Trận Gravelotte

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận chiến Gravelotte – St. Privat
Một phần của cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ
Gravelotte.JPG
Cuộc thảm sát của lực lượng Thiết Kỵ binh Phổ tại Gravelotte, qua nét vẽ của họa sĩ người Ba LanJuliusz Kossak (1871).
.
Thời gian 18 tháng 8 năm 1870
Địa điểm Gravelotte, Pháp
Kết quả Bế tắc về mặt chiến thuật,[1] nhưng là thắng lợi chiến lược quyết định của quân đội Đức.[2][3][4][5] Quân Pháp của Bazaine thoái lui về pháo đài Metz và mất hẳn quyền chủ động, làm phân rẽ hai đạo quân Pháp.[1][6][7]
Tham chiến
Cờ của Vương quốc Phổ Vương quốc Phổ
Cờ của Sachsen Vương quốc Sachsen[8]
Cờ của Pháp Đế chế Pháp
Chỉ huy
Cờ của Vương quốc Phổ Wilhelm I (danh nghĩa)[9]
Cờ của Vương quốc Phổ Helmuth von Moltke
Cờ của Vương quốc Phổ Hoàng thân Friedrich Karl[6]
Cờ của Vương quốc Phổ Karl Friedrich von Steinmetz[6]
Cờ của Pháp François Achille Bazaine[6]
Cờ của Pháp François Certain Canrobrt[6]
Lực lượng
188.000–190.000 quân [6][10] (theo nguồn 2 là 280.000 quân[11])
732–822 hỏa pháo [6][12]
112.000–14.000 quân [12][13][14] (theo nguồn 2 là 160.000 quân[11])
520–550 hỏa pháo [12][13]
Tổn thất
Nguồn 1: 20.163 quân tử trận, bị thương và mất tích [6][15]
Nguồn 2: 904 Sĩ quan và 19.658 quân thương vong [11]
Nguồn 3: 899 Sĩ quan và 19.260 quân thương vong [16]
Nguồn 1: 12.273 quân thương vong [6][13]
Nguồn 2: 609 Sĩ quan và 11.605 quân thương vong [11]
Nguồn 4: 7855 quân tử trận và bị thương, 4420 quân bị bắt (phân nửa số tù binh đã bị thương) [15]
Nguồn 5: 13.000 quân thương vong, cộng thêm 5.000 quân bị bắt tại St. Privat [17]
.

Trận Gravelotte, còn gọi là Trận St. Privat[18] hoặc là Trận Gravelotte – St. Privat[6], là một trận đánh quan trọng trong cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ, diễn ra vào ngày 18 tháng 8 năm 1870.[4][6] Trận chiến này mở bằng cuộc tiến công của Quân đội Phổ dưới sự chỉ huy của Tổng tham mưu trưởng Helmuth von Moltke (dù vua nước Phổ là Wilhelm I nắm vai trò thống lĩnh trên danh nghĩa[9]) vào Quân đội Đế chế Pháp dưới quyền Thống chế François Achille Bazaine[13], và kết thúc với chiến thắng của Quân đội Phổ cùng với Quân đội Sachsen, kế tiếp chiến thắng của họ trong trận Mars-la-Tour[4][19][20][20] đồng thời cũng góp phần dẫn đến sự cay đắng của Pháp trong cuộc chiến.[2] Cả hai đoàn quân đều chịu thiệt hại nặng nề trong trận chiến này – được xem là một trong những trận đánh đẫm máu nhất trong thế kỷ 19.[15][21] Với quân số tham chiến của cả hai bên, trận đánh Gravelotte có tầm vóc to lớn hơn hẳn các trận giao tranh trước đó.[6] Thắng lợi đắt giá nhưng ấn tượng tại Gravelotte của quân Đức có thể được xem là nhờ vào lòng dũng cảm của những người lính Đức đã đánh bại địch thủ dù nằm dưới sự lãnh đạo tồi tệ.[21] Ngoài ra, trong trận chiến này, quân Đức đã được cứu thoái khỏi khó khăn nhờ lợi thế về quân số và những khẩu đại bác hiệu Krupp của họ, đã tạo nên những lỗ hổng trong trận tuyến của quân Pháp và quyết định cho chiến thắng của người Đức, gây nên phần lớn tổn thất của quân Pháp trong ngày hôm ấy.[20][22][23] Vì những chiến thuật và vũ khí tối tân, trận Gravelotte được xem là trận đánh đầu tiên của cuộc chiến tranh hiện đại đầu tiên của châu Âu.[20] Cùng với trận Sedan, trận đánh này đã định đoạt cho số mệnh của nước Pháp trong cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ và góp phần làm nên chiến thắng cùng với ý niệm về dân tộc của người Đức.[8][24][25]

Quân Pháp nắm giữ lợi thế về vị trí trong trận đánh kịch liệt này và sử dụng súng trường Chassepot.[4][23] Tại làng Gravelotte ở cánh phải của quân Pháp, hai Quân đoàn Đức thuộc về Binh đoàn số 1 dưới quyền Tướng Karl Friedrich von Steinmetz[20] đã chiến đấu để mở đường về hướng Đông Gravelotte, nhưng chỉ bị mắc kẹt vào hẽm núi. Cố gắng thoát khỏi chiến địa của quân Đức chỉ gây nên cuộc triệt thoái hỗn loạn.[6][17] Thế nhưng, Bazaine bị mệt mỏi[26] và nhụt chí trong khi những Sĩ quan Trung đoàn uể oải của ông không thể nào phát động phản công, và lực lượng Pháo binh Đức đã tập kết[20][23][27]. Trong khi ấy, tại làng St. Privat – trọng điểm của trận giao chiến, Tư lệnh Binh đoàn số 2 của quân Phổ là Hoàng thân Friedrich Karl phái Quân đoàn Vệ binh tinh nhuệ của Phổ tiến đánh Quân đoàn VI của Pháp do Thống chế François Certain Canrobert chỉ huy. 23.000 quân của Canrobert đã cầm cự với 10 vạn quân Đức,[6] gây thiệt hại nặng nề cho quân đội Đức.[20] Tuy nhiên, hỏa lực vượt trội của Pháo binh Đức đã ngăn chặn sự phản kích của quân Pháp,[6][28] và cuộc pháo kích dữ dội của người Đức thậm chí đã ghìm chặt những Trung đoàn bạo dạn nhất của Pháp trong cứ điểm. Sau cùng, Quân đoàn Sachsen kéo đến từ hướng Bắc và đe dọa phân tách lực lượng của Canrobert, tiếp theo đó những người lính Vệ binh Đức đã xông lên kịch chiến với quân Pháp và bọc sườn đối phương. Thế rồi, quân Đức đã quét sạch đối phương ra khỏi làng St. Privat. Dấu hiệu rút lui của đội Cận vệ Đế chế khiến cho toàn thể quân đội Pháp bị tan rã. Thua lớn, quân Pháp buộc phải rời bỏ xã và thoái lui thêm nữa về Metz để ẩn náu.[6][9][11][16][20][27][29][30][31] Cuối cùng, tuy rằng cả hai phe đều tuyên bố thắng lợi chiến thuật, quân Pháp – vốn dĩ đã không có kế hoạch và không thể phát động phản công, đã hứng chịu thất bại thảm hại về mặt chiến lược.[10][13][32] Đây được xem là một thắng lợi quyết định và lớn lao của quân Đức.[5][12][26][33][34] Khi màn đêm buông xuống, hàng nghìn binh lính Đức cùng nhau vang ca khúc hát khải hoàn của Vương quốc Phổ, vài tiếng đồng hồ trước khi Quốc vương Wilhelm I – vốn không đẹp lòng với trận Gravelotte – nhìn nhận trận chiến này là một chiến thắng của người Phổ.[35]

Tuy nhiên, do tổn thất quá nặng nề của quân Đức trong trận đánh ấy, sáng hôm sau người Đức cũng chỉ có chút ít cảm giác của người chiến thắng mặc dù họ đã thực sự thắng trận quyết định.[14][36][37] Wilhelm I đã hốt hoảng do những mất mát to lớn của đội Vệ binh của ông giữa chiến trường.[14] Moltke nhanh chóng nhìn nhận những kết quả của trận đánh Gravelotte/Saint-Privat khốc liệt. Trong khi quân Pháp đã kéo tới Metz, ông truyền lệnh cho đội Vệ binh, quân Sachsen và một Quân đoàn khác truy quét quân Pháp vẫn còn trên chiến trường.[20] Do đã gần như đưa đoàn quân vào thảm họa, Steinmetz bị thải hồi làm Thống đốc tỉnh Posen.[38] Với cuộc thoái lui của toàn bộ[39] đạo quân của Bazaine về Metz, đội quân này hoàn toàn rơi vào tình trạng bị động và quân Đức đã chia cắt được hai đạo quân của địch thủ. Điều này trở thành một thảm họa cho quân Pháp[6][40][41] và Moltke đã đạt được mục tiêu của ông.[1] Do thảm bại tại Gravelotte, đạo quân của Bazaine đã bị tách ly khỏi thủ đô Paris.[16][42] Sau trận đánh tại Gravelotte, quân Phổ dưới quyền Hoàng thân Friedrich Karl đã tiến hành cuộc vây hãm Metz, trước khi mọi hy vọng giải vây cho Bazaine bị tiêu tan do quân đội của Hoàng đế Napoléon III tóm gọn trong trận đánh Sedan vào tháng 9 năm 1870 và cuối cùng thì Metz phải đầu hàng vào tháng 10 năm đó.[43][44] Vốn được cho là trận chiến lớn và đẫm máu nhất trong cuộc Chiến tranh Pháp-Đức,[11][45][46] trận Gravelotte được xem là một điềm báo cho cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất sau này.[20] Ngoài ra, chiến thắng của quân Phổ tại trận đánh này là một bước ngoặt trong cuộc chiến tranh,[47] đã đặt tiền đề cho sự sụp đổ của nền Đế chế thứ hai của Pháp cùng với triều đại của Napoléon, cũng như quá trình tái tổ chức lục địa châu Âu.[8][20] Và, trận Gravelotte cũng là một trong những thắng lợi lớn của người Đức chứng tỏ hiệu quả của vận động hợp vây cũng như những ý niệm của Tướng Moltke.[48][49]

Bối cảnh lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1866, Thủ tướng nước PhổOtto von Bismarck đã khơi mào cuộc Chiến tranh Áo-Phổ và đưa nước Phổ trở thành minh chủ của Liên bang Bắc Đức. Tuy nhiên, Bismarck hiểu rằng ông sẽ không thể hoàn thành kế hoạch thống nhất nước Đức của mình nếu như không đánh bại Pháp. Trong khi đó, Hoàng đế PhápNapoléon III đã từng bị cuộc Chiến tranh Áo-Phổ năm 1866 lăng nhục. Mặc dù Bismarck đã hứa hẹn sẽ nhượng bộ cho Pháp đổi lại Pháp phải giữ vai trò trung lập trong cuộc chiến tranh này, cuộc chiến chỉ kéo dài có 7 tuần làm tiêu tan hy vọng áp đặt hiệp ước hòa bình của Napoléon III. Khi Napoléon đòi hỏi nhượng bộ, Bismarck yêu cầu đưa vấn đề vào văn kiện. Nhưng sau khi Napoléon hồi đáp thì Bismarck đã bội ước và ông còn dùng các văn kiện này để thiết lập liên minh phòng thủ với các quốc gia Nam Đức là Baden, WürttembergBayern. Các lãnh đạo Pháp rắp tâm phục hận, nhưng chính phủ chưa thực sự muốn chuẩn bị chiến tranh.[6]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Michael A. Palmer, The German Wars: A Concise History, 1859-1945, các trang 26-27.
  2. ^ a ă Barrie Pitt, Peter Young, Imperial War Museum (Great Britain), History of the First World War, Tập 8, trang 3250
  3. ^ Viscount Bernard Law Montgomery Montgomery of Alamein, A history of warfare, trang 436
  4. ^ a ă â b Ian V. Hogg, Battles: a concise dictionary, trang 68
  5. ^ a ă O Books, Rae Armantrout, Robert Creeley, Judith Goldman, Leslie Scalapino, War or Peace, trang 139
  6. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô Spencer C. Tucker, Battles That Changed History: An Encyclopedia of World Conflict, các trang 356-359.
  7. ^ David E. Spencer, From Vietnam to El Salvador: The Saga of the Fmln Sappers and Other Guerrilla Special Forces in Latin America, trang 163
  8. ^ a ă â David J. A. Stone, First Reich: inside the German army during the war with France 1870-71, các trang 122-128.
  9. ^ a ă â David Eggenberger, An Encyclopedia of Battles: Accounts of Over 1,560 Battles from 1479 B.C. to the Present, trang T-79
  10. ^ a ă George C. Kohn, Dictionary of Wars
  11. ^ a ă â b c d Henry Mann, Turning Points in the World's History, trang 237
  12. ^ a ă â b Anthony Guggenberger, A General History of the Christian Era: The social revolution. 9th ed. 1918, trang 337
  13. ^ a ă â b c Spencer Tucker, A global chronology of conflict: from the ancient world to the modern Middle East, Tập 2, các trang 1448-1449.
  14. ^ a ă â Michael Howard, Michael Eliot Howard, The Franco-Prussian War: The German Invasion of France, 1870-1871, các trang 161-180.
  15. ^ a ă â Nigel Cawthorne, The Immortals: History's Fighting Elites, trang 74
  16. ^ a ă â Mark Grossman. World Military Leaders: A Biographical Dictionary, các trang 30-31.
  17. ^ a ă Alan Axelrod, Little-Known Wars of Great and Lasting Impact: The Turning Points in Our History We Should Know More About, trang 200
  18. ^ Ritter Von Leeb, Waldemar Erfurth, Roots of Strategy, các trang 314-315.
  19. ^ Joseph A. Biesinger, Germany, trang 79
  20. ^ a ă â b c d đ e ê g h The Day of Doom: The Battle of Gravelotte/Saint-Privat (bài viết của Dennis Showalter)
  21. ^ a ă Ritter Von Leeb, Waldemar Erfurth, Roots of Strategy:, trang 476
  22. ^ Geoffrey Wawro, The Franco-Prussian War: The German Conquest Of France In 1870-1871, trang 308
  23. ^ a ă â Geoffrey Wawro, Warfare and Society in Europe, 1792-1914, các trang 113-114.
  24. ^ John Albert Lynn, Battle: A History Of Combat And Culture, trang 210
  25. ^ Michael Howard, The Causes of Wars and Other Essays, trang 26
  26. ^ a ă Edward Crankshaw, Bismarck, trang 276
  27. ^ a ă Albert Seaton, Michael Youens, The Army of the German Empire, 1870-1888, trang 17
  28. ^ Gilbert Alan Shepperd, A history of war and weapons, 1660 to 1918: arms and armour from the age of Louis XIV to World War I, trang 155
  29. ^ Stephen Badsey, The Franco-Prussian War 1870-1871, các trang 45-47.
  30. ^ Glen C. Forrest, The Illustrated Timeline of Military History, trang 167
  31. ^ J. D. Morelock, Walter J. Boyne, The Army Times Book of Great Land Battles: From the Civil War to the Gulf War, trang 50
  32. ^ Roger Price, The French Second Empire: An Anatomy of Political Power, trang 445
  33. ^ Andrew Hilliard Atteridge, Famous modern battles, trang 184
  34. ^ Andrew Hilliard Atteridge, Famous modern battles, các trang 184, 351.
  35. ^ Geoffrey Wawro, The Franco-Prussian War: The German Conquest Of France In 1870-1871, trang 184
  36. ^ Andrew Roberts (ed), Great Commanders of the Modern World: 1866-1975
  37. ^ James Matthew Thompson, Louis Napoleon and the Second Empire, Tập 2, trang 321
  38. ^ Philipp Elliot-Wright, Gravelotte-St-Privat 1870: End of the Second Empire, trang 13
  39. ^ Charles Townshend, The Oxford History of Modern War, trang 79
  40. ^ Theodore Ropp, War in the Modern World, trang 172
  41. ^ Michael Solka, Darko Pavlović, German Armies 1870-71 (1): Prussia, trang 5
  42. ^ John Frederick Charles Fuller, A Military History of the Western World: From the Seven Days Battle, 1862, to the Battle of LeyteGulf, 1944, trang 115
  43. ^ David Eggenberger, An Encyclopedia of Battles: Accounts of Over 1,560 Battles from 1479 B.C. to the Present, trang 275
  44. ^ David Eggenberger, An Encyclopedia of Battles: Accounts of Over 1,560 Battles from 1479 B.C. to the Present, trang S-92
  45. ^ Henry M. Hozier, The Russo-Turkish War: Including an Account of the Rise and Decline of the Ottoman Power, and the History of the Eastern Question, trang 286
  46. ^ John Hubert Greusel, Blood and iron: origin of German empire as revealed by character of its founder, Bismarck, trang 209
  47. ^ Richard Dewey, Recollections of Richard Dewey: Pioneer in American Psychiatry, trang 86
  48. ^ Milan N. Vego, Joint Operational Warfare Theory and Practice and V. 2, Historical Companion, trang 58
  49. ^ David G. Chandler, The art of warfare on land, trang 186

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]