Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đại học Kiến trúc Hà Nội
Thành lập 17 tháng 9 năm 1969
Loại hình Đại học kỹ thuật hệ công lập
Hiệu trưởng PGS.TS.KTS.Lê Quân
Sinh viên Khoảng 8500 người
Địa chỉ Đường Nguyễn Trãi, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội
Điện thoại +842438541616
Website http://hau.edu.vn/

Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội (tiếng Anh: Hanoi Architectural University) là một trong ba trường đại học đứng đầu về đào tạo nhóm ngành thiết kế, kiến trúc, xây dựng và quy hoạch tại miền Bắc Việt Nam. Trường trực thuộc Bộ Xây dựng.

Trường đồng thời là trung tâm nghiên cứu - chuyển giao khoa học công nghệ, cố vấn cho Bộ Xây dựng cũng như Chính phủ và xã hội về các lĩnh vực thuộc kiến trúc, quy hoạch, xây dựng, kỹ thuật đô thị nhằm phục vụ cho mục đích phát triển nền kinh tế đất nước.

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội là trường đại học công lập được thành lập từ năm 1969 theo đề nghị của bộ Kiến Trúc thỏa thuận với Bộ Đại Học và Giáo dục chuyên Nghiệp (nay là Bộ Xây dựng và Bộ Giáo dục và Đào tạo), có trụ sở tại quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Với tiền thân của trường là lớp kiến trúc sư trường Đại học Bách Khoa thành lập năm 1961. Năm 1965 với đề nghị của Bộ Đại Học và Trung học chuyên nghiệp (Nay là Bộ Giáo dục và Đào Tạo) lớp được xác nhập vào Trường Đại học Xây dựng, trường chuyên sâu đào tạo các ngành kỹ thuật xây dựng, quản lý xây dựng, quy hoạch, kiến trúc, và các ngành khác rất có uy tín tại Việt Nam. Trường trực thuộc Bộ Xây dựng, chịu sự quản lý Nhà nước về chuyên môn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và sự quản lý hành chính theo lãnh thổ của Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội..

  • Trường hiện có 31 đơn vị trực thuộc, trong đó có 14 đơn vị thuộc khối đào tạo, 11 đơn vị thuộc khối quản lý và phục vụ đào tạo, 06 đơn vị thuộc khối lao động sản xuất và chuyển giao công nghệ;
  • Nhà trường có trên 1000 cán bộ viên chức và người lao động hợp đồng, trong đó có 520 cán bộ giảng dạy, 01 Giáo sư, 29 Phó Giáo sư, 99 Tiến sĩ, 402 Thạc sĩ;
  • Đảng bộ Nhà trường trực thuộc Đảng ủy Khối các Trường Đại học, Cao đẳng thành phố Hà Nội, gồm 495 Đảng viên, biên chế 30 Chi bộ;
  • Công đoàn Nhà trường trực thuộc Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội với hơn 1000 Đoàn viên sinh hoạt ở 30 tổ Công đoàn và Công đoàn bộ phận;
  • Đoàn Thanh niên nhà trường trực thuộc Thành đoàn Hà Nội;
  • Hội sinh viên trường có trên 8300 hội viên,164 chi hội, trực thuộc Hội sinh viên thành phố Hà Nội.

Chương trình đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

[[Thể loại:Trang cần được biên tập lại thuộc chủ đề chép từ bài Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh]]

Đại học chương trình đại trà:[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm ngành đào tạo kiến thức quy hoạch:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngành Quy hoạch vùng và đô thị: Thiết kế, sắp xếp cảnh quan trong đô thị để làm đẹp đô thị và giảm thời gian đi lại của người dân để thúc đẩy phát triển kinh tế trong một vùng hoặc đô thị. Chương trình học chú trọng vào sắp xếp trật tự đô thị hơn là làm đẹp môi trường, cảnh quan.
  • Ngành Kiến trúc cảnh quan: Thiết kế, sắp xếp môi trường, cảnh quan trong một không gian sống nhất định, gần giống với ngành "Quy hoạch vùng và đô thị" nhưng đào tạo chú trọng vào làm đẹp môi trường, cảnh quan hơn sắp xếp trật tự đô thị để phục vụ việc đi lại của người dân.

Nhóm ngành đào tạo kiến thức thiết kế, trang trí công nghiệp:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngành Tạo dáng (Thiết kế công nghiệp): Thiết kế hình dạng và trang trí đồ công nghiệp, từ những thứ đơn giản (như nhẫn, dây chuyền, ly cà phê, vỏ bánh kẹo) đến siêu phức tạp đòi hỏi phải liên kết cùng với bộ phận kỹ thuật (như điện thoại, tivi, ô tô).
  • Ngành Thiết kế đồ họa: đào tạo chuyên về thiết kế hình ảnh và mô hình tĩnh 2D và 3D không bao gồm cử động nhân vật. Ngành học này đáp ứng cho rất nhiều mảng. Người học có thể từng bước mở công ty thiết kết web, bao bì sản phẩm hoặc mở xưởng vẽ phim hoạt hình hoặc vẽ truyện tranh, cũng có thể thành lập công ty chuyên một mảng trong sản xuất phim, ví dụ chuyên về hiệu ứng phim.
  • Ngành Thiết kế thời trang: Chương trình học chú trọng vào thiết kế hình dáng trang phục, phụ kiện và trang trí trang phục trước và sau khi đã tạo được khung trang phục. Có đào tạo may ở mức trung cấp. Người học có ba hướng phát triển hoặc làm người thiết kế chuyên nghiệp hoặc mở xưởng chuyên gia công hoặc xưởng chuyên thiết kế thời trang ở các phân khúc từ tầm thấp, tầm trung đến cận cao cấp và cao cấp.
  • Ngành Điêu khắc.

Nhóm ngành đào tạo kiến thức xây dựng:[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình học nhóm ngành này được xây dựng từ môn toán và vật lý. Nhóm ngành học này được đánh giá là nặng khi tỉ lệ sinh viên bị cảnh cáo ở nhóm ngành này nhiều nhất trường.[1][2]

  • Ngành Xây dựng (Kỹ thuật xây dựng dân dụng): Đào tạo chú trọng vào tính toán kết cấu và nền móng trong công trình dân dụng cũng như công nghiệp.
  • Ngành Kỹ thuật xây dựng công trình ngầm.
  • Ngành Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông: Đào tạo chú trọng vào nền móng trong công trình giao thông.
  • Ngành Kỹ thuật hạ tầng đô thị: Xây dựng, tư vấn lắp đặt công trình phụ trợ làm tăng vẻ đẹp (ví dụ đèn treo, đài phun nước) hoặc tiện nghi (ví dụ cống thoát nước hay thang máy) cho công trình. Chương trình học được xây dựng trọng tâm từ ngành "Xây dựng" và kết hợp với chương trình đào tạo ngành "Kiến trúc cảnh quan" của trường (có thiết kế và trang trí mô hình).
  • Ngành Công nghệ kỹ thuật vật liệu xây dựng.

Nhóm ngành đào tạo kiến thức kỹ thuật bảo vệ môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Ngành Kỹ thuật môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Đào tạo kỹ năng thiết kế, thi công công trình và quản lý các hệ thống kỹ thuật hạ tầng, làm việc liên quan đến bảo vệ môi trường ở các đô thị, các khu công nghiệp.

Ngành Kỹ thuật cấp - Thoát nước (Chuyên ngành cấp - thoát nước)[sửa | sửa mã nguồn]

Đào tạo kỹ năng thiết kế, thi công công trình và quản lý các hệ thống kỹ thuật hạ tầng, làm việc liên quan đến cấp thoát nước nhằm bảo vệ môi trường ở các đô thị, các khu công nghiệp.

Nhóm ngành đào tạo kiến thức quản trị công ty:[sửa | sửa mã nguồn]

Ngành Quản trị xây dựng (Quản lý xây dựng):

  • Ngành học này chỉ dành cho người học có đủ năng lực mở công ty xây dựng, hoặc người học muốn trau dồi khả năng điều hành công ty xây dựng. Do vậy, ngành học này không dành cho số đông, người học cần nghiêm túc xem xét trước khi chọn ngành này, vì số đông sẽ khó lòng làm một nhân viên tốt với kiến thức rộng của một người làm chủ, sẽ khó thăng tiến trong sự nghiệp.
  • Ngành học đào tạo rất rộng, được xây dựng chủ lực từ kiến thức của ngành “Xây dựng”, "Kỹ thuật đô thị", "Quản trị doanh nghiệp", "Kế toán" và có kết hợp với kiến thức của ngành "Kiến trúc", "Quy hoạch", "Luật" và "Marketing". Chương trình học được đánh giá là rất nặng khi chương trình học bị phân nhiều mảng không liên quan đến nhau khiến người học khó lòng liên hệ lại kiến thức, nhưng ngược lại người học sẽ có kiến thức rộng, để có thể làm tốt việc điều hành ở nhiều mảng trong một công ty vì không cần kiến thức chuyên sâu để làm tốt một việc.

Ngành Kinh tế xây dựng:

  • Tính toán, hoạch định vấn đề tài chính trong kế hoạch xây dựng công trình. Kiến thức ngành này chuyên về mảng đấu thầu và tài chính trong công ty. Cũng là một ngành đào tạo kiến thức quản lý, nhưng thích hợp với số đông hơn ngành Quản trị xây dựng.

Nhóm ngành đào tạo kiến thức kiến trúc:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngành Kiến trúc: Đào tạo chú trọng vào thiết kế bản vẽ, tính tiện dụng và ngoại hình của công trình.
  • Ngành Thiết kế nội thất: Chương trình học gần giống với ngành "Kiến trúc" nhưng thiên hướng trang trí hơn thiết kế. Đào tạo trang trí nội - ngoại thất của công trình và thiết kế, trang trí đồ trang trí nội - ngoại thất. Đào tạo chú trọng vào cách phối màu.

Chương trình học song bằng:[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sinh viên được đăng ký vào cuối mỗi học kỳ một hằng năm sau khi trường có thông báo.
  • Sinh viên phải có điểm trung bình các học kỳ (điểm trung bình tích luỹ) ≥ 2,0, phòng đào tạo sẽ xem xét dựa trên điểm từng môn học, sức khoẻ của sinh viên và khả năng tài chính của gia đình, sẽ tuyển thẳng nếu điểm trung bình các học kỳ ≥ 2,5.
  • Ngành thứ hai phải cùng khối thi đại học với ngành thứ nhất.
  • Sinh viên cần nghiêm túc xem xét khả năng học của mình, nếu ảo tưởng có thể ảnh hưởng đến ngành chính của mình.

Chương trình chất lượng cao, đổi mới, chương trình tiên tiến, chương trình liên kết:[sửa | sửa mã nguồn]

Người học có thể đăng ký để nâng cao chất lượng đào tạo.

Các chương trình đào tạo trình độ Thạc sĩ:[sửa | sửa mã nguồn]
  • Kiến trúc.
  • Quy hoạch vùng và đô thị.
  • Quản lý đô thị và công trình.
  • Kỹ thuật xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp.
  • Kỹ thuật cơ sở hạ tầng.
Các chương trình đào tạo trình độ Tiến sĩ:[sửa | sửa mã nguồn]
  • Kiến trúc.
  • Quy hoạch vùng và đô thị.
  • Quản lý đô thị và công trình.
  • Kỹ thuật xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp.
  • Kỹ thuật cơ sở hạ tầng.
Điểm chuẩn đầu vào Đại học Kiến trúc Hà Nội
Năm XD dân dụng XD CT ngầm XD CT GT KT hạ tầng đô thị KT môi trường đô thị Cấp thoát nước CN VLXD Kinh tế XD Quản lý XD KT Quy hoạch KT cảnh quan TK đồ họa TK nội thất Điêu khắc TK thời trang
2016 20,25 19,75 16 16 16 16 19,5 20,25 19 25,75 23,75 23 19,25 17,75 15 15,25
2017 15,5 18,5 16,75 18 15,5 16,25 15,5 15,5 15,5 26,25 24,08 22 21,25 19,75 18,75 20,25

* Màu xanh lá đại diện cho ngành có điểm cao nhất miền bắc Việt Nam, màu tím nhạt đại diện cho ngành cao thứ nhì miền Bắc Việt Nam.

* Điểm vẽ ngành Kiến trúc, Quy hoạch và Kiến trúc cảnh quan nhân 2.

* Ngành Kỹ thuật hạ tầng đô thị là ngành mới, trường hiện tại là trường duy nhất ở miền bắc có đào tạo ngành này.

Chất lượng đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Đội ngũ giảng viên[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến tháng 3 năm 2017, trường có 470 giảng viên. Trong đó có 27 phó giáo sư, 94 tiến sĩ, 329 thạc sĩ và 47 giảng viên có trình độ đại học.[3]

Chất lượng đầu ra thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

Chất lượng đầu ra thực tế tính theo các ngành có thời gian tốt nghiệp vào năm 2016
Cấp bậc đào tạo Số lượng nhập học Số lượng tốt nghiệp đúng hạn Số lượng tốt nghiệp loại xuất sắc Số lượng tốt nghiệp loại giỏi Tỉ lệ người học thu nhập trên 10 triệu VNĐ Tỉ lệ có việc làm sau khi ra trường 1 năm
Đại học 1503 1336 6 58 4,9% Trường không khảo sát ở bậc đào tạo này
Thạc sĩ 398 350 Trường không khảo sát ở bậc đào tạo này 99% 100%
Tiến sĩ 15 1 100% 100%

* Tỉ lệ sinh viên có việc làm trong vòng 1 năm sau khi ra trường đã bao gồm số lượng sinh viên khởi nghiệp (có đăng ký thành lập doanh nghiệp hoặc lập StartUp, cần phân biệt với ngộ nhận khởi nghiệp như đa cấp).[4]

* Tỉ lệ tốt nghiệp trễ xuất hiện chứng tỏ độ tin cậy về cam kết siết đầu ra của trường, có thể nói lên độ tin cậy về khả năng làm việc của người đã tốt nghiệp.

Cựu sinh viên[sửa | sửa mã nguồn]

Những nhân vật từng học tập tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội:

Cơ cấu tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Giám hiệu

  1. Hiệu trưởng: PGS.TS. KTS. Lê Quân
  2. Phó Hiệu trưởng:
  • TS. KTS. Ngô Thị Kim Dung;
  • PGS. TS. Lê Anh Dũng;
  • PGS. TS. KTS Nguyễn Tuấn Anh

Hội đông Trường

  • Chủ tịch Hội đồng Trường: PGS.TS.KTS. Phạm Trọng Thuật

Công tác đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội có sứ mệnh đảm nhận việc đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật thuộc ngành Xây dựng ở trình độ Đại học và trên Đại học, đặc biệt là các chuyên ngành Kiến trúc, Quy hoạch, Xây dựng, Nội thất và Mỹ thuật công nghiệp, Kỹ thuật hạ tầng và Môi trường đô thị, Quản lý đô thị, Công nghệ thông tin. Trường là nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ quản lý đô thị đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển của đất nước theo hướng hội nhập và chuẩn Quốc tế.
  • Cơ sở đào tạo chính của Trường Đại học Kiến trúc tại Hà Nội và Xuân Hòa, Vĩnh Phúc cùng các cơ sở liên kết như Nam Định, Hải Dương, Uông Bí, Điện Biên, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh.

Khoa đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thi đấu - trường ĐH Kiến trúc Hà Nội

Các khoa và bộ môn:

  • Khoa Kiến trúc
  • Khoa Xây dựng
  • Khoa Quy hoạch đô thị - nông thôn
  • Khoa Kỹ thuật Hạ tầng và Môi trường đô thị
  • Khoa Quản lý đô thị
  • Khoa Nội thất và Mỹ thuật Công nghiệp
  • Khoa Công nghệ thông tin
  • Khoa Sau Đại học
  • Khoa Tại chức
  • Khoa Lý luận chính trị
  • Bộ môn Giáo dục thể chất

Cơ sở vật chất[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lớp học có trang thiết bị hiện đại;
  • Thư viện điện tử phục vụ giáo viên và sinh viên với hàng nghìn đầu sách;
  • Nhà thi đấu dành cho các hoạt động thể dục thể thao của cán bộ và sinh viên;
  • Ký túc xá cho hơn 500 sinh viên, có cả khu Ký túc xá dành riêng cho sinh viên Lào và Campuchia;
  • Nhà lớp học hiện đại 13 tầng có thang máy; phòng học thoáng mát rộng rãi;

Viện và trung tâm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Viện kiến trúc nhiệt đới;
  • Trung tâm Thông tin thư viện;
  • Trung tâm kỹ thuật hạ tầng kỹ thuật đô thị;
  • Trung tâm nâng cao năng lực về nghiên cứu đô thị;
  • Trung tâm thí nghiệm;
  • Các phòng thí nghiệm hợp chuẩn quốc gia
    • Phòng thí nghiệm xây dựng công trình
    • Phòng thí nghiệm nước
    • Phòng thí nghiệm lưu động về môi trường
  • Văn phòng tư vấn và chuyển giao công nghệ xây dựng
  • Công ty xây dựng và phát triển đô thị

Hợp tác quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội thiết lập quan hệ hợp tác với các trường đại học sau:

  • Đại học Adelaide (Australia)
  • Đại học Nottingham (Anh Quốc)
  • Đại học Kiến trúc Toulouse (Pháp)
  • Đại học Kitakyushu (Nhật Bản)
  • Viện Công nghệ Muroran (Nhật Bản)
  • Đại học Catholic University of America (Hoa Kỳ)

Thành tích đã ghi nhận[sửa | sửa mã nguồn]

  • Với những thành tích trong 50 năm đào tạo và phát triển, Nhà trường đã được Đảng, Nhà nước, các Bộ, Ngành, Đoàn thể tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý:
    • Huân chương Lao động: Hạng Ba (1986); Hạng Hai (2013); Hạng Nhất (1983);
    • Huân chương Độc lập: Hạng Ba (2001); Hạng Hai (1995); Hạng Nhất (1991);
    • Chủ tịch Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Nhà trường Huân chương Hồ Chí Minh (2006);
    • Nhà nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào tặng Huân chương Lao động Hạng Ba (2000);
    • Cờ thi đua Bộ Xây dựng (2014, 2016);
    • Cờ thi đua Chính phủ (2015).
  • Ngoài ra, các tổ chức Đảng, Công đoàn và Đoàn thanh niên Nhà trường cũng đạt được những thành tích đáng tự hào:
    • Tổ chức Đảng: Bằng khen “Đảng bộ trong sạch vững mạnh” (2014, 2015, 2016) do Đảng ủy Khối các Trường Đại học, Cao đẳng thành phố Hà Nội trao tặng;
    • Công đoàn: Bằng khen “Tổ chức Công đoàn vững mạnh” (2014, 2015, 2016) do Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội trao tặng;
    • Đoàn thanh niên:
      • Bằng khen và cờ thi đua “Đơn vị xuất sắc” (2015, 2016) do Trung ương Đoàn Thanh niên Việt Nam trao tặng;
      • Cờ thi đua “Đơn vị xuất sắc” (2014, 2015, 2016) do Thành đoàn Hà Nội trao tặng.

Vài điều thú vị về trường Đại học Kiến trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống phù điêu trên mặt đứng nhà U của họa sĩ Trần Hữu Quang. Đây là hệ thống phù điêu 2 mặt đầu tiên được sáng tác và thi công ở Việt Nam
  • Các dãy nhà học trong trường được kí hiệu theo các chữ cái A, B, C, D, E. Riêng dãy nhà mới nhất được kí hiệu là H, do có dạng chữ H.
  • Mặt đứng nhà U được trang trí bằng bức phù điêu 2 mặt đầu tiên của Việt Nam, do họa sĩ Trần Hữu Quang (giảng viên ĐH Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội) sáng tác.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Danh sách buộc thôi học Khoá 2014”. 
  2. ^ “Danh sách buộc thôi học Khóa 2015”. 
  3. ^ “Báo cáo công khai năm học 2016 - 2017”. 
  4. ^ “Người Việt đang “mê” đa cấp thay vì “say” khởi nghiệp!?”"Có một sự liên hệ mật thiết giữa kinh doanh đa cấp và khởi nghiệp, nhưng nếu so sánh về giá trị cho xã hội mà khởi nghiệp và đa cấp tạo ra, chúng ta có thể thấy rõ sự khập khiễng này." 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]