Đặng Minh Khiêm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Đặng Minh Khiêm (鄧鳴謙, 1456?-1522?)[1], tự Trinh Dự, hiệu Thoát Hiên; là danh thần và là danh sĩ Việt Nam thời Lê sơ.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên quán ông ở huyện Thiên Lộc, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh; sau dời đến ở xã Mạo Phố, huyện Sơn Vi (nay là thôn Mạo Phố, xã Lương Lỗ, huyện Thanh Ba), tỉnh Phú Thọ.

Ông thuộc dòng dõi danh tướng Đặng Tất (1357-1409) và Đặng Dung (1373-1414) thời Hậu Trần. Cha Đặng Minh Khiêm là Đặng Di, đỗ Hoàng giáp năm 1453 dưới triều vua Lê Nhân Tông (ở ngôi: 1442-1459) [2].

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đinh Mùi (1487), Đặng Minh Khiêm đỗ Hoàng Giáp dưới triều vua Lê Thánh Tông (ở ngôi: 1460-1497), được bổ chức quan.

Năm Tân Dậu (1501), ông làm Thị thư Viện Hàn Lâm, vâng mệnh đi sứ sang nhà Minh.

Năm Kỷ Tỵ (1509), ông lại được đi sứ sang nhà Minh lần thứ 2. Khi về, ông được thăng chức Tả thị lang bộ Lại, rồi Thượng thư bộ Lễ, kiêm Phó Tổng tài sử quán và coi việc ở cục Chiêu Văn.

Ttong đời vua Lê Chiêu Tông (ở ngôi: 1516-1522), Đặng Minh Khiêm vâng mệnh sửa lại bộ Đại Việt lịch đại sử ký [3].

Sau ông chạy theo Lê Chiêu Tông vào Thanh Hóa, rồi mất ở Hóa châu[4], thọ khoảng 66 tuổi [5].

Tác phẩm chính[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giang Tây khúc thuyền thi tập (Tập thơ chèo thuyền ở Giang Tây), làm khi đi sứ, nhưng nay đã thất truyền.
  • Việt Giám vịnh sử tập (Tập thơ vịnh sử làm tấm gương soi của nước Việt), còn gọi là Thoát Hiên vịnh sử tập, gồm 3 tập, 125 bài thơ chữ Hán làm theo thể thất ngôn tuyệt cú, vịnh 125 nhân vật (đế vương, tông thất, danh thần, danh nho, tiết nghĩa, v.v...) từ thời Kinh Dương Vương đến thời Hậu Trần. Ngoài thơ vịnh, mỗi nhân vật đều có một tiểu dẫn sơ lược về lai lịch và hành trạng. Trong tập thơ "những chỗ khen, chê, bỏ lấy, đều có ý sâu xa" (Phan Huy Chú), được nhiều danh sĩ xưa coi là một thiên "danh bút" (Phan Huy Chú), là một áng "văn chương kiệt tác" (Lê Quý Đôn), được rất nhiều người truyền tụng (theo Hà Nhậm Đại)[6]. Sau, Tiến sĩ triều Hà Nhậm Đại (1525-?) đã mô phỏng tập thơ này làm ra tập Lê triều khiếu vịnh thi tập (Tập thơ ca vịnh dưới triều Lê)[7].

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Giới thiệu Đặng Minh Khiêm trong Lê triều khiếu vịnh thi tập, danh sĩ triều Lê là Hà Nhậm Đại có thơ:

Tiết nghĩa do lai báo tự thiên,
Nhất môn dịch diệp thế tương truyền.
Thị phi công luận chân lương sử,
Đáo xứ nhân giai thuyết Thoát Hiên.

Dịch nghĩa:

Dòng dõi tiết nghĩa được trời đền đáp,
Một nhà kế tiếp vinh hiển, truyền đời nọ sang đời kia.
Công luận về lẽ phải trái, thật là pho sử tốt,
Đến đâu cũng thấy người ta nói về thơ Thoát Hiên[8].

Trong Lịch triều hiến chương loại chí, danh sĩ triều NguyễnPhan Huy Chú cũng có lời ca ngợi ông như sau:

"Ông (Đặng Minh Khiêm) học vấn rộng rãi, chân chính, khẳng khái, có tiết tháo lớn…Bấy giờ (trong đời vua Lê Chiêu Tông) trong nước lúc đó có nhiều biến cố, ông vẫn nghiêm sắc mặt đứng giữ triều đình, có khí tiết cứng cỏi, không lay chuyển được. Ông lấy hiệu là Thoát Hiên tiên sinh, giữ mình thẳng thắng, không ỷ lại phụ họa với ai. Sau ông biết thời sự không thể làm được, nên mượn sử sách ngâm vinh để tiêu khiển. Văn chương ông thanh nhã, dồi dào, đời vẫn truyền tụng. Ông là người có văn học tiết tháo, là bậc danh nho đầu đời Lê. Sử khen ông là bậc khoa danh. Người ta cho là Đặng Tất, Đặng Dung có con cháu khá" (ý chỉ ông)[9].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí (tập 1 và tập 3). Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1992
  • Bùi Duy Tân, mục từ "Đặng Minh Khiêm" trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
  • Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003.
  • Đặng Tộc Đại Tông Phả, Yến Quận công Đặng Tiến Thự viết năm 1683, Tiến sĩ Ứng Quận công Đặng Đình Tướng tục biên năm 1686, Thái Nhạc Quận công Đặng Sĩ Hàn tiếp tục tục biên năm 1745, Nguyễn Văn Thành giới thiệu. Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2002.
  • Họ Đặng "Nam bang vượng tộc" thời Lý đến thời Lê, Nguyễn Văn Thành, Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng phả học Việt Nam.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Năm sinh năm mất biên theo Bùi Duy Tân, Từ điển văn học (bộ mới), tr. 391.
  2. ^ Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí (tập 1, phần "Nhân vật chí"), tr 373.
  3. ^ Ghi theo Bùi Duy Tân (sách đã dẫn, tr. 931) và Trần Văn Giáp (Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tr. 891). Phan Huy Chú (sách đã dẫn, tr. 373) ghi là Đại Việt sử ký.
  4. ^ Trần Văn Giáp, sách đã dẫn, tr. 891.
  5. ^ Theo Bùi Duy Tân (sách đã dẫn, tr.391). Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tr. 138) của Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế, ghi ông thọ trên 70 tuổi.
  6. ^ Theo Bùi Duy Tân, sách đã dẫn, tr. 392.
  7. ^ Theo Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí (tập 3, phần "Văn tịch chí", tr. 127)
  8. ^ Trích trong Lê triều khiếu vịnh thi tập ở trong sách Văn học thế kỷ XV-XVII do PGS. TS. Trần Thị Băng Thanh làm chủ biên. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, tr. 969.
  9. ^ Phan Huy Chú (sách đã dẫn, tr. 373). Các chữ trong ngoặc là của người soạn.