August von Mackensen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
August von Mackensen
August von Mackensen fieldmarshal.jpg
Tiểu sử
Biệt danh Người lính khinh kỵ cuối cùng
Sinh

6 tháng 12, 1849(1849-12-06)

Haus Leipnitz, Sachsen, Phổ
Mất

8 tháng 11, 1945 (95 tuổi)

Habighorst, Hannover, Đức[1]
Binh nghiệp
Phục vụ  Vương quốc Phổ
 Đế quốc Đức
Thuộc Lục quân Đế quốc Đức
Năm tại ngũ 18691919
Cấp bậc Thống chế
Chỉ huy Tập đoàn quân số 11
Cụm Tập đoàn quân Mackensen
Tham chiến Chiến tranh Pháp-Phổ
Chiến tranh thế giới thứ nhất
Khen thưởng Thập tự Xanh
Đại Thập tự Huân chương Thập tự Sắt
Huân chương Đại bàng đen
Gia đình Eberhard von Mackensen (con)
Chữ ký Chữ ký của August von Mackensen

August von Mackensen, tên khai sinh là Anton Ludwig Friedrich August Mackensen (6 tháng 12 năm 18498 tháng 11 năm 1945) là một Thống chế quân đội Đức thời kỳ đế quốc. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Mackensen tham gia chỉ huy lực lượng Đức trên mặt trận Đông-Nam Âu, kinh qua các chức vụ Tư lệnh Quân đoàn XVII, Tư lệnh Tập đoàn quân số 9 (1914 – 1915), Tư lệnh Tập đoàn quân số 11, Tư lệnh Cụm Tập đoàn quân Mackensen (1915 – 1916) và Tư lệnh quân đội Đức tại Balkan (1916 – 1918). Mackensen được xem là một trong những tướng đánh trận hay nhất của Lục quân Đế quốc Đức, đã lập nên nhiều chiến thắng lớn ở Đông Phổ, Ba Lan thuộc NgaBalkan mà tiêu biểu là chiến dịch Gorlice-Tarnów (1915), chiến dịch Serbia (1915) và chiến dịch România (1916).[1] Sau khi đế quốc Đức sụp đổ, Mackensen giải ngũ vào năm 1920 và vẫn kiên định với lập trường bảo hoàng của mình trong thời kỳ Đảng Quốc xã cầm quyền tại Đức. Điều này làm chính quyền Quốc xã nghi kỵ Mackensen là người bất đồng chính kiền, song họ không dám làm gì đến ông.[2]

Sự nghiệp ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Mackensen sinh ra ở Haus Leipnitz gần làng Dahlenberg (nay thuộc đô thị Trossin), trong một gia đình trung lưu khá giả ở tỉnh Sachsen (Phổ). Ông xung phong nhập ngũ trong Trung đoàn Khinh kỵ binh Hộ vệ 2 (Phổ) vào ngày 1 tháng 10 năm 1869, và tham chiến trong Chiến tranh Pháp Phổ 1870-71. Trong cuộc chiến này Mackensen đã được phong cấp Thiếu úy và lãnh thưởng Huân chương Thập tự Sắt hạng 2 vì thực hiện tốt các hoạt động trinh sát sau lưng phòng tuyến quân Pháp phía bắc Orléans.[3][1] Sau khi chiến tranh chấm dứt, Mackensen rời quân ngũ và nhập học Đại học Halle (Sachsen-Anhalt), nhưng đến tháng 4 năm 1873 ông tái ngũ với Trung đoàn Khinh kỵ binh Hộ vệ 2. Năm 1879, Mackensen kết hơn với Doris (Dorothea) von Horn, con gái Tổng đốc Đông Phổ Karl von Horn và là em gái một đồng đội của Mackensen đã chết trong chiến tranh chống Pháp. Hai người có với nhau 2 con gái và 3 con trai.[4]

Năm 1891 Mackensen được đặc cách phân công vào Bộ Tổng tham mưu mà không cần phải học 3 năm ở Học viện Quân sự Potsdam. Tại Bộ Tổng tham mưu, Mackensen được thăng cấp đại úy và được phân công vào bộ phận nghiên cứu tình hình Nga, Áo-HungBalkan.[5] Trong một cuộc hội kiến vào tháng 2 năm 1891, Mackensen đã được Thống chế nguyên Tổng tham mưu trưởng Helmuth von Moltke nhận xét là "một con người dễ mến".[4] Cùng năm đó, Mackensen được cử làm trợ lý cho tân Tổng tham mưu trưởng - Thượng tướng Bộ binh Alfred von Schlieffen.[1] Trong những lần tháp tùng Schlieffen đi huấn luyện thực địa cho cán bộ tham mưu, Mackensen đã gây ấn tượng tích cực với Hoàng đế Wilhelm II.[1] Ngày 17 tháng 6 năm 1893, Wilhelm phân công Mackensen làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Khinh kỵ binh Hộ vệ 1. Các thành tích của Mackensen trong việc chỉ huy, chỉ đạo trung đoàn đã khiến Wilhelm II càng ưu ái ông hơn, và đến ngày 27 tháng 1 năm 1898 Mackensen được triệu về kinh đô làm trợ lý cá nhân của hoàng đế.[6][5] Ông là người bình dân (không phải quý tộc) đầu tiên được thọ lãnh chức vụ này. Ngày 27 tháng 1 năm 1899, nhân dịp "tứ tuần đại khánh" của Wilhelm II, Mackensen được nhà vua phong hàm quý tộc và từ đấy ông mang tên August von Mackensen.[7] Tiếp theo đó Mackensen đảm nhiệm chức Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Kỵ binh Hộ vệ từ năm 1901 đến năm 1903, rồi từ lên chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn 36 đóng tại Danzig (nay thuộc Ba Lan) từ năm 1903 đến năm 1908.[8]

Năm 1905, vợ Mackensen là Horn chết; hai năm sau, ông kết hôn với Leonie von der Osten khi người này mới 22 tuổi. Khi Schlieffen về hưu (1906), Mackensen được coi là người có tiềm năng kế nhiệm chức Tổng tham mưu trưởng, nhưng chức vụ này sau cùng đã thuộc về Đại tướng Helmuth von Moltke – cháu của cố Thống chế von Moltke được nêu trong đoạn trên. Năm 1908 Mackensen (bấy giờ đã leo đến cấp Thượng tướng Kỵ binh) lãnh chức Tư lệnh Quân đoàn XVII đóng sở chỉ huy tại thành phố Danzig , tỉnh Tây Phổ.[9] Thái tử Wilhelm - trưởng tử của hoàng đế khi ấy là một quân nhân tại ngũ trong Quân đoàn XVII, nên nhà vua đã chỉ thị cho Mackensen quan tâm sát sao thái tử và dạy cho cậu ta cưỡi ngựa thuần thục.[10]

Chiến tranh thế giới thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa thu năm 1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Trong suốt 2 năm rưỡi theo sau đó, Mackensen tham gia chỉ huy quân đội Đức trong hầu hết các chiến dịch lớn trên Mặt trận Đông Âu. Thoạt tiên, Mackensen lãnh đạo Quân đoàn XVII chiến đấu ở Đông Phổ trong đội hình Tập đoàn quân số 8 vào tháng 8 – 9 năm 1914. Quân Mackensen bị quân Nga đánh thảm bại trong trận mở màn tại Gumbinnen ngày 20 tháng 8 năm 1914, và phải tháo chạy về sông Wisla cùng toàn bộ Tập đoàn quân số 8. Nhưng Mackensen đã sớm hồi phục khỏi cú sốc bại trận này, sau đó ông hành quân gấp rút xuống hướng nam để tham gia bao vây, tiêu diệt Tập đoàn quân số 2 (Nga) của tướng Aleksandr V. Samsonov gần Tannenberg. Sau nhiều ngày hành quân không ngơi nghỉ (chỉ riêng trong ngày 25 tháng 8, Quân đoàn XVII đã vượt qua một lộ trình dài đến 48 km), ngày 29 tháng 8 quân Mackensen đã chiếm lĩnh được những vị trí thuận lợi mà từ đó họ có thể khóa chặt đường rút sang hướng đông của Tập đoàn quân số 2 (Nga). Trong 2 ngày tới, Mackensen và Quân đoàn XVII đã đập tan hàng loạt đợt phản kích của quân Nga, và đến ngày 1 tháng 9 trận Tannenberg khép lại với chiến thắng toàn diện của Tập đoàn quân số 8 (Đức), với hơn 90.000 sĩ quan, binh sĩ Nga bị bắt làm tù binh. Quân đoàn XVII bắt được 25.000 quân Nga và đây là quân đoàn thu được nhiều tù binh nhất trong đội hình Tập đoàn quân số 8 (Đức).[11][1]

Mackensen trong quân phục khinh kỵ binh Phổ

Sau trận đánh Tannenberg, quân đoàn Mackensen được thuyên chuyển sang Tập đoàn quân số 9 tân lập tại Thượng Schliesen cuối tháng 9 năm 1914. Thống chế Paul von Hindenburg - Tư lệnh Tập đoàn quân số 9 bấy giờ lên kế hoạch đánh chiếm Warszawa, thủ phủ của Ba Lan thuộc Nga. Để thực thi chiến dịch này, Mackensen được chỉ định vừa chỉ huy Quân đoàn XVII, vừa chỉ đạo Quân đoàn XX và một lực lượng hỗn tạp mang tên Đoàn Frommel (gồm các Sư đoàn Kỵ binh 8, Dự bị 35 và Vệ binh quốc gia 18). Mackensen khởi động tấn công các chốt quân Nga gần Warszawa vào ngày 9 tháng 10. Ban đầu binh đoàn Mackensen đạt được một số thắng lợi, nhưng sau đó các mũi tiến công của Mackensen cùng với toàn bộ Tập đoàn quân số 9 đã bị khựng lại vào ngày 15 tháng 10. Quân Nga chuyển sang phản kích buộc quân Đức phải vội vã rút chạy về Schliesen; kế hoạch thôn tính Warszawa bị phá sản.[11]

Tháng 11 năm 1914, Hoàng đế Đức Wilhelm II thăng chức cho Hindenburg làm Tổng tư lệnh Mặt trận Đông Âu. Nhậm chức xong, Hindenburg thỉnh cầu hoàng đế cử Mackensen thay ông ta chỉ huy Tập đoàn quân số 9, và được Wilhelm chấp thuận. Tháng 11 năm 1914, tân Tư lệnh Tập đoàn quân số 9 Mackensen tổ chức trận tấn công Łódź, một trung tâm công nghiệp dệt may của Ba Lan thuộc Nga và cũng là cơ sở liên lạc quan trọng của quân đội Nga. Quân Nga đã chặn được đà tiến công của Mackensen và phản công đánh bật quân Đức về sông Bzura. Nhưng sau đó, Bộ Tổng tham mưu điều quân từ chiến trường Tây Âu sang chi viện cho Mackensen, khiến ông giành lại được thế chủ động. Quân Đức cuối cùng đã chinh phục được Łódź vào ngày 6 tháng 12 năm 1914. Đây là thắng lợi đầu tiên của Mackensen trên cương vị chỉ huy cấp tập đoàn quân, và nó đã làm cho ông được suy tôn như một anh hùng nước Đức thời bấy giờ.[11]. Mackensen lãnh thưởng Thập tự Xanh (Pour le Mérite), phần thưởng quân sự cao quý nhất của Phổ vào ngày 27 tháng 11 và được thăng cấp hàm Đại tướng ngày 27 tháng 12 năm 1914.[12]

Người Nga tuy thua Đức tại Tannenberg và Łódź nhưng liên tục đánh bại quân đội Áo-Hung (đồng minh của Đức) ở Đông Nam Âu. Tháng 4 năm 1915, quân đội Nga đã thôn tính toàn bộ khu vực phía tây Galicia (Ba Lan thuộc Áo), biến nơi đây thành bàn đạp xâm chiếm Hungary. Bộ Tổng tham mưu Áo-Hung khẩn thiết cầu viện Đức, và Tổng tham mưu trưởng Đức Erich von Falkenhayn quyết định tung một binh đoàn liên hợp Đức-Áo hùng mạnh do một tướng Đức chỉ huy đánh phá sườn phải quân Nga tại khu vực Gorlice-Tarnów đặng trục xuất người Nga khỏi biên giới Hungary và Galicia. Để thực hiện ý đồ này, Falkenhayn xây dựng Tập đoàn quân số 11 (Đức) - gồm 4 quân đoàn Đức, 1 quân đoàn Áo-Hung và 2 sư đoàn Đức tác chiến độc lập tại Galicia, và lấy tập đoàn quân này làm mũi nhọn xung kích trong chiến dịch sắp tới. Do khả năng xử sự khéo của Mackensen, các tổng tham mưu trưởng Đức, Áo-Hung nhất trí bổ nhiệm ông làm Tư lệnh Tập đoàn quân số 11.[13] Falkenhayn cũng điều Đại tá Hans von Seeckt, một sĩ quan tham mưu tài năng từ mặt trận Tây Âu sang làm Tham mưu trưởng Tập đoàn quân số 11. Mackensen và Seeckt làm việc rất ăn ý; trong hồi ký của mình Seeckt đã khen ngợi Mackensen là người tinh thông lý thuyết quân sự và khéo biết áp dụng vào việc dùng binh.[14] Sau khi trinh sát kỹ địa hình và xác định các kẽ hở trong phòng tuyến Nga, Mackensen phát động chiến dịch tấn công Gorlice-Tarnów vào ngày 2 tháng 5: thoạt tiên, ông tập trung đại bác oanh kích trận địa đối phương suốt 4 giờ đồng hồ, phá sập hệ thống công sự bộ binh Nga và chế áp pháo binh Nga; kế đến, Mackensen xua bộ binh ào lên đánh nát các tuyến phòng thủ và đè bẹp mọi đợt phản kích của quân Nga.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d David T. Zabecki, Germany at War: 400 Years of Military History, các trang 808-809.
  2. ^ Norman J. W. Goda, "Black Marks: Hitler's Bribery of His Senior Officers during World War II", in The Journal of Modern History, Vol. 72, No. 2. (June, 2000), 430–432.
  3. ^ Schwartzmüller, Theo (1997). Zwischen Kaiser und "Führer". Generalfeldmarschall August von Mackensen. Paderborn: Ferdinand Schöningh. tr. 34. 
  4. ^ a ă Schwarzmüller, 1997, p. 49.
  5. ^ a ă DiNardo, 2015, trang 39
  6. ^ Günter Wegner, Stellenbesetzung der deutschen Heere 1815-1939 (Biblio Verlag, Osnabrück, 1993), vol. 3, pp. 97–98.
  7. ^ Schwarzmüller, 1997, p.6 5.
  8. ^ Wegner, 1993, p. 131 and p. 463.
  9. ^ Wegner, 1993, p. 80.
  10. ^ Jonas, Klaus W (1961). The life of Crown Prince William. London: Routledge and Kegan. tr. 70. 
  11. ^ a ă â DiNardo, 2011, các trang 135-136.
  12. ^ Ronald Pawly, The Kaiser's Warlords: German Commanders of World War I, các trang 49-53.
  13. ^ Schwarzmüller, 1997, p. 105.
  14. ^ DiNardo 2010, các trang 41-42.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cecil, Lamar. "The Creation of Nobles in Prussia, 1871-1918." In The American Historical Review, Vol. 75, No. 3. (Feb., 1970), pp. 757–795.
  • DiNardo, Richard L. Breakthrough: The Gorlice-Tarnow Campaign, 1915: The Gorlice-Tarnow Campaign, 1915. ABC-CLIO, 2010.
  • DiNardo, Richard L. "Modern Soldier in a Busby: August von Mackensen". In Neiberg, Michael S. (ed.), Arms and the Man: Military History Essays in Honor of Dennis Showalter. BRILL, 2011.
  • DiNardo, Richard L. Invasion: The Conquest of Serbia, 1915. ABC-CLIO, 2015.
  • Foley, Robert. German Strategy and the Path to Verdun. Cambridge University Press, 2004.
  • Goda, Norman J. W. "Black Marks: Hitler's Bribery of His Senior Officers during World War II." In The Journal of Modern History, Vol. 72, No. 2. (June, 2000), 413-452.
  • Hedin, Sven. Große Männer denen ich begegnete, Zweiter Band, Wiesbaden, F.A. Brockhausen, 1953.
  • Mombauer, Annika. Helmuth von Moltke and the Origins of the First World War. Cambridge University Press, 2001.
  • Schwarzmüller, Theo. Zwischen Kaiser und "Führer." Generalfeldmarschall August von Mackensen. Eine politische Biographie. Munich: Deutscher Taschenbuch Verlag, 1995.
  • Silberstein, Gerard E. "The Serbian Campaign of 1915: Its Diplomatic Background." In The American Historical Review, Vol. 73, No. 1. (October, 1967), pp. 51–69.
  • Hausser Elastolin Spielzeug 1939-40' (toy catalog)
  • Die Deutsche Wochenschau 12. januar 1944 Danish language version. 2:42 min: celebration of 95th birthday of August von Mackensen on ngày 6 tháng 12 năm 1944.