Amanda Seyfried

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Amanda Seyfried
Amanda Seyfried 2009.jpg
Seyfried trong buổi ra mắt phim Jennifer's Body tại Toronto International Film Festival năm 2009
Sinh Amanda Michelle Seyfried
3 tháng 12, 1985 (32 tuổi)
Allentown, Pennsylvania, Hoa Kỳ.
Nghề nghiệp
Năm hoạt động 1996–nay
Phối ngẫu Thomas Sadoski (kết hôn 2017–nay) «start: (2017)»"Hôn nhân: Thomas Sadoski đến Amanda Seyfried" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Amanda_Seyfried)
Con cái 1

Amanda Michelle Seyfried ( /ˈsfrɛd/ SY-fred;[1] sinh ngày 03 tháng 12 năm 1985) là một nữ diễn viên và ca sĩ người Mỹ.[2] Cô bắt đầu sự nghiệp của mình như một người mẫu khi mới 11 tuổi, sau đó bắt đầu sự nghiệp diễn xuất ở tuổi 15 với những vai diễn khách mời và chuyển sang những vai diễn định kỳ trong các vở kịch opera As the World TurnsAll My Children.

Năm 2004, Seyfried lần đầu xuất hiện trên phim ảnh trong bộ phim hài tuổi teen Mean Girls. Các vai diễn sau đó của cô là trong những bộ phim độc lập, được kể đến như phim truyền hình Nine Lives (2005) và phim truyền hình tội phạm Alpha Dog (2006), cô cũng đã có một vai diễn định kỳ trong bộ phim truyền hình Veronica Mars (2004-2006). Giữa năm 2006 và 2011, cô đóng vai chính trong bộ phim truyền hình Big Love của kênh HBO và xuất hiện trong bộ phim âm nhạc nổi tiếng Mamma Mia! (2008).

Sự xuất hiện khác của cô bao gồm vai diễn chính trong phim hài kinh dị Jennifer's Body (2009), vai nhân vật một cô gái gọi trong phim khiêu dâm Chloe (2009), phim lãng mạn đề tài chiến tranh Dear John (2010) và phim lãng mạn Letters to Juliet (2010). Cô cũng là ngôi sao trong phim giả tưởng lãng mạn đề tài lịch sử Red Riding Hood (2011), phim giả tưởng In Time (2011), phim kinh dị Gone (2012), phim nhạc kịch Les Misérables (2012), phim tiểu sử Lovelace (2013), và trong các phim hài A Million Ways to Die in the West (2014) và Ted 2 (2015).

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Seyfried sinh ra ở Allentown, Lehigh County, Pennsylvania vào ngày 3 tháng 12 năm 1985.[3][4] Mẹ cô, bà Ann (nhũ danh Sander) là một chuyên gia trị liệu và cha cô, Jack Seyfried là một dược sĩ.[5][6] Cô thuộc dòng dõi người Đức, với sự pha trộn dòng máu Anh, Scotland, Ireland, và Welsh.[7][8] Seyfried tốt nghiệp năm 2003 từ trường trung học Allentown's William Allen.[9] Cô có một người chị, Jennifer Seyfried là một nhạc sĩ trong ban nhạc rock Love City.[10]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi nghiệp (1996–2006)[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khoảng thời gian làm người mẫu của Seyfried, cô xuất hiện trên những in ấn quảng cảo cho các công ty thời trang bao gồm Limited Too với Leighton Meester, và đã là hình ảnh đại diện trên ba trang bìa của loạt tiểu thuyết Sweet Valley High.[11][12] Cô ngừng làm người mẫu khi lên 17 tuổi,[11] và làm công việc bồi bàn trong một cộng đồng hưu trí.[13] Seyfried học những bài học về giọng, học opera, và được huấn luyện bởi một huấn luyện viên ở Broadway khi cô ở tuổi vị thành niên. Cô bắt đầu đóng vai phụ trong phim truyền hình chiếu vào buổi sáng Guiding Light.[14] Từ năm 2000 đến 2001, cô đã đóng vai Lucy Montgomery trong loạt phim As the World Turns của đài CBS.[14] Cô thủ vai Joni Stafford trong phim All My Children của đài ABC từ 2002 đến 2003.[15]

Năm 2003, Seyfried tham gia thử vai cho vai diễn Regina George trong Mean Girls; vai diễn này cuối cùng được giao cho nữ diễn viên Rachel McAdams. Mặc dù ban đầu Seyfried được nhắm đến cho vai diễn chính Cady Heron trong phim, sau này vai diễn được thay thế bởi Lindsay Lohan, nhà sản xuất phim quyết định rằng Seyfried nên vào vai Karen Smith, một người bạn mờ nhạt của Regina.[14][16] Bộ phim là một sự thành công và kiếm được hơn 129 triệu đô la Mỹ trong phòng vé.[17] Phần diễn xuất của Seyfried trong phim giúp cô, cùng với Lohan, Lacey Chabert, và McAdams giành giải thưởng MTV Movie Award ở hạng mục "Nhóm xuất sắc nhất trên màn ảnh".[18] Seyfried tham gia thử vai cho vai diễn chính trong phim truyền hình Veronica Mars của đài UPN.[14] Nhưng vai diễn cuối cùng được giao cho Kristen Bell, và Seyfried thủ vai người bạn thân bị sát hại của Veronica, Lilly Kane.[14] Vai diễn cuản cô chỉ xuất hiện trong phần hồi tưởng.[14] Người sáng lập bộ phim, Rob Thomas, thấy rằng diễn xuất của Seyfried trong vai Lilly Kane rất nổi bật, đến nỗi anh đã cho nhân vật của cô xuất hiện nhiều lần hơn trong phim, khác với kế hoạch ban đầu của anh trong mùa đầu tiên.[19] Seyfried xuất hiện trong 10 tập phim từ năm 2004 đến 2005.[15]

Năm 2005, Seyfried vào vai chính, Samantha, một vai được viết đặc biệt dành riêng cho cô bởi đạo diễn Rodrigo García, trong bộ phim chín phần Nine Lives, gồm chín bộ phim ngắn với các chủ đề khác nhau với cùng một dàn diễn viên.[20] Với diễn xuất của mình, Seyfried cùng với những vai nữ chính khác trong phim, thắng giải thưởng Nữ diễn viên xuất sắc nhất tại Locarno International Film Festival.[21] Cùng năm đó cô vào vai phụ, Mouse, trong phim American Gun.[15] Năm 2006, Seyfried xuất hiện trong năm tập phim của Wildfire trong vai Rebecca và có một vai diễn chính Chrissy trong phhim ngắn Gypsies, Tramps & Thieves, viết bởi đạo diễn Andrea Janakas. Seyfried cũng đóng một vai nhỏ Julie Beckley trong Alpha Dog. Từ năm 2004 đến 2006 Seyfried xuất hiện như vai diễn khách mời trong các bộ phim bao gồm House, M.D., Justice, Law & Order: Special Victims Unit, American Dad! and CSI: Crime Scene Investigation.[14]

Đột phá (2006-2011)[sửa | sửa mã nguồn]

Tên tuổi của Seyfried nổi bật nhờ vai diễn trong bộ phim truyền hình dài tập Big Love của đài HBO. Loạt phim này tập trung vào một gia đình Mormon theo thuyết chính thống, trong đó Seyfried đóng vai Sarah Henrickson, con gái đầu của Bill và Barb, người đấu tranh với đức tin đa thê của gia đình.[22] Big Love ra mắt ở Mỹ vào ngày 12 tháng 3 năm 2006. Trong tháng 12 năm 2009, HBO xác nhận rằng Seyfried sẽ trở lại vào mùa thứ tư của bộ phim, nhưng đó sẽ là lần xuất hiện cuối cùng của cô trong phim, vì Seyfried muốn tập trung vào sự nghiệp điện ảnh và các dự án sắp tới của cô.[23]

Seyfried trong buổi ra mắt phim Mamma Mia! (2008) với bốn thành viên của nhóm nhạc ABBA lần đầu chụp ảnh cùng nhau kể từ năm 1986.

Theo sau Big Love Seyfried có những vai diễn phụ như Zoe, trong bộ phim kinh dị Solstice năm 2008, cô cũng diễn cùng với diễn viên Meryl Streep trong bộ phim nổi tiếng Mamma Mia!, một bộ phim hài tình cảm được làm lại dựa trên bộ phim âm nhạc cùng tên năm 1999.[24] Sophie trong Mamma Mia! là vai diễn chính đầu tiên trên màn ảnh rộng của Seyfried. Bộ phim có doanh thu cao thứ năm vào năm 2008,[25] và đến tháng 1 năm 2013 bộ phim trở thành phim có doanh thu cao thứ 73 của mọi thời đại.[26] Phần trình diễn âm nhạc của cô trong Mamma Mia! được phát hành trong nhạc nền của bộ phim, trong đó cô thu âm 5 bài hát.[27] Trong phần quảng bá cho cả bộ phim và nhạc nền, Seyfried đã thu âm một video âm nhạc của bài hát "Gimme! Gimme! Gimme! (A Man After Midnight)".

Tháng 3 năm 2008, Seyfried được mời tham gia bộ phim kinh dị hài Jennifer's Body.[28] Trong bộ phim Seyfried đóng vai Anita "Thiếu thốn" Lesnicki, bạn thân của nhân vật chính. Cô cũng xuất hiện trong video âm nhạc của Panic! At The Disco "viễn cảnh mới," một bài hát từ bộ phim.[28] Bộ phim, được công chiếu tại Liên hoan phim Quốc tế Toronto năm 2009 và được phát hành vào rạp chiếu phim vào ngày 18 tháng 9 năm 2009,[29] đã nhận được sự đánh giá trái chiều từ các nhà phê bình.[30] Cùng năm đó cô được mời tham gia bộ phim Boogie Woogie. Cô đóng vai Paige Oppenheimer, một trong những vai chính trong bộ phim. Bộ phim đã được chiếu vào ngày 26 tháng 6 năm 2009 tại Liên hoan phim quốc tế Edinburgh và chính thức được chiếu ở các rạp ở Hoa Kỳ vào ngày 25 tháng 4 năm 2010.[31] Ngày 22 tháng 2 năm 2009, Seyfried đã giới thiệu một giải thưởng và biểu diễn tại lễ trao giải Academy Awards lần thứ 81.[32] Vào đầu tháng 3 năm 2009 đạo diễn Zack Snyder đã mời Seyfried vào vai chính, Baby Doll, trong Sucker Punch,[33] nhưng cô đã từ chối vì lịch quay phim trùng với Big Love.[34][35]

Amanda Seyfried, tại buổi ra mắt phim Chloe tại Roy Thompson Hall ngày 13 tháng 9 năm 2009

Seyfried đóng vai chính bên cạnh Channing Tatum trong Dear John, bộ phim chuyển thể của cuốn tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Nicholas Sparks.[36][37] Bộ phim đã được phát hành vào ngày 5 tháng 2 năm 2010 và nhận được những nhận xét trái chiều.[36][37] Seyfried đã viết và thu âm "Little House", bài hát là một trong những bản nhạc chính thức của Dear John.[38] Mặc dù nhận được nhận xét tiêu cực từ giới phê bình, Dear John đã trở thành bộ phim đầu tiên phá vỡ vị trí quán quân của phim Avatar ở Mỹ và thu về 80 triệu USD ở Mỹ và 115 triệu USD trên toàn thế giới.[39][40]

Seyfried xuất hiện với tư cách là nhân vật chính trong bộ phim kinh dị gợi cảm Chloe, được hãng phim Sony Pictures Classics phát hành vào ngày 26 tháng 3 năm 2010.[41] Chloe ra mắt tại Liên hoan phim Toronto vào tháng 9 năm 2009.[42] Trong bộ phim, nhân vật của Seyfried là một cô gái mại dâm được tuyển dụng để thử lòng người chồng, bởi vì vợ ông cảm thấy rằng bà không thể tin tưởng vào sự trung thành của ông.[42] Chloe rất thành công trong thương mại và trở thành bộ phim kiếm được nhiều tiền nhất của đạo diễn Atom Egoyan.[43] Diễn xuất của Seyfried trong phim cũng nhận được những lời nhận xét rất tích cực từ các nhà phê bình; Nó cũng đã giúp cô nhận được sự hoan nghênh của ngành công nghiệp điện ảnh và nhận được nhiều cơ hội với nhiều vai diễn khác nhau.[44]

Các phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim
Năm Phim Vai diễn Ghi chú
2004 Mean Girls Karen Smith Vai diễn phụ; Bộ phim đầu tay
2005 Nine Lives Samantha Vai diễn chính
American Gun Mouse Vai diễn phụ
2006 Alpha Dog Julie Beckley Vai diễn phụ
Gypsies, Tramps & Thieves Chrissy Vai diễn chính; phim ngắn
2008 Solstice Zoe Vai diễn phụ; video trực tiếp
Mamma Mia! Sophie Sheridan Vai diễn chính
Official Selection Emily Vai diễn vị thành niên; phim ngắn
2009 Boogie Woogie Paige Prideaux Vai diễn chính
Jennifer's Body Anita "Needy" Lesnicki Vai diễn chính
2010 Dear John Savannah Lynn Curtis Vai diễn chính
Chloe Chloe Vai diễn chính
Letters to Juliet Sophie Vai diễn chính; post-production
2011 In Time Sylvia Weis Vai diễn chính
Red Riding Hood Valerie Vai diễn chính
2012 Gone Jillian "Jill" Conway Vai diễn chính
A Woman of No Importance Hester Worsley Vai diễn chính; trước sản xuất
Les Misérables Cosette Vai diễn chính
2013 Epic Marry Katherine - M.K Vai diễn chính; Lồng tiếng
2015 Ted 2 Samantha Leslie "Sam L." Jackson Vai diễn chính
Truyền hình
Năm Tiêu đề Vai diễn Ghi chú
2000–2001 As the World Turns Lucinda Marie "Lucy" Montgomery #2 Vai diễn định kỳ (27 tập)
2002–2003 All My Children Joni Stafford Tập: #1.8514
#1.8517
#1.8617
2004 Law & Order: Special Victims Unit Tandi McCain Tập: "Outcry"
2004–2005 Veronica Mars Lilly Kane Vai diễn định kỳ (10 Tập)
2005 House M.D. Pam Tập: "Detox"
2006 Justice Ann Diggs Tập: "Pretty Woman"
Wildfire Rebecca Tập: "A Good Convict Is Hard to Find"
"Dangerous Liaisons"
"Family Matters"
"Nothing Takes the Past Away Like the Future"
"Taking Off"
CSI: Crime Scene Investigation Lacey Finn Tập: "Rashomama"
2006–2010 Big Love Sarah Henrickson Vai chính (35 tập)
2008 American Dad! Amy Tập: "Escape from Pearl Bailey"

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Amanda Seyfried Exclusive: My Name's Not 'Siegfried'. Hollywood.com. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2017. 
  2. ^ “Amanda Seyfried Is A Songwriter”. 
  3. ^ “Amanda Seyfried”. TVGuide.com. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2015. 
  4. ^ Backrach, Judy (tháng 9 năm 2009). “Wide Eyed Girl”. Allure. 
  5. ^ Backrach, Judy (tháng 9 năm 2009). “Wide Eyed Girl”. Allure. 
  6. ^ Longsdorf, Amy (13 tháng 7 năm 2008). 'It's just so RIDICULOUS.' ** With a star turn in 'MAMMA MIA!' Allentown native AMANDA SEYFRIED has sung her way onto the HOLLYWOOD A-LIST. She talks about her exciting life”. The Morning Call (Allentown, Pennsylvania). Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2010. 
  7. ^ “Amanda Seyfried wears her BODYAMR Interview On Live With Regis &amp Kelly 05142010.flv”. 
  8. ^ “Ethnicity: German, Scotch-Irish, English”. 
  9. ^ “Amanda Seyfried: From Soaps To Big Screen Stardom”. 
  10. ^ 'I'm just so open about things at this point in my life – and that can get you into trouble'. 
  11. ^ a ă Backrach, Judy (tháng 9 năm 2009). “Wide Eyed Girl”. Allure. 
  12. ^ “Amanda Seyfried biography”. People. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2015. 
  13. ^ Interview with David Letterman. The Letterman Show. January 2010
  14. ^ a ă â b c d đ “Amanda Seyfried Profile”. AskMen.com. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010. 
  15. ^ a ă â “Amanda Seyfried”. IMDb.com. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010. 
  16. ^ “Mean Girls (2004)”. 
  17. ^ “Mean Girls (2004)”. BoxOfficeMojo.com. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010. 
  18. ^ “Mean Girls (2004): Awards”. IMDb.com. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010. 
  19. ^ http://www.slaverats.com/files/DVD_Commentary.mp3
  20. ^ Michael J. Lee (21 tháng 6 năm 2005). “Amanda Seyfried on 'Nine Lives'. Movies. RadioFree.com. Radio Free Entertainment. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2010. 
  21. ^ “Nine Lives: Awards”. IMDb.com. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2010. 
  22. ^ Rebecca Dana (12 tháng 3 năm 2006). “Raise the Red-State Lantern”. New York Observer. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2010. 
  23. ^ Jennifer Godwin (18 tháng 12 năm 2009). “This Just In: Amanda Seyfried Says Bye to Big Love”. E! Online. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010. 
  24. ^ Lina Das (18 tháng 6 năm 2008). 'I'm just so open about things at this point in my life – and that can get you into trouble'. Daily Mail (UK). Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010. 
  25. ^ “Mamma Mia! (2008)”. Box Office Mojo. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2010. 
  26. ^ “Box Office Mojo – All Time Worldwide Box Office”. Box Office Mojo. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2010. 
  27. ^ “Mamma Mia! [Soundtrack]”. Amazon.com. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2010. 
  28. ^ a ă Borys Kit; Leslie Simmons (8 tháng 2 năm 2008). “Seyfried in 'Body' cast”. The Hollywood Reporter. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  29. ^ Jennifer Kwan (14 tháng 9 năm 2009). “Cody exorcises demons from "Jennifer's Body". Thomas Reuters. Reuters. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010. 
  30. ^ “Jennifer's Body”. RottenTomatoes.com. 21 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010. 
  31. ^ “Boogie Woogie (2009)”. 
  32. ^ “81st Annual Academy Awards”. IMDb. IMDB Inc. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010. 
  33. ^ 'Watchmen' director goes for 'Sucker Punch'. Zap2it. 4 tháng 3 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  34. ^ Backrach, Judy (tháng 9 năm 2009). “Wide Eyed Girl”. Allure. 
  35. ^ Nicole Sperling (23 tháng 3 năm 2009). “Amanda Seyfried out of Zack Snyder's 'Sucker Punch'. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010. 
  36. ^ a ă Schwartz, Terri (1 tháng 1 năm 2010). “So Long 2009! Here Are The Top 10 Movies And TV Shows We're Most Looking Forward To In 2010”. Viacom. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2010. 
  37. ^ a ă “Dear John”. IMDb. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010. 
  38. ^ “Dear John — Original Motion Picture Soundtrack”. DearJohnSoundtrack.com. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2010. 
  39. ^ Gray, Brandon (8 tháng 2 năm 2010). “Weekend Report: ‘Dear John’ Delivers, ‘Avatar’ Flies High Again”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2010. 
  40. ^ “Dear John”. Box Office Mojo. IMDb Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2010. 
  41. ^ “Chloe”. Box Office Mojo. IMDb Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2010. 
  42. ^ a ă Sharon Swart (8 tháng 10 năm 2009). “Sony seduced by 'Chloe'. Variety. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010. 
  43. ^ Pevere, Geoff (7 tháng 12 năm 2010). “The Digital Revolution: Part 1”. The Star (Toronto). 
  44. ^ Barshad, Amos (30 tháng 7 năm 2012). “Star Market: Can Amanda Seyfried Live Out a Hollywood Fairy Tale? - Vulture”. Nymag.com. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]