Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đại học Kiến trúc Hà Nội
Tên tiếng AnhHanoi Architectural University
Khẩu hiệuChất lượng cao - Sáng tạo - Tiên phong - Tích hợp - Trách nhiệm - Phát triển bền vững
Thông tin chung
Loại hìnhĐại học kỹ thuật hệ công lập
Thành lập17 tháng 9 năm 1969
Ngân sách132,758 tỷ đồng (2018)
Tổ chức và quản lý
Hiệu trưởngPGS. TS. KTS. Lê Quân
Giảng viên520 người
Sinh viên đại học9920 người (2017)
Sinh viên sau đại học1407 người (2017)
Nghiên cứu sinh160 người
Thông tin khác
Địa chỉKm 10, Đường Nguyễn Trãi, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội
Linh vậtCon kiến
Điện thoại+84 024 3854 1616
Websitehttp://hau.edu.vn/

Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội (Hanoi Architectural University) là một trường đại học đa ngành tại Việt Nam, được đánh giá là trường đại học đầu ngành về đào tạo và nghiên cứu nhóm ngành xây dựng và thiết kế tại Việt Nam.[1][2] Trường được thành lập từ năm 1969 và hiện trực thuộc Bộ Xây dựng.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước Cách mạng Tháng 8/1945, Chính quyền thuộc địa Pháp không chú trọng đào tạo kỹ sư ngành Xây dựng. Kiến trúc sư được đào tạo với số lượng rất ít chỉ từ 2 đến 10 sinh viên mỗi khóa trong Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Ngày 8/6/1961: Chính phủ đã có văn bản số 1927 cho phép Bộ Kiến trúc với sự phối hợp của Bộ Giáo dục mở Lớp đào tạo Kiến trúc sư tại Đại học Bách khoa, số lượng tuyển sinh mỗi khóa 100 người. Các lớp sinh viên Kiến trúc khoá 1961, 1962, 1963 được biên chế thành ngành Kiến trúc khoá VI, VII, VIII thuộc Khoa Xây dựng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.

Tháng 10/1963: sau khi đã chuẩn bị đủ cơ sở Trường lớp, và đội ngũ kỹ sư giảng dạy, có sự thoả thuận với Bộ Giáo dục, Lớp Đào tạo Kiến trúc sư được chuyển khỏi Bách khoa, hoạt động độc lập, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Kiến trúc.

Năm 1966: Chính phủ quyết định sáp nhập Lớp Đào tạo KIến trúc sư vào Trường Đại học Xây dựng, trở thành Khoa Kiến trúc Đô thị Trường Đại học Xây dựng.

Ngày 17/9/1969: Chính phủ thành lập Trường Đại học Kiến trúc, trên cơ sở Khoa Kiến trúc Đô thị tách ra từ Trường Đại học Xây dựng.

Khi mới thành lập, trường đào tạo bậc đại học 4 ngành: Kiến trúc sư, Kỹ sư Xây dựng dân dụng và Công nghiệp, Kỹ sư Xây dựng công trình kỹ thuật Thành phố, Kỹ sư Kinh tế Xây dựng. Trường có 2 khoa: Khoa Kiến trúc và Khoa Kỹ thuật Xây dựng. Quy mô tuyển sinh là 200 sinh viên mỗi khóa. 2 năm sau, Trường phát triển thành 4 Khoa: Khoa Kiến trúc, Khoa Đô thị, Khoa Xây dựng, Khoa Cơ bản. Quy mô tuyển sinh tăng dần đến 400 sinh viên mỗi khóa.

Những năm tiếp theo, Trường được mở thêm các ngành mới: Kỹ sư Xây dựng công trình ngầm, Kỹ sư Quản lý Đô thị, Mỹ thuật Công nghiệp. Từ năm 1990, trường được giao đào tạo sau Đại học các ngành đang được đào tạo tại Trường.

Cơ cấu tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Giám hiệu

  • Hiệu trưởng: PGS.TS. KTS. Lê Quân
  • Phó Hiệu trưởng:
  1. PGS. TS. KTS. Nguyễn Tuấn Anh;
  2. TS. KTS. Ngô Thị Kim Dung;
  3. PGS. TS. Lê Anh Dũng.

Hội đồng Trường

  • Chủ tịch Hội đồng Trường: PGS. TS. Phạm Trọng Thuật.

Khoa đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Các khoa và bộ môn trực thuộc trường:[3]

  • Khoa Kiến trúc
  • Khoa Xây dựng
  • Khoa Quy hoạch đô thị - nông thôn
  • Khoa Kỹ thuật Hạ tầng và Môi trường đô thị
  • Khoa Quản lý đô thị
  • Khoa Nội thất và Mỹ thuật Công nghiệp
  • Khoa Công nghệ thông tin
  • Khoa Sau Đại học
  • Khoa Lý luận chính trị

Viện và trung tâm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Viện kiến trúc nhiệt đới;
  • Viện Đào tạo Mở
  • Viện Ứng dụng khoa học và công nghệ kiến trúc xây dựng
  • Trung tâm Thông tin thư viện;
  • Trung tâm kỹ thuật hạ tầng kỹ thuật đô thị;
  • Trung tâm nâng cao năng lực về nghiên cứu đô thị;
  • Trung tâm thí nghiệm;
  • Các phòng thí nghiệm hợp chuẩn quốc gia
    • Phòng thí nghiệm xây dựng công trình
    • Phòng thí nghiệm nước
    • Phòng thí nghiệm lưu động về môi trường
  • Văn phòng tư vấn và chuyển giao công nghệ xây dựng
  • Công ty xây dựng và phát triển đô thị.

Định hướng phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Theo báo cáo của trường gửi cho Bộ Xây dựng số 510/BC-ĐHKT-TH, theo đó về đào tạo:

  • Rà soát đổi mới chương trình đào tạo các ngành theo hướng tăng cường khả năng liên kết giữa các khối kiến thức để sinh viên có khả năng vận dụng linh hoạt vào thực tiễn, đồng thời không tăng quy mô tuyển sinh trong tương lai gần nhằm tập trung nâng cao chất lượng đào tạo.
  • Nâng cao chất lượng đào tạo của trường, đặt chân trong các bảng xếp hạng đại học chuyên ngành đứng đầu của Châu Á.
  • Mời các doanh nhân thành đạt tham gia giảng dạy hoặc thuyết giảng tại trường.
  • Mở lớp Kỹ sư tài năng, Kiến trúc sư tài năng và Nhà thiết kế tài năng tập hợp những sinh viên có năng lực cao của từng ngành.
  • Nâng yêu cầu chuẩn đầu ra tiếng Anh.
  • Giảm số lượng sinh viên/1 giảng viên.

Về cơ cấu tổ chức, hành chính và các vấn đề khác:

  • Tăng học phí.
  • Tăng tỉ lệ giảng viên có học vị từ tiến sĩ trở lên.
  • Tăng cường khả năng liên thông ngang và dọc giữa các ngành học và các cấp học.
  • Nghiên cứu mở ngành Bảo tồn di sản kiến trúc.

Tuyển sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian đào tạo trung bình là 5 năm,[4] với các ngành có bắt buộc đầu vào xét tuyển thêm môn năng khiếu, trường hiện chỉ nhận thí sinh dự thi tại trường; 4,5 năm với cách ngành thuộc khối kỹ thuật, công nghệ và quản lý.

Đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm ngành Kiến trúc:

  • Ngành Kiến trúc
  • Ngành Kiến trúc cảnh quan.

Nhóm ngành Quy hoạch:

  • Ngành Quy hoạch vùng và đô thị.

Nhóm ngành Mỹ thuật công nghiệp:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngành Thiết kế nội thất
  • Ngành Thiết kế đồ họa.
  • Ngành Thiết kế thời trang.
  • Ngành Điêu khắc.

Nhóm ngành Xây dựng:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngành Xây dựng (Kỹ thuật xây dựng dân dụng).
  • Ngành Kỹ thuật xây dựng công trình ngầm.
  • Ngành Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông.
  • Ngành Kỹ thuật hạ tầng đô thị.
  • Ngành Kỹ thuật môi trường đô thị.
  • Ngành Cấp thoát nước - môi trường nước.
  • Ngành Công nghệ kỹ thuật vật liệu xây dựng.

Nhóm ngành Quản lý:[sửa | sửa mã nguồn]

- Ngành Quản lý công trình và đô thị (Quản lý xây dựng).

- Ngành Kinh tế xây dựng.

  • Chương trình đại trà.
  • Chương trình song bằng.
  • Chương trình liên thông.
  • Chương trình chất lượng cao.
  • Chương trình tiên tiến và chương trình liên kết: Chương trình giảng dạy đa phần bằng tiếng Anh, có yêu cầu tiếng Anh đầu vào, người học sẽ có một khoảng thời gian được học tại trường đại học đối tác.

Thạc sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kiến trúc.
  • Quy hoạch vùng và đô thị.
  • Quản lý đô thị và công trình.
  • Kỹ thuật xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp.
  • Kỹ thuật cơ sở hạ tầng.

Tiến sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kiến trúc.
  • Quy hoạch vùng và đô thị.
  • Quản lý đô thị và công trình.
  • Kỹ thuật xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp.
  • Kỹ thuật cơ sở hạ tầng.

Chất lượng đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Đội ngũ giảng viên[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2018, trường có 520 cán bộ giảng dạy. Trong đó có 1 giáo sư 29 phó giáo sư, 99 tiến sĩ, 402 thạc sĩ và 47 giảng viên có trình độ đại học.[5]

Tuyển dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Tại yêu cầu tuyển dụng của nhiều công ty, hiện họ chỉ nhận hồ sơ ứng tuyển của cựu sinh viên Trường Kiến Trúc.[6]

Khuyến khích học tập và vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Học bổng[sửa | sửa mã nguồn]

Trường có hai loại học bổng đó là học bổng đến từ các nhà tài trợ, quỹ đầu tư cũng như các doanh nghiệp có liên kết với trường và học bổng đến từ nguồn thu hợp pháp của trường. Với học bổng đến từ các nhà tài trợ, quỹ đầu tư cũng như các doanh nghiệp, ở mỗi học kỳ, các tổ chức này sẽ đến trường tổ chức cuộc thi và trao tặng học bổng cho sinh viên đạt yêu cầu của họ. Với học bổng đến từ nguồn thu hợp pháp của trường, trường sẽ trao tặng học bổng cho các sinh viên đạt học lực loại giỏi và xuất sắc.[7]

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi học kỳ, trường sẽ trao tặng giấy khen có chữ ký của Hiệu trưởng cho sinh viên đạt thành tích trong nghiên cứu khoa học và 18 sinh viên là thủ khoa của các ngành và được xướng tên ở buổi tổng kết năm học. Thủ khoa toàn trường sẽ được phát biểu trong buổi lễ này.

Các đồ án đạt loại xuất sắc và các bài thi tự luận điểm cao sẽ được trưng bày tại sảnh trường, trong thời gian trưng bày trường sẽ mở cửa tự do để người dân và các doanh nghiệp có thể vào tham quan.[8]

Cựu sinh viên[sửa | sửa mã nguồn]

Những nhân vật từng học tập tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội:

Hợp tác quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội thiết lập quan hệ hợp tác với các trường đại học sau:

  • Đại học Adelaide (Australia)
  • Đại học Nottingham (Anh Quốc)
  • Đại học Kiến trúc Toulouse (Pháp)
  • Đại học Kitakyushu (Nhật Bản)
  • Viện Công nghệ Muroran (Nhật Bản)
  • Đại học Catholic University of America (Hoa Kỳ)

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

  • Huân chương Lao động: Hạng Ba (1986); Hạng Hai (2013); Hạng Nhất (1983);
  • Huân chương Độc lập: Hạng Ba (2001); Hạng Hai (1995); Hạng Nhất (1991);
  • Chủ tịch Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Nhà trường Huân chương Hồ Chí Minh (2006);
  • Nhà nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào tặng Huân chương Lao động Hạng Ba (2000);
  • Cờ thi đua Bộ Xây dựng (2014, 2016);
  • Cờ thi đua Chính phủ (2015).
  • Đạt tiêu chuẩn Kiểm định chất lượng Giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Top Universities in Vietnam - 2017 Vietnamese University Ranking”. uniRank. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2017. 
  2. ^ “Ranking Web of Universities - Vietnam”. Webometrics Ranking of World Universities. Tháng 7 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2017.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  3. ^ “Khoa”. 
  4. ^ “THÔNG BÁO VỀ VIỆC NHẬN HỒ SƠ ĐĂNG KÝ DỰ THI CÁC MÔN NĂNG KHIẾU TRONG KỲ TUYỂN SINH ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY NĂM 2018”. 
  5. ^ “Báo cáo công khai năm học 2016 - 2017”. 
  6. ^ “Công ty kiến trúc AFA tuyển dụng nhiều vị trí”. 
  7. ^ “Học bổng”. 
  8. ^ “TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI KHAI MẠC TRIỂN LÃM MỸ THUẬT 2017 CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11”Đồ án tốt nghiệp xuất sắc của ngành Kiến trúc, xây dựng năm 2018 được trưng bày tại sảnh trường UAH 
  9. ^ “Rhymastic Wiki”. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]