Trận Spicheren

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận chiến Spicheren
Một phần của cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ
Dt-FrzKrieg1870SturmAufSpichererHoehenBeiSaarbruecken.jpg
Hình vẽ trận đánh Spicheren.
.
Thời gian 6 tháng 8 năm 1870 [1]
Địa điểm Gần Saarbrücken, Đức
Kết quả Quân đội Phổ giành chiến thắng quan trọng[2][3], Quân đội Pháp triệt thoái về Metz.[1]
Tham chiến
Cờ của Vương quốc Phổ Vương quốc Phổ Cờ của Pháp Đế chế Pháp
Chỉ huy
Cờ của Vương quốc Phổ Karl Friedrich von Steinmetz[1]
Cờ của Vương quốc Phổ Constantin von Alvensleben
Cờ của Pháp Charles Auguste Frossard[1]
Lực lượng
27.000[4] – 37.000 quân[5], 72 hỏa pháo [6] 24.000[4] – 29.000 quân [5]
Tổn thất
Nguồn 1: 4.871 quân tử trận và bị thương [5]
Nguồn 2: Hơn 5.000 quân thương vong [7]
4.000 quân tử trận và bị thương [5]
.

Trận Spicheren, còn gọi là Trận Forbach,[8] là một trong những cuộc giao chiến đầu tiên của cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ, diễn ra vào ngày 6 tháng 8 năm 1870.[9] Trong trận đánh này, quân đội Phổ (với các thành phần thuộc hai Tập đoàn quân số 1 và số 2 của Đức[10]) do tướng Friedrich von Steinmetz chỉ huy[11] đã đánh tan tác quân đội Đế chế Pháp do tướng Charles Auguste Frossard chỉ huy,[12] cùng ngày với chiến thắng của tập đoàn quân của Thái tử PhổFriedrich Wilhelm trước Thống chế Patrice de Mac-Mahon của Pháp trong trận Wörth đẫm máu.[2][13] Đây là một trong những thất bại liên tiếp của quân đội Pháp và được xem là một trận đánh điển hình trong giai đoạn đầu cuộc chiến tranh.[14][15] Chiến thắng của quân đội Phổ trong trận đánh quyết liệt tại Spicheren cũng khẳng định niềm tin của họ vào khả năng đánh bại các đối thủ có quân số đông hơn mình.[16] Cả hai trận thắng tại Wörth và Spicheren đã khiến cho người Đức nắm trong tay mình 2 vạn tù binh Pháp.[6]

Sau thảm họa của sư đoàn Pháp do tướng Abel Douay chỉ huy trong Wissembourg, bộ chỉ huy quân Pháp ra lệnh cho tướng Frossard[6] - chỉ huy quân đoàn số 2[16] - rút quân về bên trái nhìn ra Saarbrücken để tránh khỏi hiểm họa. Vào ngày 6 tháng 8 năm 1870, quân của Frossard đã tiến hành triệt thoái và họ chủ yếu chiếm giữ các cao điểm kéo dài từ Spicheren đến Forbach - nơi thuận lợi để tổ chức phòng ngự.[2][6] Về phía Phổ, tướng Steinmetz đã kéo quân thẳng về hướng Spicheren, trái ngược với kế hoạch của Tổng tham mưu trưởng Quân đội Phổ là Helmuth Karl Bernhard von Moltke, khiến Tập đoàn quân số 2 của Hoàng thân Friedrich Karl bị tách rời khỏi các đạo kỵ binh của ông.[17] Quân tuần tiễu của Tập đoàn quân số 2 phát hiện ra quân đội của Frossard đang đóng ở đằng xa.[18], và dù yếu thế về quân số nhưng tư lệnh sư đoàn dẫn đầu của Tập đoàn quân số 1[11] của Steinmetz là Georg von Kameke đã sẵn sàng tiến công.[16] Ông sai một sư đoàn tấn công quân Pháp, và bị đánh bật trước sức chống giữ quyết liệt của quân Pháp trên cao điểm Rothe Berg. Tuy nhiên, khả năng hành quân thần tốc và hợp tác chặt chẽ của các đội hình Đức khác đã chuyển thất bại thành một thắng lợi quan trọng cho họ: tướng Göben đã mang quân đoàn số 8 của ông đến trợ chiến, đồng thời tướng Constantin von Alvensleben cùng mang quân đoàn số 3 của mình đến Neunkirchen sau khi nghe tiếng súng nổ. Một phần quân đoàn của ông được đưa đến bằng xe lửa và họ đã đến đúng lúc đã tham gia tấn công các cao điểm. Cuộc tấn công của Trung đoàn dưới quyền tướng von François giành được một thắng lợi trước sức kháng cự của quân Pháp. Ở những nơi khác, quân Pháp có quân số nhỏ hơn nhưng dựa vào hệ thống phòng thủ thuận lợi để đánh bật quân Phổ.[2]

Cuối cùng quân đội Đức đã làm chủ cao điểm Rothe Berg, nhưng quân Pháp nã đạn dồn dập vào đối phương. Tuy nhiên, người Đức với nỗ lực lớn của mình đã đưa được các khẩu pháo lên cao điểm và đáp trả làn đạn của quân Pháp với hiệu quả cao, đánh lùi quân Pháp. Cuộc pháo kích này cùng với một hoạt động bọc sườn giúp cho quân đội Đức đánh bại cánh trái của quân đội Pháp tại Forbach, đã quyết định cho cuộc chiến.[2] Mặc dù cả hai đoàn quân đều chiến đấu ác liệt,[19] quân đoàn của Frossard đã thua tan nát trong cuộc hỗn chiến[4] và nhận thấy không thể mình thu được thắng lợi,[16] ông phải rút chạy cùng đội quân rệu rã của mình khi màn đêm buông xuống.[2][7][20] Ngoài ra, Thống chế François-Achille Bazaine chỉ huy một quân đoàn Pháp khác cũng có trách nhiệm cho chiến bại này do ông đã không kịp thời cứu viện cho quân đoàn của Frossard trước sự tấn công của quân Đức[10][20]. Mặc dù súng trường Chassepot của quân đội Pháp đã gây thiệt hại không nhỏ cho họ trong trận Spicheren,[7][21] chiến thắng của quân đội Đức tại đây đã chứng tỏ sức mạnh vô song của các khẩu đại bác hiệu Krupp của họ. Dù đi ngược với kế hoạch của Moltke, trận thắng vang dội của quân Đức tại Spicheren cũng được xem là một điển hình cho nghệ thuật quân sự Phổ, qua những yếu tố như chọn địa thế và hợp vây đối phương.[16][20][22] Hai thất bại tại Wörth và Spicheren đã khiến cho bộ chỉ huy quân đội Pháp phải đánh giá lại tình hình chiến tranh.[7]

Một đại tá Pháp tham chiến ở Spicheren đã mô tả: "Quân ta xả súng trường suốt cả ngày hôm đó nhưng không mấy hiệu quả trước một kẻ địch liên tục được tăng cường lực lượng và bọc sườn ta". [23]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Tony Jaques, Dictionary of Battles and Sieges: P-Z, trang 964
  2. ^ a ă â b c d "The Development of the European Nations, 1870-1914 (5th ed.)"
  3. ^ G.F.R Henderson, BATTLE OF SPICHEREN, THE: August 6th 1870, trang 88
  4. ^ a ă â David Eggenberger, An Encyclopedia of Battles: Accounts of Over 1,560 Battles from 1479 B.C. to the Present, trang 415
  5. ^ a ă â b Henderson, p. 715-9 provides a table of returns for numerous "great battles," excluding prisoners.
  6. ^ a ă â b "The Franco-Prussian war: its causes, incidents, and consequences"
  7. ^ a ă â b Philipp Elliot-Wright, Gravelotte-St-Privat 1870: End of the Second Empire, các trang 40-42.
  8. ^ Willi Fortescue, Third Republic in France: Conflicts and Continuities, trang 2
  9. ^ G.F.R Henderson, BATTLE OF SPICHEREN, THE: August 6th 1870, trang 1
  10. ^ a ă Howard (1991), trang 92-93
  11. ^ a ă Milan N. Vego, Joint Operational Warfare Theory and Practice and V. 2, Historical Companion, trang IG-14
  12. ^ "A short history of war and peace"
  13. ^ John Mosier, The Myth of the Great War: A New Military History, trang 14
  14. ^ Jean-Denis G. G. Lepage, The French Foreign Legion: An Illustrated History, trang 57
  15. ^ Denis William Brogan, From the fall of the empire to the Dreyfus affair, trang 24
  16. ^ a ă â b c Daily News (London), Daily News, London, The war correspondence of the Daily news, 1870, các trang 29-31.
  17. ^ Wawro (2003), trang 108.
  18. ^ Howard (1991), trang 89-90
  19. ^ John Ashley Soames Grenville, Europe reshaped, 1848-1878, các trang 311-316.
  20. ^ a ă â Geoffrey Wawro, The Franco-Prussian War: the German conquest of France in 1870-1871, các trang 117-118.
  21. ^ Howard (1991), trang 98-99
  22. ^ Christopher M. Clark, Iron Kingdom: The Rise And Downfall of Prussia, 1600-1947, trang 551
  23. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên wawro137

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]