Đoan Mộc Tứ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Đoan Mộc Tứ
(端木赐)
Half Portraits of the Great Sage and Virtuous Men of Old - Duanmu Ci Zigong (端木賜 子貢).jpg
Ảnh Đoan Mộc Tứ trong bức tranh Tượng bán thân của Chí tiên thánh hiền (至聖先賢半身像) (trưng bày ở Bảo tàng Cung điện Quốc gia).
Sinh520 TCN
Nước Vệ
Mất459 TCN
Nước Tề
Thời kỳXuân Thu
VùngNho giáo
Trường pháiKhổng giáo

Đoan Mộc Tứ (giản thể: 端木赐; phồn thể: 端木賜; bính âm: Duānmù Cì; Wade–Giles: Tuan¹-mu⁴ Tzʻŭ⁴; 520–456 TCN),[1], người Hoa Hạ, họ Đoan Mộc, sống vào thời kỳ cuối Xuân Thu , người nước Vệ (huyện Tuấn, Hạc Bích, tỉnh Hà Nam), tự Tử Cống (giản thể: 子贡; phồn thể: 子貢; bính âm: Zǐgòng; Wade–Giles: Tzŭ³-kung⁴), là môn sinh thân thiết của Khổng Tử , một trong mười đệ tử của Khổng Tử, và là một trong những đệ tử “Thụ nghiệp thân thông” (thực hành thành thạo), từng gọi Khổng Tử là “Hô liễn chi khí ” (một người tầm cỡ). Trong điển cố Vạn Nhận cung tường (Tường cung Vạn Nhận) xuất tự từ việc Tử Cống tán thưởng học vấn cao thâm của Khổng Phu Tử. trong số những môn sinh của Khổng Tử, ông là người giỏi thứ hai về biện luận, chỉ sau Tể Dư. Ông là một nhà ngoại giao kiệt xuất của thời Xuân Thu, từng đam nhiệm chức quan viên cao cấp ở một số nước, và là một thương nhân rất giàu có

Tử Cống lời nói thông minh, hùng biện hiệu quả, hay giúp đỡ người tài, hành sự thông đạt. Khi ở Lỗ, ông là lưỡng quốc Tướng quân , đại diện của nước Vệ. Ông cũng giỏi về việc giao nhận vận tải , từng thông thương giữa hai nước Tào, Lỗ, cực kì giàu có, là đệ tử giàu nhất của Khổng Tử . Sau khi Khổng Tử qua đời Tử Cống thủ tang sáu năm, là đệ tử của Khổng tử thủ tang lâu nhất.

Sau này, khi bình luận về ông-một doanh nhân thành công, người ta thường bình là “Di sản của Đoan Mộc”, thậm chí và một số người còn coi ông là Thần Tài . “Đoan mộc di phong” đề cập đến văn hóa thành tín mà Tử Cống là người đầu tiên nói đến. Tử Cống là người đầy thiện chí, “Quân tử ái tài, thủ chi hữu đạo” (dùng những phương thức hợp pháp để kiếm lời, đó là phương châm của quân tử ham tiền), được hậu thế thương giới rất thôi sùng. Tư Mã Thiên nhận xét trong 《 Sử ký ·Hóa thực liệt truyện》 ghi lại những câu chuyện kinh doanh của Tử Cống. Giống như Đào Chu Công , Phạm Lễ , ông là sơ tổ của thương nho . Thê tử của ông là người nước Việt Câu Hoàn , con trai ông là Đoan Mộc Quỳnh cười người nước Vệ Cừ Linh Nhi , và đích tôn của Tử Cống là Đoan Mộc Thúc . Tử Cống qua đời tại Tề.

"Luận Ngữ " cũng ký lục về ngôn hành của ông. "Sử ký " đánh giá ông rất cao. Năm Khai Nguyên nhà Đường truy phong là “Lê hầu”, thời Tống năm thứ hai Đại trung tường phù gia phong là “Lê công”, Năm Gia Tĩnh đời Minh thứ 9 cải xưng là “Tiên hiền Đoan Mộc Tử”.

Cố sự nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Tử Cống tôn sư[sửa | sửa mã nguồn]

Tương truyền, Khổng Tử có bảy mươi hai đệ tử nổi tiếng, Tử Cống là một trong số đó. Câu chuyện Tử Cống tôn sư, cũng thật cảm động. Một lần, đại phu nước Lỗ châm biếm Khổng Tử, tâng bốc Tử Cống trước mặt những người khác. Tử Cống cố gắng thính thuyết nhưng sau này cực kỳ căm phẫn, ông cũng so sánh thầy trò Khổng Tử như một căn nhà, nói rằng người thầy là tường cao ngàn trượng, ốc nội phú lệ đường hoàng, người thường không có đủ khả năng trèo tới; ông nói rằng mình chỉ như là một bức tượng cao ngang vai, có thể thấy trong nháy mắt. Ông cũng so sánh thầy mình như mặt trời và mặt trăng, nói kiến thức của thầy mình như hào quang rực rỡ, thường nhân không thể có sở năng siêu việt đó. Khổng Tử qua đời, Tử Cống bi thương vạn phần, chuyển sang sống gần mộ Khổng Tử, thủ mộ 6 năm.

Tử Cống vấn đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Tài năng và đức hành của con người, từ xưa đến giờ chưa bao giờ thập toàn thập mỹ, nếu một người có sở trường, anh ta cũng sẽ có sở đoản. Nếu chúng ta sử dụng sở trường để bổ túc cho sở đoản, có lẽ, thiên hạ không ai có thể bỏ rơi chúng ta; nếu chúng ta trách cứ mọi người vì điểm yếu của họ và ghen tị với điểm mạnh của họ, có lẽ, thiên hạ sẽ bỏ rơi chúng ta. Ở trong mỗi người, thì quan điểm tình yêu và thù hận khá khác nhau, và mục đích cũng khác nhau, ngay cả những minh triết như Y Doãn, Chu Công, hàng hiền năng như Mặc Địch, Dương Chu, khi họ thỉnh cầu ý kiến của mọi người, thì họ có thể tránh bị chế giễu và nghi kị?

Tập tin:DM standbild 2008.jpg
Đoan Mộc Tứ (miếu thờ Phu tử)

Tử cống vấn đạo Khổng Tử: “Hương lí đích nhân đô hỉ hoan giá cá nhân, giá cá nhân chẩm ma dạng?” (Nông dân thích người đàn ông lương thiện, còn những người ác có bị ghét không?) Khổng Tử nói: “Khong thể nào” Tử cống hỏi: “Hương lí đích nhân đô tăng ác tha, giá cá nhân hựu chẩm dạng ni?” (Nông dân đều ghét người xấu, vậy người xấu có ghét người xấu không?) Khổng tử thuyết đạo: “Không hẳn vậy. Tốt hơn là những người tốt ở nông thôn thích người tốt, trong khi những người xấu ở nông thôn ghét anh ta” Điều này là do Quân tử và tiểu nhân ý định tương phản, tiểu nhân ghét quân tử và quân tử cũng ghét tiểu nhân. Muốn biết được điều chân thật phải lắng nghe cẩn thận, lắng nghe thận trọng những lời quân tử phản ánh. Nghe quân tử nói, phế trừ tà đạo của tiểu nhân; nghe tiểu nhân nói, chính đạo của quân tử sẽ tiêu vong.

Tử Cống chuộc người[sửa | sửa mã nguồn]

Tập tin:DM2 standbild 2008.jpg
Tượng thạch Đoan Mộc Tứ được khắc ở Hàng Châu

Đạo đức mà đại đa sổ mọi người không thể làm là ngụy đạo đức. Đạo đức chân chính cũng trọng yếu như không khí.

Theo luật của Lỗ quốc, thần thiếp người Lỗ ở các nước chư hầu, làm nô lệ ở ngoại quốc, và những người có thể chuộc họ sẽ được thưởng tiền từ chính quyền. Tử Cống đã chuộc người nước Lỗ khỏi các chư hầu, nhưng không nhận tiền từ quốc khố. Khổng Tử nói: "Cho hay mất. Từ giờ trở đi, người Lỗ sẽ không chuộc người nữa. Nếu anh không lấy vàng, anh sẽ không chuộc được ai.

Phiên dịch: Có một điều luật trong Lỗ quốc quy định. Người dân Lỗ đã trở thành nô lệ ở ngoại quốc. Một số người có thể chuộc họ, sau đó họ có thể lấy lại tiền chuộc trong quốc khố. Vào một dịp nọ, đệ tử của Khổng Tử là Tử Cống (Đoan Mộc Tứ) đã chuộc một người nước Lỗ ở ngoại quốc và cự tuyệt nhận tiền bồi thường từ quốc gia sau khi hồi quốc. Khổng Tử nói: "Theo thầy, anh đã làm chuyện bạo pháp. Do đó, người dân Lỗ sẽ không chuộc nô lệ xứ họ trở lại bản quốc nữa. Nếu anh lấy lại tiền bồi thường của quốc gia, bạn sẽ không làm tổn hại giá trị hành vi của mình; nếu anh cự tuyệt lấy lại số tiền bạn đã trả, những người khác sẽ không muốn chuộc lại nữa.

"Tử Cong chuộc người" và làm một hảo sự. Ông nên được coi như một điển phạm đạo đức. Tại sao Khổng Tử lại phê bình ông? Kỳ thật dụng ý của luật nước Lỗ là khuyến khích cá nhân làm một đại hảo sự bất cứ khi nào họ có cơ hội. Ngay cả khi bạn tạm thời không có năng lực trả tiền chuộc trước, bạn vẫn nên vay tiền chuộc để chuộc đồng bào, vì sau đó bạn sẽ không tổn thất gì cả. Sai lầm của Tử Cống là nâng cao tiêu chuẩn đạo đức mà đại đa sổ người khó đạt tới. Điều gì sẽ xảy ra nếu quân chủ Lỗ quốc nêu gương Tử Cống, như thông báo, khen thưởng, tuyên truyền và thậm chí quảng bá trên toàn quốc, hậu quả là gì? Đầu tiên, các tiêu chuẩn đạo đức xã hội đã được đề cao, và mọi người đều học tập Tử Cống; thứ hai, kỳ thật các tiêu chuẩn đạo đức đã thực sự suy giảm, bởi vì các tiêu chuẩn cao cả về đạo đức của Tử Cống đã đe dọa ông. Sẽ là vô đạo đức đối với bất cứ ai cứu chuộc đồng bào của mình và sau đó đòi tiền chuộc của nhà nước, tuy nhiên một số cá nhân có đủ tài lực để bảo chứng rằng việc tổn thất khoản tiền chuộc này sẽ không ảnh hưởng gì đến sinh hoạt cá nhân. Nhưng Cuộc sống của những người khác thì sao?

Đạo đức bội nghịch nhân tình là điều tà ác nhất trên thế giới. "Đạo đức kinh" nói rằng "đức hạnh dựa trên xấu xa là vô đức". Nó sùng sự chất phác tự nhiên và không phô trương phi cố chấp, đó là mỹ đức và trí tuệ truyền thống của Trung Hoa thượng cổ. Bởi vì vô số giáo huấn đã dạy chúng ta rằng nếu chúng ta nâng cao tiêu chuẩn đạo đức vô hạn hoặc coi tư đức là công đức, thì chúng ta sẽ chỉ nhận được một kết quả, đó là làm xấu hổ đạo đức, làm cho dân chúng phổ thông mất đạo đức và sau đó xa rời đạo đức! Huuuuuuuu.

Điền Thường tấn công nước Lỗ[sửa | sửa mã nguồn]

Đại phu nước Tề là Điền Thường hay tấn công nước Lỗ, nhằm uy hiếp tứ đại gia tộc Cao Thị, Quốc Thị, Bảo Thị, Yến Thị của nước Lỗ. Khổng nghe tin, phái học sinh cứu mẫu quốc Lỗ, cuối cùng cho Tử Cống xuất mã [2].

Đầu tiên Tử Cống đến Tề quốc, thuyết phục Điền Thường đồng ý không tấn công Lỗ mà tiến công Ngô (nước) . Ông đến Ngô quốc thuyết phục Ngô vương không tấn công Việt (nước) mà tấn công Tề quốc, cuối cùng thuyết phục Tấn (nước) ngưng cho binh tấn công Tề.[3]. Cuối cùng Ngô bại Tề, nhưng Điền Thường luôn trong tình trạng hỗn loạn. Ngô tấn công Tấn, nhưng bị Tấn đánh bại. Việt Câu Tiễn đã lợi dụng tình hình để diệt ngô rồi xưng bá. Cái gọi là: Tử Cống một lần -xuất-, mười năm cứu Lỗ, làm loạn Tề, phá Ngô, cường Tấn, bá Việt [4]. Tử Cống nhờ đó đã nổi tiếng khắp chư hầu .

Đầu năm 479[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 9 tháng 3 năm 479 (ngày Sửu tháng 4 năm Lỗ Ai Công thứ 16, 9 tháng 3 ở Nho lịch, ngày 4 tháng 3 theo Công Lịch, ngày 11 tháng 2 theo lịch Hạ), Khổng Tử qua đời, thọ 73 tuổi, ông được chôn cất trên bờ Tứ Tủy phía bắc thành phố Khúc Phụ. Chúng đệ tử mặc tang phục trong ba năm, còn Tử Cống giữ tang Khổng Tử 6 năm.

Cá tính Tử Cống[sửa | sửa mã nguồn]

Có ba loại người mà Tử Cống ghétː 1. Đạo ý tưởng của người khác, nhưng nghị rằng mình rất thông minh 2. Không khiêm tốn mà nghĩ mình có dũng khí. 3. Hay công kích người khác mà tự cho rằng mình chính trực.

Khuyết điểm của Tử Cống là không đồng cảm, do đó trong Luận ngữ, Khổng Tử ba lần nhắc hở ông phải “Thứ” (Tha thứ), và bị đồng môn Nguyên Hiến phê bình.

Tử cống vấn viết: “Hữu nhất ngôn nhi khả dĩ chung thân hành chi giả hồ?” Tử viết: “Kỳ thứ hồ! Kỷ sở bất dục, vật thi vu nhân.” (luận ngữ 15.24) (Tử Cống hỏiː "Từ nào có ý nghĩa nhất và một người phải theo nó cả đời?" Tử nóiː "Hãy tha thứ cho người khácǃ Hãy đồi xử với người khác giống như anh muốn người khác đối xử với mình")

Tử Cống viết: “Ngã bất dục nhân chi gia chư ngã dã, ngô diệc dục vô gia chư nhân.” Tử viết: “Tứ dã, phi nhĩ sở cập dã.” (luận ngữ 5.12) (Tử Cống nóiː "Tôi muốn mọi người tha thứ cho tôi nhưng tôi không muốn tha thứ cho mọi người" Tử nóiː Bố thí là chuyện quá xa xỉ với anh")

Tử Cống viết: “Như hữu bác thi vu dân nhi năng tế chúng, hà như? Khả vị nhân hồ?” Tử viết: “Hà sự vu nhân! Tất dã thánh hồ! Nghiêu thuấn kỳ do bệnh chư! Phu nhân giả, kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân. Năng cận thủ thí, khả vị nhân chi phương dã dĩ.” (luận ngữ 6.30) (Tử Cống nóiː "Nếu có lòng từ thiện với mọi người và giúp họ thì sao chứ? Có phải lòng nhân từ không?" Tử nóiː "Lòng nhân từ là gì? Nó là thánh. Nghiêu và Thuấn vẫn bị bệnh thôi. Nhưng họ đúng lên và sống rất đàn ông. Nếu anh được như vậy. Anh đã có nó rồi.")

Khẩu tài của Tử Cống[sửa | sửa mã nguồn]

Khẩu tài của Tử Cống rất tốt, được liệt kê là khoa ngôn ngữ, rất giỏi thuyết phục, tham vấn, và bình luận, đó cũng là năng lực trọng yếu trong phương diện chính trị và thương nghiệp.

Để xem tài thuyết phục của ông, xin xem chiến tranh Tề Ngô ở trên.

Ông đặt câu hỏi rất kỹ xảo. khi Tử cống muốn vấn ông thầy già Khổng Khâu một câu hỏi trọng yếu (như lập trường chính trị hay ý chí), nếu như hỏi trực tiếp thì quá lỗ mãng, làm cho ông thầy già mệt mỏi không muốn hồi đáp. Vì vậy ông sẽ tìm kiếm một điểm đáng chú ý trong một câu chuyện, rồi hỏi Khổng Tử thái độ với sự kiện đó, sau đó đoán thái độ chân chính của Khổng Tử với vấn đề đó.

Nhiễm hữu viết: “Phu tử vi vệ quân hồ?” Tử Cống viết: “Nặc; ngô tương vấn chi.” Nhập, viết: “Bá Di - Thúc Tề hà nhân dã?” Viết: “Cổ chi hiền nhân dã.” Viết: “oán hồ?” Viết: “Cầu nhân nhi đắc nhân, hựu hà oán?” Xuất, viết: “Phu tử bất vi dã.” (luận ngữ 7.15) (Nhiễm Huữ hỏiː "Phu Tử có bảo vệ anh không?" Tử Cống trả lờiː "Không biếtǃ; tôi sẽ hỏi ông thầy." Rồi nóiː "Ông có biết Bá Di, Thúc Tề là hai ông nào không?" Rồi nóiː "Hiền nhân xưa cũng vậy." Rồi lại nóiː "Mẹ kiếp?" Nóiː "Có gì sai khi tiềm kiếm lòng tốt và đạt được nó?" Sau đó ông ra ngoài và kết thúcː "Phu tử không làm như thế đâu.")

Tử cống viết: “Hữu mỹ ngọc vu tư, uẩn (độc) nhi tàng chư? Cầu thiện giả nhi cô chư?” Tử viết: “Cô chi tai! Cô chi tai! Ngã đãi giả giả dã!” (luận ngữ 9.13) (Tử Cống nóiː "Có mỹ ngọc ở Tư, Uẩn và Tạng không? Hay là đổi ngọc để cầu thiện?" Tử nói" "Cô chiǃ Bán ngayǃ")

Ngoài chủ động tham vấn, bị động phản vấn thì ông cũng rất cường hạng. Khổng Tử lâu lâu cug4 hay ói chuyện trên trời dưới đất, kỳ thật không hỏi vấn đề, nhi mà chỉ ói ý kiến của mình. Tằng Tử là người kém hiểu biết chỉ có thể nói "Có", và Khổng Tử quá lười biếng để tiếp tục nói chuyện. Nhưng Tử Cống sẽ phản vấn Khổng Tử một câu hỏi mở, để ông thầy già nói chuyện sướng miệng.

Tử viết: “Mạc ngã tri dã phu!” Tử cống viết: “Hà vi kỳ mạc tri tử dã?” Tử viết: “Bất oán thiên, bất vưu nhân; hạ học nhi thượng đạt. Tri ngã giả, kỳ thiên hồ!” (luận ngữ 14.36) (Khổng Tử nóiː "Thầy không biết Dã Phuǃ" Tử Cống nóiː "Tại sao thầy không biết con trai mình?" Tử nóiː "Không oán trời, không xét người; chỉ cầu học để tiến bộ thôi. Trời ơi, ai biết thầy không?") Tử viết: “Tứ dã, nữ dĩ dư vi đa học nhi thức chi giả dữ?” Đối viết: “Nhiên, phi dữ?” Viết: “Phi dã! Dư nhất dĩ quán chi.” (luận ngữ 15.3) (Tử nóiː "Bố thí là việc phụ nữ học biết được từ điều cho đi?" Rồi đối lạiː "Có, nhưng không nên bố thí với ai?" Nóiː "Khôngǃ Hãy kiên định)

Khi đánh giá các phương diện của người khác, Tử Cống cực kỳ cẩn thận, Luận ngữ khúc giữa ghi lại nhiều lời ca ngợi của ông với Khổng Tử và Nhan Hồi, mặc dù sự nghiệp cá nhân cực kỳ thành công, nhưng các danh nhân vẫn tán tụng Khổng Tử nhiều hơn ông, vì ông thỉnh thoảng cũng có nhiều biểu hiện trẻ con hơn ông thầy già của mình.

Tử vị tử cống viết: “Nữ dữ hồi dã, thục dũ?” Đối viết: “Tứ dã, hà cảm vọng hồi? Hồi dã, văn nhất dĩ tri thập; tứ dã, văn nhất tri nhị.” Tử viết: “Phất như dã; ngô dữ nữ, phất như dã.” (luận ngữ 5.9) (Tử Vị Tử Cống nóiː "Phụ nữ và Hồi Dã, ai hơn?" Rồi nói đốiː "Khi anh cho tôi ở trọ, anh có dám quay trở lại đó không? Khi anh trở về, anh sẽ biết mười điều bằng cách nghe một điều; khi anh cho đi, anh sẽ sẽ biết hai điều bằng cách nghe một." Tử nóiː Phất Như Dã, tôi và con tôi, Phất Như Dã.")

Tử cầm vấn vu tử cống viết: “Phu tử chí vu thị bang dã, tất văn kỳ chính, cầu chi dữ? Ức dữ chi dữ? Tử cống viết: “Phu tử ôn﹑lương ﹑cung ﹑kiệm ﹑ nhượng dĩ đắc chi. Phu tử chi cầu chi dã, kỳ chư dị hồ nhân chi cầu chi dữ?” (luận ngữ 1.10) (Tử Cầm hỏi Tử Cốngː "Nếu Phu Tử ở thị bang thì phải biết nghe lời chính phủ, hay yêu cầu họ? Hay là ở với họ? Tử Cống nóiː Phu Tử đã đạt được đức tính ôn, lương, cung, kiệm, nhượng. Cái mà Phu Tử muốn dĩ nhiên phải khác với những gì người khác muốn phải không nào?")

Thúc tôn võ thúc hủy trọng ni. Tử cống viết: “Vô dĩ vi dã! Trọng ni bất khả hủy dã. Tha nhân chi hiền giả, khâu lăng dã, do khả du dã; trọng ni, nhật nguyệt dã, vô đắc nhi du yên. Nhân tuy dục tự tuyệt, kỳ hà thương vu nhật nguyệt hồ? Đa kiến kỳ bất tri lượng dã!” (luận ngữ 19.24) (Bác Ngô định hủy diệt Trọng Ni. Tử Cống nóiː "Tôi không muốn vậy đâuǃ Trọng Ni không thể bị phá hủy. Ông ấy là hiền giả, hiền như đồi núi; Trọng Ni, mặt trời và mặt trăng, ba cái tên đó hông dám ra khỏi giới hạn của mình. Tại sao khi người ta muốn đi rồi, người ta phải làm khó mặt trời và mặt trăng kia chứ? Đó là do họ không biết điêuǃ")

Trần tử cầm vị tử cống viết: “Tử vi cung dã, trọng ni khởi hiền vu tử hồ?” Tử cống viết: “Quân tử nhất ngôn dĩ vi tri, nhất ngôn dĩ vi bất tri, ngôn bất khả bất thận dã! Phu tử chi bất khả cập dã, do thiên chi bất khả giai nhi thăng dã. Phu tử chi đắc bang gia giả. Sở vị 『 lập chi tư lập, đạo chi kỳ hành, tuy chi kỳ lai, động chi tư hòa. Kỳ sinh dã vinh, kỳ tử dã ai 』; như chi hà kỳ khả cập dã?” (luận ngữ 19.25) (Trần Tử gọi Tử Cống và nóiː "Ông là một người lịch sự, Trọng Ni có tốt hơn ông không?" Tử Cống nói "Quân tử nghĩ rằng hắn có thể biết mọi thứ chỉ trong một từ, nhưng thật ra hắn ta còn lâu mới được như vậy, lời nói không thể không cẩn thậnǃ Phu Tử là người không thể đề cập đến, mệnh trời cũng như vậy. Phu Tử đã đạt tới tầm gia giả (thầy của mọi nhà). Cái gọi là "Lập chí tự lập, hành động theo đạo, tùy việc mà làm, tinh thần linh hoạt." Đòi càng vinh quang thì cái chết sẽ càng đau khổ. Khó nói lắmǃ

Tử Cống không chỉ giỏi hỏi, mà còn rất giỏi trả lời, và rất giỏi trong việc an ủi Khổng Tử đang nản lòng. Khổng Tử bình thường biểu hiện vui mừng khi biết thiên mệnh của mình (“Bất hoạn nhân bất kỷ tri” - Không bao giờ để người khác biết chuyện của mình), nhưng trước mặt Tử Cống lại thổ lộ thâm tâm mất mát sâu sắc, chứng tỏ Tử Cống rất biết cách an ủi người, nên Khổng Tử sẵn sàng phàn nàn với anh ta. Ông thực sự khuyến khích ông thầy già của mình nói lên những điều trong lòng.

Tử viết: “Mạc ngã tri dã phu!” Tử cống viết: “Hà vi kỳ mạc tri tử dã?” Tử viết: “Bất oán thiên, bất vưu nhân; hạ học nhi thượng đạt. Tri ngã giả, kỳ thiên hồ!” (luận ngữ 14.36) (Khổng Tử nóiː "Thầy không biết Dã Phuǃ" Tử Cống nóiː "Tại sao thầy không biết con trai mình?" Tử nóiː "Không oán trời, không xét người; chỉ cầu học để tiến bộ thôi. Trời ơi, ai biết thầy không?")

Tử viết: “Dư dục vô ngôn!” Tử cống viết: “Tử như bất ngôn, tắc tiểu tử hà thuật yên?” Tử viết: “Thiên hà ngôn tai! Tứ thời hành yên, bách vật sinh yên; thiên hà ngôn tai?” (luận ngữ 17.17) (Tử nóiː "Hãy cho đi mong muốn của anh mà không nói gìǃ" Tử Cống nóiː "Nếu thầy không nói, thì mọi cậu bé trên thiên hạ biết gì mà nói đây?" Tử nóiː "Trời không nói gì. Mà bốn mùa chuyển động, bách vật yên ổn; Trời có nói gì đâu?

Khổng Tử bình luận về Tử Cống[sửa | sửa mã nguồn]

Vì chưa đạt đến cảnh giới "Thứ", Khổng Tử chỉ gần như khẳng định năng lực công tác của ông, nhận ông là “Sĩ” (học giả), nhưng vẫn không đủ để làm người quân tử.

“Tứ dã đạt, vu tòng chính hồ hà hữu?” ( luận ngữ 6.8 ) ("Tôi có thể làm gì cho anh đây")

“Tứ bất thụ mệnh, nhi hóa thực yên; ức tắc lũ trung.” ( luận ngữ 11.18 ) (Anh sẽ không nhận được thành quả, dĩ nhiên; dù có là hàng triệu năm nữa)

tử cống vấn viết: “Hà như tư khả vị chi sĩ hĩ?” Tử viết: “Hành kỷ hữu sỉ; sử vu tứ phương, bất nhục quân mệnh; khả vị sĩ hĩ.” ( luận ngữ 13.20 ) (Tử Cống hỏiː "Sĩ là gì?" Tử nóiː "Cảm thấy sỉ nhục khi hành việc của riêng mình; làm cho mọi người khắp bốn phương mà không bị nhục vì mệnh lệnh của quốc vương, đó là Sĩ.")

tử cống vấn viết: “Tứ dã hà như?” Tử viết: “Nữ, khí dã.” Viết: “Hà khí dã?” Viết: “Hô liễn dã.” ( luận ngữ 5.4 ) (Tử Cống hỏiː "Vũ khí phải sử dụng như thế nào?" Tử nóiː "Phụ nữ hay vũ khí cũng vậy." Tử Cống hỏiː "Là sao?" Tử nóiː "Lừa dối như san hô.")

Trong câu cuối cùng Khổng Tử hồi đáp: “Nữ, khí dã.” Đây không phải là Khổng Tử tán thưởng ai, mà là một lời nhắc nhở. Trong Luận ngữ cũng nói lên được một con người khác của Khổng Tử nữa, ông nói: Quân tử bất khí (Quân tử không xài vũ khí).

Tử Cống không hiểu được lý giải của Khổng Tử về vũ khí, mà vẫn hỏi “Hà khí dã?” ("Là sao?"), Khổng Tử nghĩ rằng Tử Cống chưa đủ trình làm quân tử.

Thành tựu[sửa | sửa mã nguồn]

Thủy tổ Thương Nho[sửa | sửa mã nguồn]

Tử Cống không chỉ giỏi trong phương diện học nghiệp, chính trị mà còn giỏi trong quản lý tài kinh. 《 Luận ngữ · Tiên tiến 》 có nhắc đến lời nói của Khổng Tử: “Hồi dã kỳ thứ hồ, lũ không. Tứ bất thụ mệnh, nhi hóa thực yên, ức tắc lũ trung” ("Nhan Hồi đạo học đã khá rồi, mà vẫn còn nghèo, Đoan Mộc Tứ không nghe thấy, bỏ đi buôn bán, luôn luôn tính đúng") ý nói là Nhan Hồi đã gần như hoàn thiện về đạo đức, nhưng ông quá nghèo, đến mức ăn cũng thành vấn đề, trong khi Tử Cống không bị vận mệnh kiểm soát, đoán đúng thị trường, buôn bán phát đạt. "Sử ký-Trọng ni đệ tử liệt truyện" cũng ghi: “Tử cống hảo phế cử, dữ thời chuyển hóa tư…… Gia luy Thiên kim”, phiên dịch: Tử Cống dựa vào thị trường mà biến hóa kiếm tiền, trở thành Cự phú. Vì Tử Cống trong kinh doanh đại hoạch thành công, Tư Mã Thiên trong "sử ký · Hóa thực liệt truyện" cho rằng ông là một nhà thương nghiệp khổng lồ, khẳng định tác dụng của ông trong việc phát triển kinh tế.

Lỗ Vệ chi tương (Ở Lỗ và Vệ)[sửa | sửa mã nguồn]

"Luận ngữ" chỉ nói Tử Cống xuất sắc về phương diện “Ngôn ngữ”, chứ không nói rằng người khác đánh giá ông như thế nào.

Tập tin:DMT cropped.jpg
Đoan Mộc Tứ

Ông cũng có tài năng ưu việt trong những lĩnh vực khác. "Sử ký - Trọng Ni đệ tử liệt truyện" nói Tử Cống là “Thường tương Lỗ, Vệ” (Hay ở Lỗ và Vệ). Ông thầy già Khổng Tử cũng tin rằng ông có tài năng chính trị phi phàm. "Luận ngữ - Ung Dã" từng ghi rằng Quý Khang Tử đã hỏi Khổng Tử rằng Tử Lộ, Tử Cống, Nhiễm Cầu có làm chính trị được không, Khổng Tử hồi đáp rằng cả ba người đều có thể là nhà chính trị, tuy nhiên Khổng cũng phân biệt sự bất tương đồng các ưu điểm của ba người: “Do ( Tử Lộ ) dã quả”, “Tứ ( Tử Cống ) dã đạt”, “Cầu ( Nhiễm Cầu ) dã nghệ” ("Do là người quyết đoán", "Tứ có tài năng", "Cầu đa tài đa nghệ"). tử ba ưu điểm được Khổng Tử liệt kê, thì chúng tôi nghĩ rằng ưu điểm của Tử Cống —— “Đạt” (Tài năng), không thể thiếu đối với các chính trị gia. “Đạt” còn có nghĩa là thông đạt sự lý, hãy tưởng tượng một chính trị gia mà “Thông đạt sự lý”, người ấy như đứng trên một cái cao ốc, người ấy sẽ toàn cụ hóa vấn đề, xử lý chúng một cách có trật tự. Còn phẩm chất của Tử Lộ là “Quả” (quyết đoán), của Nhiễm Cẩu là “Nghệ” (đa tài đa nghệ), chỉ là những phẩm chất phụ. Bởi vì tử Cống có khả năng thông đạt sự lý, cộng với tài năng “Ngôn ngữ” kiệt xuất, mà ông được các nước như Lỗ, Vệ mời làm quan. Chính vì ông sở hữu tài năng chính trị, ông sẽ hoạt động ngoại giao thành công ở bốn nước Tề, Ngô, Việt, Tấn.

Giáo thư dục nhân (Dạy và giáo dục con người)[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm cuối đời, ông cũng bắt đầu dạy học giống như Khổng Tử, Đại phu nước LỗTử Phục Cảnh Bá là nhân tài ưu tú do ông đào tạo.

Tư biện của Tử Cống[sửa | sửa mã nguồn]

Tử Cống và Khổng Tử[sửa | sửa mã nguồn]

Đạo đức đầu tiên: Khổng tử dạy, Nhan Hồi tốt hơn Tử Cống, về đạo đức và học tập, đương nhiên đạo đức của Khổng Tử tự thân cao hơn Nhan Hồi. Nhận xét thứ hai: Người ta nói rằng, Tử Cống tốt hơn Khổng Tử. Cống hiến thứ ba: Trong thời Xuân Thu, cống hiến của Tử Cống rất lớn, thông đạt sự lý, là lưỡng quốc tể tướng (tể tướng ở hai nước), năng ngôn thiện biện (nói năng hùng hồn), tung hoành ngũ quốc (tung hoành năm nước), tự thuật thứ tư: Tử Cống tự hứa với mình: tường của thầy tôi (Khổng Tử) cao tới mấy nhận. Không tìm được cửa mà vào thì không thấy được vẻ đẹp của tông miếu, những sự giàu có của trăm quan. Câu nói của ông “Tông miếu chi mỹ” (vẻ đẹp của tông miếu), “Bách quan chi phú” (sự giàu có của trăm quan), chứng tỏ ông đánh giá cao Khổng Tử, giữ gìn thanh danh của ông thầy già, nhưng chỉ nói rằng "tường" của Khổng Tử cao hơn "tường" của ông, chứ không phải nói, tường của ông đẹp bằng Khổng Tử. Cảnh đẹp thứ năm: Khổng Tử như cao sơn (núi cao), Tử Cống như lưu thủy (vực nước sâu), cao sơn nguy nga, có nước chảy sầm sầm; lưu thủy linh động, giữ gìn và tư dưỡng đức của vạn vật, quan điểm cho rằng, ai là nhà hiền triết đại diện cho cao sơn lưu thủy?

Năng lực học tập[sửa | sửa mã nguồn]

Tập tin:Tucong5.jpg
Đoan Mộc Tứ

Tử Cống học tập rất xuất sắc. Trước hết được thể hiện trong mức độ cao siêu của "Ngôn ngữ" của Tử Cống. "Luận ngữ · Tiên Tiến" nói: "Đức hành: Nhan Uyên, Mẫn Tử Khiên, Nhiễm Bá Ngưu, Trọng Cung. Ngôn ngữ: Tể Dư, Tử Cống. Chính sự: Nhiễm Hữu, Quý Lộ. Văn học: Tử Du, Tử Hạ." Có thể thấy rằng Tử Cống xuất sắc về phương diện "Ngôn ngữ", có nghĩa là, Tử Cống thuyết thoại rất kỹ xảo và có kỹ năng diễn giảng. Theo "Tả truyện" và các cuốn sách lịch sử khác, việc huấn luyện ngôn ngữ của Khổng Tử cho các buổi lễ tân ngoại giao chủ yếu dựa trên Thơ ca, đã trở thành một phong tục tại thời điểm đó. Khổng Tử từng nói: “Bất học "Thi", vô dĩ ngôn” ("Không có gì để nói nếu không học Thơ"). Thơ đã trở thành sách giáo khoa chính của huấn luyện ngôn ngữ tại thời điểm đó. Cuốn sách Kinh Thi đã trở thành một trong Lục kinh.

Trong nghiên cứu về "Thơ", Khổng Tử không chỉ yêu cầu học trò hiểu ý nghĩa ban đầu của "Thơ", mà còn yêu cầu họ "Hoạt học hoạt dụng" ("học và sử dụng nó một cách linh hoạt") và thể hiện bản thân một cách tự do trong các dịp lễ tân lịch sự, trong khi rất khó giỏi vì không có tính linh hoạt và độ nhạy đáng kể. Trong số các đệ tử của Khổng Tử, Tử Cống đã làm điều này rất tốt. "Luận ngữ · Học Nhi" thầy trò Khổng Tử đối đáp nhau. Tử Cống linh hoạt vận dụng những bài thơ trong "Kinh Thi - Vệ Phong - Kỳ ảo" - "Như thiết như tha, như trác như ma" (Như đã cắt và dũa học tập đạo lý (kẻ làm đồ bằng xương bằng sừng, sau khi tiện cắt ra, món đồ phải trau dũa thêm cho trơn láng)/Như đã dồi mài lo việc tu thân (kẻ làm đồ ngọc đá, sau khi đã đục thành hình phải dồi mài cho bóng sáng)). để trả lời câu hỏi của ông thầy già. Khổng Tử tin rằng lời hồi đáp của Tử Cống rất phù hợp, và thấy rằng "Đoạn chương thủ nghĩa" ("lấy sự công bình đối chọi bối cảnh") là đúng, vì vậy ông đã ca ngợi Tử Cống: “Thủy khả dữ ngôn "thi" dĩ hĩ” ("Đủ để bàn về Kinh Thi") và nói rằng Tử Cống "Cáo chư vãng nhi tri lai giả" ("nói cho ngươi việc quá khứ, ngươi đã hiểu việc tương lai"), tin rằng sự lý giải của ông về bài thơ đã đạt đến điểm hiểu.

Trong "Luận ngữ" khúc giữa, Tử Hạ được đánh giá cao độ về khả năng "bắt đầu bằng lời nói" và về "những bài thơ đã được thực hiện". Tử Hạ là một người xuất sắc về "Văn học". Điều này cho thấy Tử Cống không chỉ xuất sắc về "Ngôn ngữ", mà còn giỏi bằng những môn đệ khác như Tử Du, Tử Hạ về "văn học". "Sử ký · Trọng Ni đệ tử liệt truyện" từng nói: “Tử cống lợi khẩu xảo biện, khổng tử thường truất kỳ biện” ("Khả năng hùng biện của Tử Cống thật khéo léo và Khổng Tử không có nó."), có vẻ như hai người thường tranh biện về một số vấn đề. Chính vì phát huy tài năng về phương diện "Ngôn ngữ" mà ông ấy đã đến bốn nước Tề, Ngô, Việt và Tấn đã khiến Tử Cống đóng một vai trò lớn trong hoạt động ngoại giao của bốn nước này. Trong hoạt động ngoại giao ấy, nhờ tài năng diễn thuyết Tử Cống đã thuyết phục các quốc vương của bốn quốc gia, phân tích lợi hại và làm cho họ tiếp thu ý tưởng của mình. "Sử ký · Trọng Ni đệ tử liệt truyện" ghi: "Tử cống nhất sử, sử thế tương phá, thập niên chi trung, ngũ quốc các hữu biến" ("Tử Cống - một đại sứ, đã ương phá tình hình, trong mười năm, làm năm quốc gia thay đổi.") Nói một cách cụ thể, đó là: Tồn lỗ, loạn tề, phá ngô, cường tấn nhi bá việt (làm cho Lỗ tồn tại, làm loạn Tề, phá Ngô, làm Tấn thành hùng mạnh và khiến Việ xưng bá). Kỹ năng diễn thuyết và khả năng ngoại giao cao siêu của Tử Cống cũng phát huy vai trò đầy đủ và sống động trong hoạt động ngoại giao! Huuuuuuuuuuu.

Bình luận từ người cùng thời[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tích nổi bật của Tử Cống về phương diện học vấn, thành tựu chính trị, quản lý tài chính, kinh doanh và các khía cạnh khác rất quan trọng đối với tất cả mọi người, và đã được mọi người biết tới. Do đó, thanh danh và địa vị của ông đã lên rất cao, thậm chí vượt qua cả ông thầy già Khổng Tử. Đương thời Tôn Võ, Đại phu nước Lỗ, đã nói công khai trước triều đìnhː "Tử Cống tốt hơn Trọng Ni". Một đại thần khác của nước Lỗ, Tử Phục Cảnh Bá, đã nói với Tử Cống những gì ông Võ đã nói, nhưng Tử Cống nói khiêm tốn: "Thí chư cung tường, tứ ( tử cống ) chi tường dã cập kiên; khuy kiến gia thất chi hảo. Phu tử ( khổng tử ) chi tường sổ nhận, Bất đắc kỳ môn nhi nhập, Bất kiến tông miếu chi mỹ: Bách quan chi phú. Đắc kỳ môn giả hoặc quả hĩ. Phu thủ chi vân, bất diệc nghi hồ?" Trần Tử, một đại thần khác của nước Lỗ, không đồng ý khi nghe lời giải thích của Tử Cống. Ông nói: "Thầy là người rất đáng tôn trọng. Trọng Ni có xứng đáng với Thầy không? _ có nghĩa là thầy quá khiêm cung, Trọng Ni có thực sự tốt hơn thầy không? Nói tóm lại, tất cả những lời khen ngợi mà Tử Cống sở hữu không hề trống rỗng, điều đó cho thấy danh tiếng, địa vị và ảnh hưởng của Tử Cống đương thời không còn là người dưới của ông thầy già Khổng Tử nữa. Một sử gia có tầm nhìn xa, Tư Mã Thiên viết trong "Sử ký" thậm chí còn tin rằng lý do tại sao danh tiếng của Khổng Tử lan rộng khắp thiên hạ và Nho học đã trở thành một trường phái nổi bật đương thời, vì một người có trình độ như Tử Cống thúc đẩy. Ông viết trong "Sử ký · Hóa Thực Liệt truyện": "Tử Cống, đệ tử trung thành nhất trong số bảy mươi người, không bao giờ mệt mỏi vì bị xua đuổi và trốn trong những con hẻm nghèo. Tử Cống buộc những đồng xu lụa để thuê các hoàng tử, các vị vua chiến đấu chống lại nhau ở các nước chư hầu. Khổng giáo đã được Khổng Tử truyền bá khắp thiên hạ và Tử Công trước sau gì cũng phải được vinh danh sau Khổng Tử. Học thuyết "giữ" và "mang lại lợi ích" của Tử Cống và Khổng Tử không được công bố. Hãy tưởng tượng công lao "Thường tương Lỗ, Vệ" của Tử Cống, người đã di cư sang các quốc gia và có địa vị hiển hách nhất thời, do ta có một miệng mồm tuyệt vời. Mỗi lần sau khi hoàn thành sứ mệnh, ông luôn đi cùng ông thầy già của mình với một bộ lý luận và chủ trương. Mặc dù một số lý luận chủ trương của Khổng Tử khác với thời đại, ông luôn lắng nghe Tử Cống. Do đó Khổng Tử được phát huy tính khách quan của mình. Nho học của Khổng Tử đã trở thành một trường phái nổi bật và danh tiếng của Khổng Tử lan rộng khắp thiên hạ, điều này thực sự có liên quan đến đệ tử chân cao của ông, Tử Cống. Tư Mã Thiên rất chính xác khi viết về điều này.

Tôn sư trọng đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù Tử Cống có nhiều thành tựu và đóng góp ở nhiều phương diện, nhưng ông ấy có biểu hiện khiêm tốn phi thường trước Khổng Tử. Trong "Luận ngữ·Công Dã Tràng", Khổng Tử đã hỏi Tử Cốngː "Nhữ dữ hồi dã thục dũ ( thùy canh cường ta )?" ("Ai hơn Nhan Hồi"). Nhan Hồi là môn sinh mà Khổng Tử đắc ý nhất. Tử Cống trong thâm tâm nhận thức rõ điều này, nhưng Khổng Tử có thiên hướng thích Tử Cống đặt vấn đề. Tử Cống khá tự kiềm chế, Tử nóiː "Tứ dã hà cảm vọng hồi? Hồi dã văn nhất dĩ tri thập, tứ dã văn nhất dĩ tri nhị." (Tứ sao dám mong bằng Hồi? Hồi nghe một thì biết mười. Tứ nghe một biết hai.) Kỳ thật Tử Cống và Nhan Hồi ai cũng giỏi. Tử Cống và Nhan Hồi, nói về chính sự, Nhan Hồi phải đưa ra những tờ giấy trắng; Sinh kế của Nhan Hồi khó có thể được duy trì. Luận ngữ nói rằng ông "trống rỗng". Có vẻ như việc nhịn ăn thường phát sinh, trong khi Tử Cống là "một đại gia"; Nhan Hồi không có đại năng lượng bằng Tử Cống về việc công khai mỹ danh của thầy. Về phần Khổng Tử, khi gặp nguy hiểm gian khó, Tử Cống luôn đứng lên và thể hiện đại trí đại dũng tuyệt vời của mình. "Sử ký ·Khổng Tử thế gia" mô tả sự bần cùng của Khổng Tử ở nước Trần và Thái, tuyệt lương, tình hình mười phần nguy cấp. Đương thời, các môn đồ của Khổng Tử nhìn nhau và cảm thấy hụt hẫng. Sau đó "Tử Cống sứ Sở" (Tử Cống đi sứ sang nước Sở), "Sở Chiêu Vương nghênh đón Khổng Tử, và sau đó họ được miễn. Tử Cống là một trong những đệ tử kiệt xuất nhất của Khổng Tử.

Di chỉ tương quan[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ sách Đoan Mộc[sửa | sửa mã nguồn]

Tập tin:Tucong6.jpg
Di chỉ bộ sách Đoan Mộc

Bộ sách Đoan Mộc nằm ở đỉnh núi Tử Cống, là hồ chứa lớn thứ hai ở tỉnh Giang Tô và phía tây của đập hồ chứa Tiểu Tháp Sơn ở huyện Cống Du. Đó là một đại thạch mịn. Theo "Quang Tự Cống Du huyện chí", Bộ sách Đoan Mộc là một trong "Cống Du bát cảnh" (tám cảnh đẹp của Cống Du) kể từ thời nhà Minh.

Tương truyền vào thời Xuân Thu, học sinh của Khổng Tử là Tử Cống (họ là Đoan Mộc, tên là Tứ, tự Tử Cống) đã xây dựng thư viện Đoan Mộc trên núi (đã bị phá hủy), Núi Vạn Tùng đổi tên thành Núi Tử Cống và đá Sái Thư được gọi là Học viện Bộ sách.

Thời kỳ Xuân Thu, thiên hạ phân liệt, các phương chư hầu tương tranh xưng bá, chinh chiến liên miên, phong hỏa lang yên. Đương thời nước Lỗ là nước siêu nhược tiểu và bị lân quốc coi thường. Một năm nọ, nước Tề muốn chiếm nước Lỗ, và nước Lỗ thượng hạ kinh động. Lỗ tuy nhỏ, nhưng là nơi Khổng Tử, một nhà tư tưởng vĩ đại, đã được sinh ra ở đây. Khổng Tử có đệ tử ở khắp thiên hạ. Trong số đó, một người quê ở nước Tề có họ Đoan Mộc tên là Tứ, tự Tử Cống là một môn sinh đác ý của Khổng Tử, năng ngôn thiện biện, là thiên tài ngoại giao. Để giải trừ khó khăn, Khổng Tử phái Tử Cống đến Tề du thuyết.

Tử Cống đã hoàn thành du thuyết của mình và kích động chiến tranh giữa hai đại quốc Ngô - Tề, “Chỉ ngô bá việt, loạn tề tồn lỗ”. Sau khi đi qua núi Vạn Tùng, ông nhìn thấy cảnh sắc những đám mây và sương mù trong thung lũng và tùng đào lăn trên núi. Ông ấy tham gia một chuyến đi thú vị và ghi chú, nhưng ông ấy không biết rằng bầu trời không đẹp. Bỗng nhiên trời mưa to và Tử Cống trở về nhà. Lúc này, bầu trời đột nhiên sáng lên và cầu vồng xuất hiện một nửa. Trong sự ngạc nhiên, Tử Cống phát hiện hòn đá anh vừa ngồi không còn nước nữa. Trước sự ngạc nhiên lớn hơn của mình, Tử Cống đặt cuốn sách ướt lên nó. Cuốn sách đã khô như trước đây ngay lập tức, vì vậy có một hòn đá xuất hiện trên thế gian, đá Đoan Mộc.

Tử Cống và cây Giai[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khu rừng Khổng ngày nay ở Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, vẫn còn cây Giai được cấy từ phương nam đến Khúc Phụ để biểu đạt lời xin lỗi của Tử Cống vì đã không ở gần Khổng Tử khi ông thầy già qua đời.

Khi Khổng Tử qua đời, Tử Công đang ở phương Nam. Khi nghe tin, Tử Cống trở về Khúc Phụ mang theo những loài cây độc đáo từ phương nam. Ông cầu nguyện rằng “Như quả lão sư khẳng nguyên lượng tha, tựu thỉnh nhượng thử thụ hoạt hạ lai” (Nếu ông thầy già tha thứ cho ông, ông sẽ để cái cây tồn tại). Sau đó, cây Giai quả nhiên sống sót và sinh trưởng ở Khúc Phụ, sau đó xuất hiện kỹ năng chạm khắc Cây Giai.

Ngày nay, chỉ còn lại một bộ phận thân cây. Chữ khắc trong tấm bia là chữ viết tay của Hoàng đế Khang Hi đề “Tử cống thủ thực giai” (Tử Cống và cây Giai). Người Khúc Phụ phiên âm từ "Giai" là "Jiē" (còn âm phổ thông là "Kai")̠. Nó cũng là để kỷ niệm lòng hiếu tâm của Tử Cống rằng “Thiên hạ nhân giai ứng hiệu phảng” ("tất cả mọi người trên thiên hạ nên làm theo").

Mộ Tử Cống[sửa | sửa mã nguồn]

Tập tin:Tucong7.jpg
Mộ Tử Cống

Nằm ở quê hương của Tử Cống. Ở huyện Tuấn, thành phố Hạc Bích, tỉnh Hà Nam, địa điểm ngôi mộ nằm ở Đông Tương Trang, cách của huyện Tuấn năm dặm phía đông nam. Trước ngôi mộ là một bia mộ đá xanh lớn được chính phủ nhân dân dựng lên, khắc chữ “Tiên hiền tử cống mộ” (Mộ của Tử Cống tiên hiền), phông chữ đoan trang ngưng trọng, thể hiện sự tôn sùng của người dân huyện Tuấn đối với nhà hiền triết của quê hương họ. Tại khu lăng mộ Tử Cống có bản ghi "Cải chính tiên hiền lê công mộ từ ký" (cải chính lại câu chuyện của Tiên Hiền Lê công). Chữ khắc và chữ viết thông thường. Bản ghi gồm 20 dòng, đầy đủ 72 từ. Đầu mộ có rồng được chạm khắc cao 490 cm, bản ghi cao 340 cm và rộng 94 cm. Năm Long Khánh thứ 22 (năm 1549), hòn đá được dựng lên vào tháng hai bởiː Ninh Thời Mạc - tri huyện huyện Tuấn. Cựu Tả thửa tướng ở Đại lý tự tiền kinh kỳ đạo giam sát ngự sử, một người dân ấp, cựu đại phu và đồng tri lý Long An phủ của tỉnh Tứ Xuyên là Lí Nhất Kinh.

Hồ sơ tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chép sử liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Tư Mã Thiên đã trứ tác cuốn "Sử ký·Trọng Ni đệ tử liệt truyện", Tử Cống là nhân vật được viết nhiều nhất, người có truyện kỳ dài nhất trong số các đệ tử của Khổng Tử về chiều dài. Hiện tượng này cho thấy Tử Cống là một nhân vật rất bất tầm thường trong mắt Tư Mã Thiên. Suy nghĩ và đọc "Luận ngữ" và các cuốn sách khác một cách cẩn thận, chúng ta có thể thấy Tử Cống là một nhân vật phi thường. Ảnh hưởng và vai trò to lớn của ông vượt xa tầm với của bất kỳ đệ tử Nho giáo nào: ông có thành tích học tập ưu dị, tu dưỡng văn hóa phong phú, tài năng chính trị và ngoại giao trác việt, và năng lực tài chính và kinh doanh cao siêu. Trong số các đệ tử của Khổng Tử, Tử Cống là người giỏi nhất kết hợp học và hành.

Ghi chép từ địa phương[sửa | sửa mã nguồn]

Tập tin:Tucong8.jpg
Đoan Mộc Tứ

Tử Cống sinh ra trong một gia đình thương nhân. Ở tuổi đôi mươi, ông được kế thừa tổ nghiệp bắt đầu kinh doanh. Khoảng 25 tuổi (495 năm trước), ông bái Khổng Tử là thầy, nhưng ông không phải lúc nào cũng ở quanh Khổng Tử. Ông thường đến các nước để hoạt động. Vào năm Lỗ Định Công thứ mười lăm (495 năm trước), khi Khổng Tử đang trong thời gian tốt để tự vệ, Tử Cống đã đến nước Lỗ để hội kiến cuộc gặp giữa Lỗ Định Công và Chu Ẩn Công. Khi Khổng Tử rời khỏi Vệ, Tử Cống đi theo ông ta. Năm Lỗ Ai Công thứ năm (492 năm trước) Lỗ Ai Công gặp Khổng Tử ở nước Trần. Trong thời gian đau khổ, Tử Cống thụ mệnh đến Sở và phái vua Sở Chiêu Vương xuất binh cứu Khổng Tử. Vào Ai Công thứ bảy (488 năm trước), khi Khổng Tử đến nước Vệ, Tử Cống được Quý Kháng Tử phái hội kiến thái tể nước Ngô. Vào năm Ai Công thứ 11 (484 năm trước), trước khi Khổng Tử trở lại nước Lỗ, Tử Cống đã hỗ trợ Thúc Tôn xử lý ngoại sự tại nước Lỗ. Trong mười lăm năm của Ai Công (480 năm trước), Tử Cống đã được nước Lỗ gửi đến nước Tề. Sau cái chết của Khổng Tử vào năm Ai Công thứ 16 (479 năm trước), Tử Cống đã phục tang ba năm ở quê nhà của Khổng Tử là nước Lỗ (nay là Khúc Phụ), và ba năm trông coi lăng mộ, tổng cộng sáu năm. Sau đó, Tử Cống vẫn ở nước Lỗ. Trong năm Ai Công thứ 26 (469 năm trước), ông đã trả lời các câu hỏi từ Vệ Xuất Công. Năm sau, trước tháng giêng, Tử Cống rời nước Lỗ, hậu sự bất tường. Tử Cống từng giữ chức Tín Dương Mệnh, Tín Dương Tể.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Taylor & Choy 2005, tr. 643–4.
  2. ^ [ lộ mạn mạn kỳ tu viễn hề - tử cống cứu lỗ by rifur(võng hữu rifur chỉnh lý)
  3. ^ việt tuyệt thư 》: "Ký tái xuân thu mạt niên, điền thường dục tác loạn vu tề, khủng chư khanh đại phu , cố di kỳ binh công lỗ, khổng tử thị lỗ quốc nhân, cố mệnh tử cống thuyết chi."
  4. ^ 《 việt tuyệt thư · ngoại truyện bổn sự 》: “Đương thị chi thời, tề tương phạt lỗ, khổng tử sỉ chi, cố tử cống thuyết tề dĩ an lỗ. Tử cống nhất xuất, loạn tề, phá ngô, hưng tấn, cường việt.”

Tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]