アカデミー賞公式サイト、2015年1月16日閲覧。
  5. ^ “Anime Robot Cat Doraemon Enters 3rd Dimension in 1st 3D CG Film”. Anime News Network. 13 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2013. 
  6. ^ Beck, Jerry (9 tháng 3, 2014). “Trailer phim: "STAND BY ME Doraemon"”. Animation Scoop. Truy cập 9 tháng 3, 2014. 
  7. ^ Stand by me Doraemon trên "Phim Chieu Rap
  8. ^ “映画『STAND BY ME ドラえもん』の主題歌に秦基博が決定!新曲を書き下ろし”. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  9. ^ “「ドラえもん」が初の3DCG映画化 来夏公開へ”. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  10. ^ “「STAND BY ME ドラえもん」3DCGで2014年夏公開 立体視アニメを山崎貴・八木竜一監督が”. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  11. ^ “『STAND BY ME ドラえもん』山崎貴&八木竜一&山本美月 単独インタビュー”. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  12. ^ “3DCG『ドラえもん』、『ALWAYS』『永遠の0』と同じ手法で活路”. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2014. 
  13. ^ “Variety” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2015. 
  14. ^ “2015 Doraemon Film is Nobita no Space Heroes Uchū Eiyū-ki”. Anime News Network. 10 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2014. 
  15. ^ “妻夫木聡、3D版『ドラえもん』で青年・のび太の声に 「本当に緊張しました!」”. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2014. 
  16. ^ “田原アルノ公式ブログ2014 Vol.91 ファンの方も世代交代していますが…観てください!田原アルノ 公式ブログ”. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2014. 
  17. ^ Oricon (bằng Japanese) http://www.oricon.co.jp/prof/artist/334531/products/music/1081877/1/ |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp). Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |script-title= (trợ giúp)
  18. ^ “Billboard Japan Hot 100”. Billboard Japan (bằng Japanese). Hanshin Contents Link. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2014. 
  19. ^ Fiver (ngày 10 tháng 11 năm 2014). “Fiver - Stand by Me (Official Music Video from movie: Stand by Me Doraemon)”. YouTube (bằng tiếng Anh). 
  20. ^ 3DCG『ドラえもん』、興収80億円突破 ORICON STYLE 2014年10月23日
  21. ^ “『STAND BY ME ドラえもん』21の国と地域へ進出! 海外バイヤーが大絶賛”. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2014. 
  22. ^ 3DCG『ドラえもん』世界へ 21ヶ国・地域で公開決定 ORICON STYLE 2014年8月19日
  23. ^ stand-by-me-doraemon-3d-cg-film-to-open-in-57-countries
  24. ^ “Stand by Me Doraemon (2014) - Release Info”. Internet Movie Database. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2014. 
  25. ^ [1]
  26. ^ “STAND BY ME ドラえもん [ブルーレイ豪華版]” (bằng Japanese). Pony Canyon. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2014. 
  27. ^ “STAND BY ME ドラえもん [ブルーレイ通常版]” (bằng Japanese). Pony Canyon. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2014. 
  28. ^ “STAND BY ME ドラえもん [DVD通常プライス版]” (bằng Japanese). Pony Canyon. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2014. 
  29. ^ “aramajapan” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2015. 
  30. ^ “tv-asahi.co.jp”. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2015. 
  31. ^ Nancy Tartaglione and David Bloom (ngày 10 tháng 1 năm 2015). “‘Transformers 4′ Tops 2014’s 100 Highest-Grossing International Films – Chart”. deadline.com. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2015. 
  32. ^ “山崎貴監督エンタメ貫き2冠/映画大賞”. 日刊スポーツ. 4 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2014. 
  33. ^ “ルミエール・ジャパン・アワードグランプリは「ドラえもん」”. 映画.com. 22 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]