Doraemon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Doraemon
Đôrêmon
DRMN 01.jpg
ドラえもん
(Doraemon)
Thể loại Hài hước, khoa học viễn tưởng
Manga
Tác giả Fujiko F. Fujio
Fujiko A. Fujio
Nhà xuất bản Cờ của Nhật Bản Shogakukan
Đối tượng Kodomo
Tạp chí Nhiều tạp chí khác nhau của Shogakukan
Phát hành Tháng 12 năm 19691996
Số tập 45 (truyện ngắn)
24 (truyện dài)
Anime
Đạo diễn Mitsuo Kaminashi
Hãng phim TMS Entertainment
Phát sóng 1 tháng 4 năm 197330 tháng 9 năm 1973
Số tập 52 (15 phút/tập)
26 (30 phút/tập) (danh sách tập)
Anime
Đạo diễn Tsutomu Shibayama
Hãng phim Shin-Ei Animation
Cấp phép Cờ của Nhật Bản Asatsu-DK
Flag of the United StatesViz Media
Cờ của Tây Ban Nha Luk Internacional
Cờ của Việt NamTrí Việt Media
Phát sóng 2 tháng 4 năm 197925 tháng 3 năm 2005
Số tập 1787[1] (danh sách tập)
Anime
Đạo diễn Kozo Kusuba
Hãng phim Studio Pierrot
Phát sóng 15 tháng 4 năm 2005nay
Số tập 628 (tính đến cuối tháng 6, 2014)" (danh sách tập)
{{{tựa}}}
Biểu tượng chủ đề Chủ đề Anime và Manga
Nihongo.svg
Bài viết này có chứa các ký tự tiếng Nhật. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì kanjikana.

Doraemon (ドラえもん?), tên thường gọi tại Việt Nam là Đôrêmon - tên gọi này xuất hiện đầu tiên từ bản dịch tiếng Việt bộ truyện tranh chuyển tác từ tiếng Thái của nhà xuất bản Kim Đồng, là một bộ truyện tranh Nhật Bản của tác giả Fujiko Fujio được sáng tác từ năm 1969 với mục đích ban đầu dành cho lứa tuổi thiếu nhi. Tác phẩm sau đó đã được chuyển thể thành các tập phim hoạt hình ngắn, dài cùng các thể loại khác như kịch, trò chơi điện tử. Bộ truyện kể về một chú mèo máy tên là Doraemon đến từ thế kỉ 22 để giúp một cậu bé lớp 4 hậu đậu tên là Nobi Nobita. Các câu chuyện của Doraemon thường ngắn gọn, dễ hiểu, dí dỏm và mang cái nhìn lạc quan về cuộc sống tương lai cũng như sự phát triển của khoa học - kĩ thuật. Doraemon đã giành được nhiều giải thưởng truyện tranh ở Nhật Bản và được tạp chí TIME Asia bình chọn là một trong 22 nhân vật nổi bật của châu Á[2]. Kể từ khi ra đời đến nay, Doraemon không chỉ được coi là nhân vật và bộ truyện tranh được yêu thích hàng đầu ở Nhật Bản, nó còn trở thành một biểu tượng văn hóa của đất nước này và được trẻ em nhiều nước trên thế giới yêu thích.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Doraemon là tác phẩm của Fujiko Fujio, bút danh chung của hai họa sĩ manga Fujimoto HiroshiAbiko Motoo. Bộ truyện ra mắt lần đầu tiên vào tháng 12 năm 1969[3] dành cho độc giả là các kodomo (thiếu nhi). Theo như lời tác giả Hiroshi thì trong lúc đang bí đề tài cho nhân vật truyện tranh mới thì ông bỗng thấy con gái của mình đang chơi với một con lật đật, khi đó ông bỗng nảy ra ý tưởng tạo ra nhân vật mới có hình dáng kết hợp của một con mèo với lật đật, đó chính là hình dáng của nhân vật Doraemon sau này[3].

Ban đầu các câu chuyện lẻ Doraemon được nhà xuất bản Shogakukan phát hành đồng loạt trên sáu tập san dành cho trẻ em. Các tạp chí này được đặt tên theo các cấp học của trẻ nhỏ, đó là Yoiko (nhà trẻ), Yōchien (mẫu giáo), và từ Shogaku Ichinensei (lớp Một) cho đến Shogaku Yonnensei (lớp Bốn). Từ năm 1973, bộ truyện được phát hành thêm trên hai tạp chí Shogaku Gogensei (lớp Năm) và Shogaku Rokunensei (lớp Sáu). Các câu chuyện trên mỗi tạp chí là khác nhau, đồng nghĩa với việc tác giả phải sáng tác ít nhất là 6 câu chuyện mỗi tháng. Từ năm 1974, các câu chuyện nhỏ của Doraemon bắt đầu được tập hợp trong các tập truyện dày, từ năm 1974 đến năm 1996 đã có tổng cộng 45 tập truyện như vậy ra đời[4]. Năm 1977, tạp chí truyện tranh CoroCoro Comic đã ra đời như một tạp chí chuyên về Doraemon. Các manga gốc của các bộ phim Doraemon cũng được phát hành trên CoroCoro Comic. Năm 2005 Shogakukan đã phát hành chuỗi năm tập manga với tên Đội quân Doraemon (tên cũ: Đôrêmon thêm) với những câu chuyện không có trong 45 tập xuất bản gốc. Từ năm 1987 hai tác giả Hiroshi và Motoo không còn dùng chung bút danh Fujiko F. Fujio, khi đó chỉ còn ông Fujimoto là người sáng tác Đôrêmon với bút danh "Fujiko F. Fujio" (bút danh của ông Motoo khi này là "Fujiko Fujio (A)"). Ngay cả sau khi ông Fujimoto qua đời năm 1996, các tập truyện, phim ngắn và phim dài của Đôrêmon vẫn tiếp tục được phát hành và tiêu thụ mạnh tại Nhật Bản. Tính cho đến năm 1999 đã có khoảng 100 triệu tập Doraemon được tiêu thụ tính riêng ở Nhật (khoảng 1,5 đến 2 triệu bản được bán hết mỗi năm), bên cạnh đó là 2000 tập phim ngắn được phát sóng (kể từ năm 1979) và 33 tập phim dài được phát hành (kể từ năm 1980) với lượng khán giả đến rạp lên tới 63 triệu lượt[3].

Sau Nhật Bản, Doraemon đã được phát hành tại nhiều quốc gia khác trên thế giới và đều trở thành nhân vật truyện tranh được hâm mộ, đặc biệt là tại châu Á[2]. Phần lớn các nước bắt đầu phát hành Doraemon bằng tiếng bản ngữ từ đầu thập niên 1990. Ở một số nước như Thái Lan, Hồng Kông, Hàn Quốc hay Việt Nam, bộ truyện này được hâm mộ ngay từ khi còn phát hành ở dạng chưa có bản quyền[3][5]. Cuối tháng 5, 2010, tên Đôrêmon được Nhà xuất bản Kim Đồng đổi tên thành tên gốc Doraemon theo công ước Bern.[6]

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Doraemon trở về quá khứ gặp Nobita bằng cỗ máy thời gian, một cảnh trong tập một của bộ truyện (ở Nhật Bản)

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Doraemon (Đôrêmon) là một chú mèo máy được Sewashi (Nôbitô), cháu ba đời của Nobita gửi về quá khứ cho ông mình để giúp đỡ Nobita tiến bộ, tức là cũng sẽ cải thiện hoàn cảnh của con cháu Nobita sau này. Còn ở hiện tại, Nobita là một cậu bé luôn thất bại ở trường học, và sau đó là thất bại trong công việc, đẩy gia đình và con cháu sau này vào cảnh nợ nần.

Các câu chuyện trong Doraemon thường có một công thức chung, đó là xoay quanh những rắc rối hay xảy ra với cậu bé Nobita học lớp bốn, nhân vật chính thứ nhì của bộ truyện. Doraemon có một chiếc túi thần kỳ trước bụng với đủ loại bảo bối của tương lai. Cốt truyện thường gặp nhất sẽ là Nobita trở về nhà khóc lóc với những rắc rối mà cậu gặp phải ở trường hoặc với bạn bè. Sau khi bị cậu bé van nài hoặc thúc giục, Doraemon sẽ đưa ra một bảo bối giúp Nobita giải quyết những rắc rối của mình, hoặc là để trả đũa hay khoe khoang với bạn bè của cậu. Nobita sẽ lại thường đi quá xa so với dự định ban đầu của Doraemon, thậm chí với những bảo bối mới cậu còn gặp rắc rối lớn hơn trước đó. Đôi khi những người bạn của Nobita, thường là Suneo (Xêkô) hoặc Jaian (Chaien) lại lấy trộm những bảo bối và sử dụng chúng không đúng mục đích. Tuy nhiên thường thì ở cuối mỗi câu chuyện, những ai sử dụng sai mục đích bảo bối sẽ phải chịu hậu quả do mình gây ra, và người đọc sẽ rút ra được bài học từ đó.[7]

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

  • Doraemon (ドラえもん Doraemon?) (tên gọi khác ở Việt Nam: Đôrêmon): Chú mèo máy của thế kỉ 22, sinh ngày thứ bảy, 3 tháng 9 năm 2112, cao 129,3 cm, cân nặng 129,3 kg, vòng bụng 129,3 cm, khi nhảy cao (gặp chuột) 129,3 cm.Trước bụng Doraemon có một cái túi không gian bốn chiều đựng rất nhiều bảo bối thần kỳ và các vật linh tinh khác trong đó như chén,đũa,... Doraemon thích ăn bánh rán (dorayaki) và rất sợ chuột. Doraemon là một chú mèo máy thông minh, tốt bụng. Với cái túi thần kì chứa các bảo bối của thế kỉ 22 và nhất là lòng dũng cảm, quý mến bạn bè, Doraemon vẫn là vị cứu tinh cho Nobita cùng nhóm bạn, thậm chí cho cả nhân loại lúc hiểm nguy, và có ý nghĩa khuyến khích độc giả nhỏ tuổi biết ước mơ và thích ước mơ. Hình thể của Doraemon ở những tập đầu hơi mập mạp một chút. Ở những tập sau, hình thể của Doraemon đã được sửa lại cho cân đối hơn.
  • Nobita (野比 のび太 Nobi Nobita?): Nhân vật chính thường được Doraemon giúp đỡ, cậu sinh vào 7 tháng 8 năm 1964. Cậu sợ rất nhiều thứ: sợ mẹ, sợ học, sợ thầy giáo, sợ ma, sợ nhện, sợ Jaian... Cậu là học sinh lớp bốn và là con một trong nhà. Có rất nhiều tính xấu như ham ngủ ngày, học dốt, chơi thể thao dở, lười làm việc nhà, hay ỷ lại vào người khác... Tuy cậu rất giỏi bắn súng và rất sáng tạo trong trò chơi dây, nhưng việc mà cậu giỏi nhất là ngủ. Thế nhưng, Nobita có một tấm lòng nhân hậu. Ngoài ra trong vài tập truyện, cậu cũng trở thành "người hùng bất đắc dĩ".Và cũng có một số tập truyện, cậu lại là "anh hùng rơm".
  • Shizuka (源 しずか Minamoto Shizuka?) (tên gọi khác ở Việt Nam: Xuka): Bạn cùng lớp với Nobita và sau này trở thành vợ Nobita. Shizuka xinh xắn, là con ngoan trò giỏi. Sở thích của Shizuka là chơi vĩ cầm dù chơi rất tệ, thích ăn khoai lang nướng(nhưng cô không muốn kể cho ai biết chuyện này) và nhất là thích tắm. Cô rất chăm học và chơi thể thao cũng giỏi. Tính nết Shizuka tuy dễ thương, yếu đuối nhưng nhiều lúc cũng khá mạnh mẽ. Shizuka luôn luôn bênh vực, luôn kèm cặp Nobita trong hoc tập và nhắc nhở cậu rằng phải thật cứng cỏi thì mới xứng mặt nam nhi. Shizuka rất sợ ma, nhện, cóc...
  • Jaian (ジャイアン Jaian?), tên thật là Goda Takeshi (剛田 武 Gōda Takeshi?), (tên gọi khác ở Việt Nam: Chaien): Sinh nhật ngày 15 tháng 6.Bạn cùng lớp với Nobita, thường bị các bạn bí mật gọi là "Jaian lồi rốn" và bị các bạn nói xấu sau lưng rất nhiều do tính tình thích gây gổ, lấy đồ vật của người khác và luôn tự hào về giọng hát kinh khủng của mình cộng với tài nấu những món ăn dở tệ. Tuy hay bắt nạt bạn bè Jaian rất yêu thương em gái mình là Jaiko và trong những tình huống nguy hiểm, cậu luôn là người đáng tin cậy. Jaian không sợ thứ gì hết, ngoại trừ mẹ và thầy giáo.
  • Suneo (骨川 スネ夫 Honekawa Suneo?) (tên gọi khác ở Việt Nam: Xêko): Bạn cùng lớp với Nobita, thường được gọi là "Suneo mỏ nhọn" vì hay khoe khoang về sự giàu có của gia đình mình với bạn bè. Cậu ta khoe khoang nhiều thứ và luôn cho Nobita chỉ làm người ngoài lề. Mặc dù vậy, Suneo là một cậu bé ham hiểu biết, có năng khiếu về cơ khí và điện tử. Tuy hay trêu chọc bạn bè cùng Jaian với cái tài nịnh nọt nhưng Suneo cũng rất tốt bụng và biết cảm thông trong mọi nguy hiểm, có điều cậu là người nhút nhát nhất trong những cuộc phiêu lưu. Cậu luôn tự cho mình là người đẹp trai và không thích chiều cao của mình, vì cậu khá lùn. Ước mơ của cậu là trở thành một nhà thiết kế thời trang trong tương lai.

Nhân vật phụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dorami (ドラミ Dorami?) (tên gọi khác ở Việt Nam: Đôrêmi): Em gái của Doraemon, là một cô mèo máy có màu vàng. Dorami thông minh hơn anh trai Doraemon nhiều, tuy nhiên lại sợ gián và nước.
  • Ông Nobi (野比 のび助 Nobi Nobisuke?): Bố của Nobita. Hồi nhỏ ông từng đam mê làm họa sĩ nhưng sau này chỉ làm một viên chức nhỏ trong một công ty. Ông có tính tình hậu đậu, chậm chạp y hệt Nobita.
  • Bà Nobi (玉子 Nobi Tamako?): Mẹ của Nobita. Trước khi kết hôn, bà mang tên Kataoka Tamako (のびたまこ Kataoka Tamako?). Bà là người cứng cỏi nhất nhà, không giống như ông Nobi và con Nobita. Tuy vậy bà Tamako có điểm yếu là sợ gián và chuột.
  • Dekisugi (できすぎ Hidetoshi Dekisugi?) (tên gọi khác ở Việt Nam: Đêkhi): Bạn cùng lớp với Nobita, học sinh xuất sắc nhất của lớp. Cậu cũng chơi thể thao rất giỏi và được các bạn gái mê tít. Dekisugi còn được Shizuka ngưỡng mộ, điều này làm cho Nobita rất ghen tị.
  • Nobi Sewashi (野比 セワシ Nobi Sewashi?): Chắt của Nobita, là người đã đem Doraemon đến bên Nobita
  • Nobi Nobisuke (野比 ノビスケ Nobi Nobisuke?): Con trai của Nobita. Trái ngược với Nobita, Nobisuke là một cậu bé rất hiếu động. Tên của cậu được đặt theo tên của bố Nobita, ông Nobi.
  • Minamoto Yoshio (源 義雄 Minamoto Yoshio?): Bố của Shizuka, một nhân vật ít xuất hiện trong truyện
  • Sunetsugu (スネツグ Sunetsugu?) Là em trai của Suneo sống ở New York với cô chú(cô chú ấy sống một mình và nuôi dạy cậu nhóc như một đứa con của mình). Cậu nhóc là một người rất tốt và rất kính trọng anh trai của mình, Vì Suneo thường hay khoe khoang và nói dối qua những lần viết thư gửi cho cậu nhóc.
  • Sunekichi (スネ吉 Sunekichi?) Anh họ học Đại học của Suneo. Anh ấy là một chuyên viên điều khiển đồ chơi từ xa qua thiết bị vô tuyến. Anh ấy thường dẫn Suneo và những người bạn của mình đi picnic và đi bộ đường dài.
  • Sunetaro (スネ太郎 Sunetarō?)

Phiên bản tiếng Anh[sửa | sửa mã nguồn]

vào tháng 7, 2013 Fujiko Fujio Production đã công bố rằng họ sẽ hợp tác với nhà xuất bản ebook Yavager JapanAltJapan Co., Ltd để cho ra truyện Doraemon màu kĩ thuật số phiên bản Tiếng Anh qua Amazon Kindle phiên bản Bắc Mỹ. Shogakukan sẽ phát hành volume đầu tiên của bộ truyện vào tháng 11,2013. Với phiên bản này thì tên các nhân vật có 1 số sự thay đổi: Nobita được đổi thành "Noby", Suneo: "Sneech", và Jaian là "Big G". Còn Dorayaki(bánh rán) thì được là "Fudgy Pudgy Die"

Chủ đề[sửa | sửa mã nguồn]

Bối cảnh của Doraemon là xã hội Nhật Bản những năm 1970 được thu nhỏ trong một khu phố ngoại ô của Tokyo, nơi đó có những gia đình khá giả với biệt thự, xe hơi như gia đình của Suneo, nhưng cũng có những gia đình bình dân mà ông bố chỉ là một viên chức nhỏ còn bà mẹ luôn phải lo lắng cho chi tiêu trong nhà như gia đình của Nobita. Chủ đề chính trong Đôrêmon thường xoay quanh mối quan hệ bè bạn của nhóm bạn Doraemon - Nobita - Shizuka - Jaian - Suneo hay quan hệ giữa các cô bé, cậu bé trong nhóm với gia đình, họ hàng, thú nuôi trong nhà. Do là manga dành cho lứa tuổi thiếu nhi nên các mâu thuẫn, rắc rối trong Doraemon nếu có nảy sinh thì cũng chủ yếu xuất phát từ suy nghĩ trẻ con của nhóm bạn và nhanh chóng được giải quyết vào cuối câu chuyện.[2] Tuy nhiên đôi khi tác giả cũng đặt nhóm bạn của Doraemon vào những chủ đề "nghiêm túc" hơn như bảo vệ môi trường, sự phụ thuộc của con người vào khoa học công nghệ hay mâu thuẫn giữa các thế hệ trong gia đình, qua đó đưa ra cho độc giả nhỏ tuổi những bài học đạo đức nhẹ nhàng. Không chỉ đề cập tới các "bảo bối" vốn xuất phát từ trí tưởng tượng của mình, tác giả Fujimoto còn thông qua Doraemon giới thiệu với người đọc những thành tựu lớn của khoa học - kĩ thuật thập niên 1970 như các nghiên cứu về thuyết tương đối, tia laser hay du hành vũ trụ, và đưa ra các giả thuyết khoa học như bước nhảy alpha hay lỗ đen.[3]

Theo ông Ito Zensho, một người thân cận của họa sĩ Fujiko F Fujio và là giám đốc công ty Fujiko Pro. thì nhân vật Nobita đã thể hiện phần nào hình ảnh của chính họa sĩ Fujiko, một cậu bé kém thể thao nhưng luôn thích tìm hiểu những kiến thức khoa học và xã hội.[8]. Hai tác giả Fujimoto Hiroshi và Abiko Motoo cũng thể hiện mỗi thế mạnh riêng của từng người qua bộ truyện Doraemon, với Motoo là khả năng miêu tả tâm lý nhân vật xuất sắc, còn ở Fujimoto là khả năng xây dựng những bối cảnh và nhân vật có vẻ ngoài bình thường nhưng lại ẩn chứa bên trong những điều tuyệt vời bí mật[9].

Thời gian trong Doraemon[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng theo ông Ito Zensho thì "thời gian" là một trong những yếu tố cơ bản để họa sĩ Fujiko F Fujio sáng tác nên bộ truyện Doraemon[8]. Người đọc thường xuyên thấy xuất hiện trong các mẩu chuyện Doraemon ước muốn của Nobita và các nhân vật khác với việc "điều khiển thời gian". Ước muốn đó có lẽ xuất phát từ sự chặt chẽ, chính xác về thời gian, một biểu hiện của đời sống thường ngày của người dân Nhật. Giống như ông bố hay đi làm muộn, Nobita thường xuyên đi học trễ giờ, và đi kèm với nó luôn là hình phạt đứng ngoài lớp, chép phạt hay thông báo với bố mẹ. Tác giả Fujimoto xây dựng những rào cản về thời gian là để Nobita bộc lộ ước muốn thay đổi sự ngặt nghèo đó. Và để giúp đỡ cậu bé, Doraemon có hàng loạt "bảo bối" liên quan tới thời gian, từ tivi thời gian, đồng hồ thời gian, thắt lưng thời gian đến bảo bối phổ biến nhất, thường xuất hiện nhất đó là cỗ máy thời gian được đặt trong ngăn bàn học của Nobita. Không tập trung đi vào khai thác nguyên lý hoạt động của cỗ máy thời gian hay nghịch lý thời gian mà nó đem lại như các tiểu thuyết khoa học viễn tưởng phương Tây, truyện Doraemon chỉ tập trung đi sâu vào việc các cô bé, cậu bé đã khai thác tính năng kì diệu của cỗ máy đó như thế nào, và vì thế Doraemon là hành trình của giấc mơ, giàu tính nhân văn và gần gũi với các độc giả nhỏ tuổi. Đôi khi những nghịch lý trong quan hệ nhân quả của cỗ máy thời gian cũng được tác giả đề cập tới, nhưng chỉ trong các câu chuyện khi Nôbita muốn sử dụng nó vì lợi ích cá nhân, còn khi Nobita và Doraemon chui vào hộc bàn với những ý định tốt đẹp như tìm lại hình ảnh người thân hay hàn gắn những lỗi lầm trong quá khứ, hai cậu bé lại thường đạt được mục đích của mình. Các chuyện tiêu biểu cho trường hợp này có thể kể tới "Bà nội", tập truyện kể về cuộc gặp gỡ giữa Nobita với người bà nội đã khuất.[10]

Bảo bối[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong những nét đặc sắc nhất của bộ truyện là những bảo bối - dōgu (kana: 道具) của Doraemon. Đó có thể là những thiết bị mang hình dáng của vật dụng thường ngày nhưng lại có chức năng kì diệu theo kiểu khoa học viễn tưởng. Với những bảo bối này, Doraemon theo một cuộc bầu chọn năm 2007 trên trang tin tức Oricon thậm chí đã được xếp thứ hai trong "danh sách các nhân vật manga quyền năng nhất", chỉ sau Songoku của Bảy viên ngọc rồng[11]. Do có rất nhiều tập truyện lẻ và hàng loạt các tập phim hoạt hình ngắn, dài trong đó mỗi một tập lại xuất hiện những dōgu mới vì vậy khó có thể thống kê chính xác số dōgu đã từng xuất hiện trong Doraemon. Trong một lần trả lời phỏng vấn ông Fujiko F. Fujio khi được hỏi về số bảo bối của Doraemon đã đưa ra con số 1293[12], nhưng có lẽ đó chỉ là con số dự định ban đầu của ông (tương ứng với các số đo của Doraemon - đều là 1293) vì theo một thống kê năm 2004 của giáo sư Yokoyama Yasuyuki (thuộc đại học Toyama) thì số bảo bối của Doraemon xuất hiện trong 1344 câu chuyện lên tới 1963 dōgu[13]. Các bảo bối được tác giả tưởng tượng ra từ thập niên 1970 nên đã có một số được khoa học - kỹ thuật hiện thực hóa. Một ví dụ là chiếc máy chụp ảnh vệ tinh xuất hiện trong tập phim Nobita thám hiểm vùng đất mới (のび太の大魔境 - tên cũ là Pho tượng thần khổng lồ) được Doraemon và Nobita sử dụng để tìm ra vị trí của pho tượng thần giữa rừng rậm châu Phi. Hiện nay với các trang web chứa ảnh vệ tinh như Google Maps, con người hoàn toàn có thể tiếp cận với những ảnh vệ tinh như vậy mà không cần phải nhờ tới "Vệ tinh gia dụng" của Doraemon. Đầu năm 2013, tập đoàn Samsung tung ra thị trường sản phẩm điện thoại di động Samsung Galaxy S4 có chức năng đặc biệt như tư dịch thông mình và chụp ảnh kèm âm thanh[14], trong tương lai con người có thể phá vỡ rào cản ngôn ngữ mà không cần tới "Bánh mì chuyển ngữ" và có thể chụp hình với âm thanh mà không cần tới bảo bối cùng tên.

Đoạn kết[sửa | sửa mã nguồn]

Hình vẽ Doraemon trong phần hồi kết của họa sĩ nghiệp dư Yasue T. Tajima sáng tác.

Do là một bộ manga có kết cấu tương đối độc lập, các câu chuyện chỉ có chung bối cảnh và nhân vật, còn cốt truyện của các tập Doraemon ít có liên hệ với nhau vì vậy cho tới khi qua đời năm 1996 hầu như chưa bao giờ họa sĩ Fujiko đề cập tới một "đoạn kết" cho bộ truyện. Chỉ có ba lần "đoạn kết" của Doraemon được xuất bản trong đó có hai đoạn kết với mục đích kết thúc bộ truyện vì các độc giả của Doraemon đã lớn hơn và nhà xuất bản nghĩ rằng Doraemon cần một cái kết thực sự. Tháng 3 năm 1971 tạp chí Shogaku 4-nensei đã xuất bản một đoạn kết theo đó vì những người đến từ tương lai gây ra quá nhiều rắc rối, chính phủ ở thế kỉ 22 đã quyết định cấm hoàn toàn việc du hành thời gian, đồng nghĩa với việc Doraemon phải quay trở lại thời đại của cậu và phải rời xa Nobita. Tháng 3 năm 1972 cũng tạp chí Shogaku 4-nensei đã đưa ra một đoạn kết khác theo đó Doraemon vì vài lý do phải quay trở lại tương lai nhưng cậu phải bịa ra lý do là vì trục trặc kĩ thuật để Nobita có thể để chú mèo máy ra đi. Nobita tin vào lý do đó và hứa sẽ đợi đến khi Doraemon khỏe lại. Nhận ra rằng Nobita có thể chịu đựng được sự ra đi của mình, Doraemon nói cho cậu sự thật và Nobita đã chấp nhận nó. Cuối cùng Đôrêmon trở về thời tương lai. Hai đoạn kết này sau đó không được tái bản.

Đoạn kết thứ ba được coi là đoạn kết chính thức thực ra là vì xếp hạng của bộ truyện trên truyền hình thấp và một phần vì hai tác giả của bộ truyện quá bận với các công việc khác. Tháng 3 năm 1973 trong ấn phẩm của tạp chí Shogaku 4-nensei, Nobita trở về nhà sau khi lại bị Jaian bắt nạt. Sau đó, Doraemon nói với Nobita rằng cậu phải quay trở về tương lai. Nobita cố gắng thuyết phục Doraemon ở lại nhưng sau khi nói chuyện đó với bố mẹ mình, cậu đã chấp nhận để Đôrêmon ra đi. Hai cậu bé cùng nhau đi dạo lần cuối trong công viên. Sau khi hai người chia tay, Nobita gặp Jaian và lại bị bắt nạt. Nhưng lần này, Nobita đã cố gắng thắng Jaian bằng mọi giá chỉ với mục đích là Doraemon sẽ an tâm về cậu khi chú mèo quay trở lại tương lai, vì Nobita nhất định không đầu hàng dù bị đánh tơi tả, cuối cùng Jaian phải công nhận Nobita là người thắng cuộc. Doraemon tìm thấy Nobita khi đi ngang qua và đưa cậu về nhà. Ngồi cạnh Nobita đã thiếp đi, sau một hồi suy nghĩ, Doraemon quyết định trở về tương lai. Đoạn kết này cũng có thể tìm thấy ở chương cuối của tập 6 bộ truyện tái bản "Tạm biệt Doraemon". Tuy nhiên Doraemon luôn nằm trong tâm trí của hai người và bộ truyện lại được tiếp tục chỉ một tháng sau đó. Năm 1981, câu chuyện kết này được làm thành một tập phim hoạt hình có tên "Doraemon trở lại", và đến năm 1998 thì được phát hành như một bộ phim hoạt hình riêng.

Đã có nhiều người hâm mộ hoặc các họa sĩ manga nghiệp dư tìm cách xây dựng một "đoạn kết" cho Doraemon. Trong đó nổi tiếng nhất là đoạn kết do họa sĩ manga nghiệp dư có bút danh Yasue T. Tajima xây dựng[15]. Theo đó bộ pin của Doraemon cạn năng lượng, và Nobita phải chọn lựa giữa việc tự mình thay thế bộ pin bên trong chú mèo máy bất động, mà việc này có thể dẫn đến Đôrêmon bị cài đặt lại từ đầu và mất hoàn toàn trí nhớ, hoặc cậu phải chờ một nhân viên kĩ thuật đủ khả năng phục hồi lại Doraemon một ngày nào đó. Ngay từ hôm đó Nobita tự hứa rằng mình sẽ chăm chỉ ở trường, tốt nghiệp loại ưu và sẽ trở thành một chuyên viên về robot. Cuối cùng trong tương lai cậu đã thực sự trở thành một giáo sư về robot và thành công trong việc làm sống lại chú mèo máy. Cậu trở thành một chuyên gia trí tuệ nhân tạo thành đạt và sống hạnh phúc, thậm chí còn giúp đỡ con cháu giải quyết những khó khăn tài chính đã dẫn đến việc họ phải gửi Doraemon về cho Nobita.[16] Ý tưởng về kịch bản kết này được Tajima đưa lên Internet năm 1998, năm 2005 anh chuyển nó thành dạng manga và chỉ trong vòng hơn một năm Tajima đã bán được tới trên 13.000 bản "Đoạn kết của Doraemon" với giá 500 yên mỗi bản. Sự việc đi xa tới mức nhà xuất bản Shogakukan, nơi giữ bản quyền cho Doraemon đã phải buộc Tajima ngừng phát hành, họ cũng công nhận rằng nét vẽ của người họa sĩ nghiệp dư này không khác nhiều lắm so với nét vẽ của họa sĩ quá cố Fujiko[17], một số người còn nhận xét rằng cái kết do Tajima xây dựng có tính giáo dục sâu sắc không kém những câu chuyện Doraemon "thật"[15]. Nhưng hầu như Doraemon là một cuốn truyện không hề có đoạn kết.

Chuyển thể[sửa | sửa mã nguồn]

Phim hoạt hình[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu trưng (logo) của phim hoạt hình Doraemon từ năm 2005 tới nay.
Bài chi tiết: Doraemon (phim)

Các tập phim hoạt hình Doraemon bắt đầu được phát sóng trên kênh Nippon Television từ năm 1973[4] tuy nhiên chúng ít được đón nhận và phải ngừng sản xuất sau một thời gian ngắn. Đến năm 1979 kênh TV Asahi bắt đầu sản xuất một loạt phim hoạt hình ngắn mới, loạt phim Doraemon này đã được phát sóng từ đó cho tới hiện tại với khoảng trên 1.700 tập[3]. Các bộ phim hoạt hình ngắn Doraemon đều đạt được tỉ lệ người xem rất cao và được coi là một trong các yếu tố thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp phim hoạt hình Nhật Bản[18]. Năm 2005 đài TV Asahi đã công bố các seiyū mới để lồng tiếng cho nhân vật của Doraemon, họ thay thế cho những diễn viên lồng tiếng đã làm việc liên tục gần 20 năm trước đó[19]. Loạt phim hoạt hình này sau khi công chiếu ở Nhật đã được phát sóng trên nhiều nước khác trong đó có những nước chưa phát hành chính thức truyện tranh Doraemon.

Vào năm 1980, phim đầu tiên trong loạt phim hoạt hình chủ đề (mỗi năm sản xuất một tập) được công chiếu, đây là dự định được ấp ủ từ lâu của tác giả Fujimoto[9]. Các phim này có tính chất phiêu lưu hơn khi các nhân vật quen thuộc trong Doraemon đến những nơi nguy hiểm và kì lạ. Nobita và các bạn đã quay về thời kì khủng long, đến những nơi xa xôi trong dải ngân hà, vào đến trung tâm của rừng già châu Phi nơi mà họ đã gặp một giống chó có tính người, xuống tận dưới đáy đại dương, và vào cả trong thế giới phép thuật. Nhiều phim dựa trên những truyền thuyết như Atlantis hay tác phẩm văn học nổi tiếng như Tây du kíNghìn lẻ một đêm. Một số phim có chủ đề khá "nghiêm túc", đặc biệt là về việc bảo vệ môi trường và việc ứng dụng các công nghệ mới. Tại Việt Nam các bộ phim này được xuất hiện lần đầu dưới dạng các tập truyện dài, hiện tại đã có 17 bộ phim dài được phát sóng tại Việt Nam kể từ ngày 7 tháng 12 năm 2012, trong đó có một phim được chiếu rạp vào ngày 11 tháng 10 năm 2008Chú khủng long của Nobita 2006. Bộ phim gần đây nhất là Nobita và viện bảo tàng bảo bối nó đã đánh bại Godzila về tổng số vé bán ra. Có thể nói là Doraemon là bộ phim đem lại doanh thu lớn nhất của hãng phim Toho: Chỉ 33 năm (1990-2013) thì tổng số vé bán ra của phim Doraemon đã chạm mốc 100 triệu so với 50 năm phim Godzilla (1954-2013) chỉ bán được tổng cộng 99 triệu vé. Sắp tới bên Nhật cho ra mắt phim 3D đầu tiên đầu tiên về Doraemon với tên là Stand by Me Doraemon

Chuyển thể khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 năm 2008 thông tin về vở nhạc kịch Doraemon đầu tiên được công bố. Vở kịch này dựa trên phim hoạt hình dài Nobita và hành tinh muông thú (Ngôi sao cảm) và được công diễn tại Không gian Nghệ thuật Tokyo (Tokyo Metropolitan Art Space) từ ngày 4 tháng 9 đến ngày 14 tháng 9 năm 2008[20]. Diễn viên vào vai Đôrêmon là Mizuta Wasabi, seiyū hiện đang lồng tiếng cho Doraemon cho các loạt phim hoạt hình của TV Asahi[21]. Tương tự các manga nổi tiếng khác, Doraemon sau khi ra đời cũng nhanh chóng được chuyển thể thành các trò chơi điện tử trên nhiều thế hệ máy. Có thể tìm thấy các trò chơi lấy nhân vật chính là Doraemon và các bạn trên máy NES của Nintendo[22], PlayStation của Sony[23] hay mới nhất là trên các máy Wii của Nintendo[24]. Ngoài ra, Doraemon còn xuất hiện trong nhiều bộ trò chơi khác với vai trò như một nhân vật phụ.

Truyện tranh liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhân vật trong bộ truyện Đội quân Doraemon (Đôrêmon Thêm).
Các nhân vật trong bộ truyện Doraemon bóng chày.

Do nhu cầu của độc giả với Doraemon là rất lớn trong khi sức làm việc của tác giả Fujiko Fujio chỉ có hạn, nhà xuất bản Shogakukan đã cho xuất bản một số truyện tranh phụ cũng lấy nhân vật chính là Doraemon nhưng do các họa sĩ khác vẽ với chủ đề khác so với các chủ đề thường được Đôrêmon nhắc tới. Đó là các bộ Đội quân Doraemon (Doraemon Thêm - tiếng Nhật: ザ・ドラえもんズ) do Tanaka Doumei sáng tác và Doraemon bóng chày (tiếng Nhật: ドラベース) do Mugiwara Shintaro sáng tác. Cả hai bộ truyện này đều đã được nhà xuất bản Shogakukan xuất bản thành sách và được nhà xuất bản Kim Đồng tái bản theo hợp đồng chuyển nhượng bản quyền tại Việt Nam.[25] Cả hai bộ truyện này đều chỉ tập trung vào nhân vật Doraemon, Dorami hoặc các người máy có hình dáng, tính cách và khả năng tương tự Doraemon. Từ tháng 4 năm 1974 đến tháng 7 năm 1977, tác giả Fujiko Fujio còn sáng tác một loạt truyện tranh cho tạp chí Chagurin có nội dung và nhân vật gần tương tự với Doraemon, đó là manga Cuốn từ điển kỳ bí[26] (キテレツ大百科, Kiteretsu Daihyakka). Bộ truyện này có hai nhân vật chính là cậu bé Kiteretsu cùng chú người máy Korosuke, cả hai có ngoại hình và tính cách rất giống với đôi bạn Nobita - Doraemon. Truyện cũng có bối cảnh, chủ đề và các "bảo bối" gần tương tự với bộ Đôrêmon. Cuốn từ điển kỳ bí sau đó cũng được chuyển thể thành 331 tập phim hoạt hình ngắn phát trên đài Fuji Television. Cả ba bộ manga Đội quân Doraemon, Doraemon bóng chàyCuốn từ điển kỳ bí đều đã được Nhà xuất bản Kim Đồng mua bản quyền và xuất bản ở Việt Nam.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Doraemon không chỉ là một bộ manga được ưa chuộng mà nó còn được coi là một tác phẩm có tác động tích cực tới nhiều mặt của trẻ em Nhật và các nước trên thế giới. Theo phân tích của Anne Allison thì điều làm Doraemon được độc giả yêu quý nhất không phải là những bảo bối thần kỳ mà chính là tình bạn của chú mèo máy với cậu bé yếu đuối Nobita.[27] Hình ảnh thân thiện của Doraemon cùng những câu chuyện ngắn gọn, dễ hiểu được cho là đã góp phần thúc đẩy quá trình tập đọc, tập viết của trẻ em Nhật trong những thập niên 1970 và 1980[28]. Những "bảo bối" cũng các câu chuyện phiêu lưu trong Doraemon đã xây dựng cho độc giả nhỏ tuổi sự ham thích tìm hiểu khoa học - công nghệ, đặc biệt là sự ham thích với robot và các ứng dụng của robot trong cuộc sống[29]. Hơn hết cách nhìn tương lai với con mắt tích cực cùng những kết thúc có hậu của các cuộc phiêu lưu trong Đôrêmon đã giúp trẻ em có được niềm tin vào tương lai cùng bài học "luôn cố gắng tìm ra lời giải" cho những khó khăn gặp phải trong cuộc sống[30].

Với những thế hệ độc giả hâm mộ Doraemon đầu tiên của thập niên 1970 và 1980, trong hoàn cảnh nước Nhật hiện đại ngày nay bộ truyện này còn có thêm một ý nghĩa khác, đó là gợi nhớ lại những quan hệ gia đình gắn bó, sự tôn trọng truyền thống và văn hóa dân gian, vốn đang phai nhạt dần trong xã hội Nhật[31]. Tạp chí TIME Asia đánh giá trong số các "sản phẩm văn hóa" được nước Nhật xuất khẩu ra thế giới thì Doraemon là sản phẩm đáng yêu và giàu tính nhân bản nhất[2]. Có nhiều lý do để Đôrêmon không chỉ phù hợp với trẻ em Nhật Bản mà còn lôi cuốn được trẻ em ở các nền văn hóa khác, đó là sự hài hước ẩn chứa trong mỗi câu chuyện, đó là những nhân vật gần gũi với trẻ em - độc giả nhỏ tuổi có thể thấy Nobita, Shizuka, Jaian và Suneo cũng có những tật xấu, những rắc rối như chính các em gặp phải ngoài đời, đó là tình yêu với cha mẹ, ông bà, bạn bè và mọi thứ xung quanh, đó còn là niềm tin vào khả năng trong mỗi đứa trẻ - các em tuy có thể nhỏ bé, yếu đuối như Nobita nhưng vẫn có thể "cứu thế giới", thậm chí là "cứu vũ trụ"[32]. Leo Ching trong bài viết của mình cho rằng thành công của Doraemonchâu Á xuất phát từ việc bộ truyện đã phản ánh được giá trị chung của châu lục này như trí tưởng tượng hay tinh thần trách nhiệm, đây cũng là lý do giúp một sản phẩm văn hóa xuất khẩu khác của Nhật Bản là Oshin phổ biến ở châu Á.[33]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Doraemon được coi là một trong những bộ truyện xuất sắc nhất của manga thập niên 1970 và 1980[2]. Bộ truyện này đã được trao nhiều giải thưởng về manga như Giải thưởng Hiệp hội họa sĩ truyện tranh Nhật Bản lần thứ hai (năm 1973)[34], Giải Manga Shogakukan lần thứ nhất dành cho hạng mục truyện tranh thiếu nhi (năm 1982)[35], Giải thưởng văn hóa Tezuka Osamu lần thứ nhất (năm 1997)[36]. Năm 2005, Doraemon đã xuất hiện trong triển lãm Little Boy: The Arts of Japan's Exploding Subculture do Hiệp hội Nhật Bản tổ chức tại New York với tư cách là một biểu tượng cho nền văn hóa manga của nước Nhật[37].

DoraemonPokémon[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Nhật Bản, DoraemonPokémon đều là những biểu tượng văn hóa được đông đảo người Nhật yêu thích, hình ảnh chú mèo máy Doraemon và chú Pokémon đáng yêu Pikachu (nhân vật chính của Pokémon) cùng xuất hiện trên manga, anime và nhiều phương tiện truyền thông khác. Tuy nhiên ở châu ÂuHoa Kỳ, chỉ có hình ảnh của Pikachu là được đông đảo giới trẻ phương Tây biết tới còn Doraemon chủ yếu được trẻ em các nước châu Á hâm mộ[38]. Nguyên nhân đầu tiên giải thích cho sự khác biệt này là do trong Doraemon xuất hiện rất nhiều nét văn hóa Nhật Bản nói riêng và phương Đông nói chung như ngày Tết, quan hệ gắn bó nhiều thế hệ trong gia đình như quan hệ giữa Nobita với cha mẹ, ông bà, những điều này có thể dễ hiểu đối với trẻ em các nước châu Á nhưng lại khó tiếp thu đối với trẻ em phương Tây vốn sống trong nền văn hóa có nhiều sự khác biệt[39]. Nguyên nhân thứ hai là do trẻ em phương Tây, đặc biệt là trẻ em Hoa Kỳ thường yêu thích các truyện tranh có nhân vật chính là những anh hùng hay những người mạnh mẽ, quyết đoán như Người dơi hay Dị nhân, vì vậy dạng nhân vật như Satoshi (chủ nhân của Pikachu) sẽ dễ tiếp cận với các độc giả này hơn là dạng nhân vật hậu đậu, yếu đuối như cậu bé hậu đậu Nobita[40]. Sự khác biệt giữa Satoshi và Nobita cũng là khoảng cách gần 30 năm của văn hóa Nhật những năm 1970 và 1990 - tương đương một thế hệ người Nhật, giữa tác giả và độc giả của hai bộ truyện (Doraemon ra đời năm 1969, Pokémon ra đời năm 1995).[38]

Hiện tượng Doraemon[sửa | sửa mã nguồn]

Các đoàn tàu hỏa ở Nhật theo "chủ đề Doraemon"
Xe khách có hình Doraemon đến bảo tàng Fujiko F. Fujio ở Kawasaki

Mặc dù ra đời từ thời kì đầu của ngành công nghiệp manga (năm 1969) với mục đích chủ yếu là dành cho trẻ em nhưng bản thân bộ truyện và nhân vật Doraemon đã trở thành hình ảnh quen thuộc và thân thiết hàng đầu của người dân Nhật Bản[2], trẻ em và thanh niên Nhật hầu như có thể vẽ hình Doraemon mọi lúc, mọi nơi[41]. Không chỉ dừng lại ở các tập truyện tranh, phim ngắn và phim dài, Doraemon còn xuất hiện trên các sản phẩm tiêu dùng thông thường như ví, quần áo, thậm chí người ta còn cho ra đời một hiệu đồng hồ riêng về Doraemon lấy tên là Doratch[42]. Ở Hakodate, Hokkaidō người ta còn thành lập một đoàn tàu theo "chủ đề Doraemon" với trang trí bên trong và bên ngoài tàu là hình vẽ Doraemon và các bạn, một trong các bến dừng của "đoàn tàu Doraemon" là một ga nhỏ trưng bày các đồ vật liên quan tới Doraemon cùng các nghệ sĩ đóng giả các nhân vật của bộ truyện này[43]. Doraemon còn được đưa vào giảng dạy như một môn học phụ tại Đại học Toyama kể từ năm 1998[44].

Năm 1997, bưu điện Nhật Bản đã cho phát hành một bộ tem về Doraemon, bộ sưu tập đắt hàng tới mức người Nhật đã phải xếp hàng để được mua các con tem có hình nhân vật truyện tranh quen thuộc với họ từ thập niên 1970[45]. Ngày 10 tháng 2 năm 1995, ba tuần sau trận động đất Kobe 1995 khiến hơn 6.000 người thiệt mạng, 300.000 người mất nhà cửa, để khích lệ những đứa trẻ ở Kobe, một rạp phim ở đây đã mở cửa miễn phí cho các em vào xem, và bộ phim được họ chọn chiếu là một phim hoạt hình dài Doraemon[41]. Một ví dụ khác cho sự quan tâm của công chúng Nhật Bản với Doraemon là năm 2005, một họa sĩ manga nghiệp dư có bút danh Yasue T. Tajima đã bán được tới trên 13.000 bản "Đoạn kết của Đôrêmon" do anh tự sáng tác[17]. Năm 2006, Doraemon đã được tạp chí TIME bầu chọn là nhân vật hoạt hình duy nhất trong số 22 nhân vật nổi bật của châu Á (Asian Heroes) trong một bài báo có tựa đề The Cuddliest Hero in Asia (Anh hùng đáng yêu nhất ở châu Á)[2]. Tháng 3 năm 2008, chính phủ Nhật Bản đã chọn Doraemon là Đại sứ hoạt hình chính thức của Nhật Bản trong một buổi lễ do đích thân Ngoại trưởng Nhật Bản Komura Masahiko chủ trì[46]. Viện bảo tàng Fujiko F Fujio đã được mở cửa tại Kawasaki vào ngày 03 tháng 9 năm 2011, với Đôrêmon là chủ đề chính.[47]. Vào ngày 3 tháng 9 năm 2012, Đôrêmon được trao hộ khẩu chính thức tại thành phố Kawasaki, đúng 100 năm trước khi nhận vật này sẽ ra đời.[48]

Không chỉ phổ biến ở Nhật Bản, Doraemon còn được hâm mộ tại nhiều quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt là ở các nước châu Á như Trung Quốc, Indonesia, Thái LanViệt Nam. Tại Thượng Hải, Trung Quốc người ta đã thành lập một công viên chủ đề về Doraemon[49]. Ở Việt Nam, Doraemon là bộ sách được xuất bản nhiều nhất từ trước tới giờ khi chỉ sau 3 lần tái bản đã vượt mốc 40 triệu bản in.[50] Năm 1996, ông Nguyễn Thắng Vu, tổng biên tập Nhà xuất bản Kim Đồng, cùng tác giả Fujiko Fujio đã lập nên Quỹ học bổng Doraemon và tới năm 2010, Quỹ đã trao học bổng cho hơn 6.000 em học sinh với số vốn hơn 3 tỷ đồng.[6]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Doraemon”. animated-divots.com. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2009. 
  2. ^ a ă â b c d đ Pico Iyer (2002). “The Cuddliest Hero in Asia”. TIME Asia. Bản gốc lưu trữ 2012. Truy cập 2013. 
  3. ^ a ă â b c d “Happy Birthday Doraemon!”. web-japan.org. 2000. Truy cập 2013. 
  4. ^ a ă (tiếng Nhật) “藤子・F・不二雄(ふじこエフふじお)”. dora-world.com. Truy cập 2013. 
  5. ^ Wendy Siuyi Wong (2002). Hong Kong Comics: A History of Manhua. Princeton Architectural Press. tr. 161. ISBN 1568982690. 
  6. ^ a ă Hoàng Nguyên (20 tháng 5 năm 2010). "Mèo máy Doraemon tái xuất và... đổi tên". Thể Thao-Văn Hóa. Truy cập 10 tháng 4 năm 2013.
  7. ^ Gary Westfahl, George Edgar Slusser, David Leiby, tr. 104
  8. ^ a ă An Nhiên. “" Độ dài thời gian của vũ trụ " là yếu tố cơ bản để nhà văn Fujiko F Fujio sáng tác nên bộ truyện Đôrêmon?”. Nhà xuất bản Kim Đồng. 
  9. ^ a ă Masanao Amano, Julius Wiedemann (2004). Manga Design. Taschen. tr. 428. ISBN 3822825913. 
  10. ^ Gary Westfahl, George Edgar Slusser & David Leiby, tr. 106
  11. ^ (tiếng Nhật) “1000人が選んだ!漫画史上"最強"キャラクターランキング!” (bằng tiếng Nhật). Oricon. 2007. Truy cập 2013. 
  12. ^ (tiếng Nhật) “「ドラえもん」についてどこまで知っていますか?”. doraemon-end.jp. 2006. Truy cập 2013. 
  13. ^ “'Doraemon' fanatic boasts Ding Dong's 1,963 gadgets”. The Japan Times Online. 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2012. Truy cập 2013. 
  14. ^ Samsung Galaxy S4
  15. ^ a ă (tiếng Nhật) “藤子プロの突き上げが発端 ドラえもん最終話騒動の真相”. Livedoor. 2007. Truy cập 2013. 
  16. ^ “The Last Episode (Ending) of Doraemon”. Kejut. 2006. Truy cập 2013. 
  17. ^ a ă “Author of False Doraemon Ending Issues Apology”. Anime News Network. 
  18. ^ Elisabeth Baton-Hervé (2000). Les enfants téléspectateurs. L'Harmattan. tr. 191. ISBN 2738493556. 
  19. ^ (tiếng Nhật) “TV Asahi”. TV Asahi. 
  20. ^ “Events Calendar”. Tokyo Metropolitan Art Space. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. [[]][liên kết hỏng]
  21. ^ “First Doraemon Stage Play Announced in Japan”. Anime News Network. 2008. Truy cập 2013. 
  22. ^ “Doraemon for NES”. Gamespot. [[]][liên kết hỏng]
  23. ^ “Doraemon: Nobita to Midori no Kyojinden”. Jeuxvideo. [[]][liên kết hỏng]
  24. ^ “Doraemon Wii: Himitsu Douguou Ketteisen!”. Gamespot. 2007. Truy cập 2013. 
  25. ^ "Doraemon thêm". Nhà xuất bản Kim Đồng. Truy cập 8 tháng 4 năm 2013.
  26. ^ “Cuốn từ điển kỳ bí”. Nhà xuất bản Kim Đồng. Truy cập 2013. 
  27. ^ Anne Allison (2002). “4. Playing with power: Morphing toys and transforming heroes in kids' mass culture”. Trong Jeannette Marie Mageo. Power and the Self (bằng tiếng Anh). Cambridge University Press. tr. 83. ISBN 0521004608. 
  28. ^ Jim Anderson, Maureen Kendrick, Theresa Rogers, Suzanne Smythe (2005). Portraits of literacy across families, communities, and school. Routledge. tr. 164. ISBN 0805848606. 
  29. ^ Junji Ito. “"Robot-ism 1950-2000"-From ASTROBOY to AIBO-”. Agency for Cultural Affairs Media Arts Festival Special Exhibition (Jam3). [[]][liên kết hỏng]
  30. ^ Moniques Richard (2005). Culture populaire et enseignement des arts. PUQ. tr. 185. ISBN 2760513270. 
  31. ^ Joseph Tobin, tr. 45
  32. ^ Timothy J. Craig, tr. 289
  33. ^ Leo Ching (2001). “Globalizing the Regional, Regionalizing the Global: Mass Culture and Asianism in the Age of Late Capital”. Trong Arjun Appadurai. Globalization (bằng tiếng Anh). Duke University Press. tr. 297. ISBN 0822327236. 
  34. ^ “Awards List”. Hiệp hội họa sĩ truyện tranh Nhật Bản. [[]][liên kết hỏng]
  35. ^ “Shogakukan Manga Award”. HahnLibrary. Truy cập 2013. 
  36. ^ “Tezuka Osamu Cultural Prize”. Asahi. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 6 năm 2003. [[]][liên kết hỏng]
  37. ^ Roberta Smith (8 tháng 4 năm 2005). “From a Mushroom Cloud, a Burst of Art Reflecting Japan's Psyche”. The New York Times. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008. 
  38. ^ a ă Anne Allison, Gary Cross (2006). Millennial Monsters: Japanese Toys and the Global Imagination. University of California Press. tr. 196. ISBN 0520245652. 
  39. ^ Fred Patten, Carl Macek (2004). Watching Anime, Reading Manga: 25 Years of Essays and Reviews. Stone Bridge Press, LLC. tr. 137. ISBN 1880656922. 
  40. ^ Joseph Tobin, tr. 44
  41. ^ a ă Peter J. Katzenstein, Takashi Shiraishi, tr. 235
  42. ^ “Doratch”. Truy cập 2013. 
  43. ^ Medeline Chan (2004). “Doraemon Train, Japan, Summer 2004”. Worldisround. Truy cập 2013. 
  44. ^ Michael Hoffman. “Doraemonology is no Mickey Mouse course”. The Japan Times Online. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 1 năm 2009. [[]][liên kết hỏng]
  45. ^ “Japanese can't get enough of Doraemon”. CNN Interactive. 2 tháng 5 năm 1997. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2008. 
  46. ^ “Japan appoints cartoon ambassador”. NBC. 2008. Truy cập 2013. 
  47. ^ “Anime star Doraemon to have own museum”. The Independent. 29 tháng 8 năm 2011. Truy cập 10 tháng 4 năm 2013. 
  48. ^ “Doraemon becomes official resident of Kawasaki a century before his birth”. Japan Times. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2012. 
  49. ^ “Doraemon lures kids”. Shanghai Daily. 2007. Truy cập 2013. 
  50. ^ Phùng Hà (17 tháng 12 năm 2012). "'Doraemon' - cơn sốt 20 năm chưa hạ nhiệt". Nhà xuất bản Kim Đồng. Truy cập 10 tháng 4 năm 2013.

Tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu sách
  • Saya S. Shiraishi (1997). “7. Japan's Soft Power: Doraemon Goes Oversea”. Trong Peter J. Katzenstein, Takashi Shiraishi. Network Power - Japan and Asia (bằng tiếng Anh). Cornell University Press. tr. 234. ISBN 0801483735. 
  • Saya S. Shiraishi (2000). “16. Doraemon Goes Abroad”. Trong Timothy J. Craig. Japan Pop! Inside the World of Japanese Popular Culture (bằng tiếng Anh). M.E. Sharpe. tr. 287. ISBN 0765605619. 
  • Jeffeson M. Peters (2002). “9. The Desire to Control Time in Doraemon and Japanese Culture”. Trong Gary Westfahl, George Edgar Slusser, David Leiby. Worlds Enough and Time: Explorations of Time in Science Fiction and Fantasy (bằng tiếng Anh). Greenwood Publishing Group. tr. 103. ISBN 0313317062. 
  • Anne Allison (2004). “3. Cuteness as Japan's Millennial Product”. Trong Joseph Tobin. Pikachu's Global Adventure: The Rise and Fall of Pokémon (bằng tiếng Anh). Duke University Press. tr. 34. ISBN 0822332876. 
Tài liệu trên mạng