Beatrix của Hà Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Beatrix của Hà Lan
Nữ vương Beatrix vào năm 2023
Nữ vương Hà Lan
Tại vị30 tháng 4 năm 1980-
30 tháng 4 năm 2013
(33 năm, 0 ngày)
Tấn phong30 tháng 4 năm 1980
Thủ tướngDries van Agt
Ruud Lubbers
Wim Kok
Jan Peter Balkenende
Mark Rutte
Tiền nhiệmJuliana Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệmWillem-AlexanderVua hoặc hoàng đế
Thông tin chung
Sinh31 tháng 1, 1938 (86 tuổi)
Cung điện Soestdijk, Baarn, Hà Lan
Phối ngẫuKlaus xứ Amsberg
Hậu duệWillem-Alexander, Quốc vương Hà LanVua hoặc hoàng đế

Friso, Vương tử Hà Lan

Constantijn, Vương tử Hà Lan
Tên đầy đủ
Beatrix Wilhelmina Armgard
Vương tộcNhà Oranje-Nassau
Nhà Lippe (họ nội)
Nhà Amsberg (hôn nhân)
Thân phụBernhard xứ Lippe-Biesterfeld
Thân mẫuJuliana của Hà Lan Vua hoặc hoàng đế
Rửa tội12 tháng 5 năm 1938
Nhà thờ Lớn, Den Haag, Hà Lan
Tôn giáoGiáo hội Tin lành Hà Lan
Chữ kýChữ ký của Beatrix của Hà Lan

Beatrix I của Hà Lan (Beatrix Wilhelmina Armgard, sinh ngày 31 tháng 1 năm 1938) là Nữ vương của Vương quốc Hà Lan bao gồm Hà Lan, Curaçao, Sint MaartenAruba. Bà là con trưởng của Nữ vương JulianaBernhard xứ Lippe-Biesterfeld. Bà từng theo học ngành luật tại Đại học Leiden. Năm 1966, bà kết hôn với Klaus xứ Amsberg và có với nhau có ba người con: Vương tử Willem-Alexander (sinh 1967), Vương tử Friso (sinh 1968), và Vương tử Constantijn (sinh 1969). Khi mẫu thân của bà, Nữ vương Juliana thoái vị ngày 30 tháng 4 năm 1980, Beatrix kế vị ngôi Nữ vương của Hà Lan. Năm 2002, Vương tế Claus qua đời. Vào ngày 28 tháng 1 năm 2013, qua một cuộc phỏng vấn qua trên truyền hình, bà tuyên bố sẽ thoái vị để nhường ngôi lại cho con trai mình là Vương tử Willem-Alexander vào ngày 30 tháng 4 năm 2013. Ông trở thành vị nam quân chủ đầu tiên của Hà Lan trong suốt 123 năm qua.

Thiếu thời[sửa | sửa mã nguồn]

Công chúa Beatrix vào tháng 2 năm 1938 với cha mẹ là Vương nữ JulianaThân vương tử Bernhard

Vương tôn nữ Beatrix Wilhelmina Armgard của Hà Lan, Vương tôn nữ Oranje-Nassau, Thân vương nữ Lippe-Biesterfeld, sinh vào ngày 31 tháng 1 năm 1938 tại cung điện Soestdijk ở Baarn, Hà Lan. Bà là con gái đầu lòng của Juliana của Hà Lan và nhà quý tộc Đức Bernhard xứ Lippe-Biesterfeld.[1] Beatrix được rửa tội vào ngày 5 tháng 12 năm 1938 tại nhà thờ LớnDen Haag.[2] Cha mẹ đỡ đầu của cô là Vua Léopold III của Bỉ, Vương tôn nữ Alice, Bá tước phu nhân xứ Athlone, Elisabeth, Công chúa xứ Erbach-Schönberg, Công tước Adolf Friedrich xứ Mecklenburg và nữ Bá tước Allene de Kotzebue.[3] Tên đệm của Beatrix là tên đầu tiên của bà ngoại bà, sau đó là đương kim Nữ vương Wilhelmina của Hà Lan, và bà nội bà, Armgard của Sierstorpff-Cramm.

Năm 1939, khi Beatrix được một tuổi, em gái của bà là Vương nữ Irene ra đời.[1]

Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra ở Hà Lan ngày 10 tháng 5 năm 1940 (Trận chiến nước Pháp). Vào ngày 13 tháng 5, gia đình Vương thất Hà Lan sơ tán tới London, Vương quốc Anh. Một tháng sau, Beatrix đi đến Ottawa, Ontario, Canada với mẹ và em gái Irene của bà, trong khi cha bà và bà ngoại là Nữ vương Wilhelmina ở lại London.[1] Gia đình sống tại dinh thự Stornoway (là nơi ở của Lãnh tụ phe đối lập trong Quốc hội Canada).[4]

Em gái thứ hai của Beatrix, Vương tôn nữ Margriet được sinh ra tại Ottawa vào năm 1943.[1] Trong thời gian sống lưu vong ở Canada, Beatrix học tiểu học[5] tại Trường Công Lập Rockcliffe Park, một trường tiểu học nơi bà đã được biết đến với biệt danh "Trixie da cam".[6][7]

Vào ngày 5 tháng 5 năm 1945, quân đội Đức ở Hà Lan đầu hàng. Gia đình hoàng gia trở về Hà Lan vào ngày 2 tháng 8 năm 1945. Lúc này, Beatrix tiếp tục học tiểu học tại trường De Werkplaats ở Bilthoven. Em gái thứ ba của bà là Vương tôn nữ Christina ra đời vào năm 1947.[1] Ngày 6 tháng 9 năm 1948, mẹ của bà, Vương nữ Juliana đã kế nhiệm ngôi vị quân chủ Hà Lan từ bà ngoại của bà là Nữ vương Wilhelmina để trở thành Nữ vương của Hà Lan, và Beatrix đã trở thành người thừa kế số một ngôi vị quân chủ Hà Lan lúc mới 10 tuổi.

Ảnh hưởng văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Tên của Nữ vương Beatrix đã được đặt cho một số nơi ở Hà Lan và ngoài Hà Lan:

  • Streekziekenhuis Koningin Beatrix, bệnh viện khu vực ở Beatrixpark, Winterswijk.[8]
  • Sân bay Quốc tế Nữ vương Beatrix ở Aruba.
  • Trường Reina Beatrix ở Aruba.[9]
  • Bệnh viện Trung tâm Y tế Nữ vương Beatrix, Sint Eustatius.[10]
  • Queen Beatrix Chair in Dutch Studies at UC Berkeley [11]
  • Queen Beatrix Nursing Home, Albion Park Rail, NSW, Australia.[12]

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Sinh Mất Hôn nhân
Ngày Vợ hay chồng Con cái
Vua Willem-Alexander 27 tháng 4 năm 1967 2 tháng 2 năm 2002 Máxima Zorreguieta
Vương tử Friso 25 tháng 9 năm 1968 12 tháng 8 năm 2013 24 tháng 4 năm 2004 Mabel Wisse Smit
Vương tử Constantijn 11 tháng 10 năm 1969 19 tháng 5 năm 2001 Laurentien Brinkhorst

Thủ tướng Chính phủ trong suốt triều đại của Nữ vương[sửa | sửa mã nguồn]

Đảng phái Thủ tướng Bắt đầu Kết thúc
Aruba Henny Eman 1986 1989[13]
Nelson O. Oduber 1989 1994
Henny Eman 1994 2001
Nelson O. Oduber 2001 2009
Mike Eman 2009 2013
Hà Lan Dries van Agt 1977 1982
Ruud Lubbers 1982 1994
Wim Kok 1994 2002
Jan Peter Balkenende 2002 2010
Mark Rutte 2010 2013
Antilles thuộc Hà Lan Dominico Martina 1979 1984
Maria Liberia Peters 1984 1986
Dominico Martina 1986 1988
Maria Liberia Peters 1988 1993
Susanne Camelia-Römer 1993
Alejandro Felippe Paula
Miguel Arcangel Pourier 1994 1998
Susanne Camelia-Römer 1998 1999
Miguel Arcangel Pourier 1999 2002
Etienne Ys 2002 2003
Ben Komproe 2003
Mirna Louisa-Godett 2003 2004
Etienne Ys 2004 2006
Emily de Jongh-Elhage 2006 2010
Curaçao Gerrit Schotte 2010 2012
Stanley Betrian 2012 2012
Daniel Hodge 2012 2013
Sint Maarten Sarah Wescot-Williams 2010 2013

Gia phả[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b c d e Youth Lưu trữ 2009-05-05 tại Wayback Machine. The Dutch Royal House. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2008.
  2. ^ (tiếng Hà Lan) Geschiedenis Lưu trữ 2015-10-04 tại Wayback Machine, Grote Kerk Den Haag. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012.
  3. ^ De vijf peetouders van prinses Beatrix. The Memory of the Netherlands. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2008.
  4. ^ “CBC News”. Cbc.ca. ngày 18 tháng 1 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2010.
  5. ^ Education Lưu trữ 2009-05-05 tại Wayback Machine. The Dutch Royal House. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2008
  6. ^ Davison, Janet. “Abdicating Dutch queen was a wartime Ottawa schoolgirl”. CBC.ca. Canadian Broadcasting Corporation. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2013.
  7. ^ “National Capital Commission”. Canadascapital.gc.ca. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2010.
  8. ^ SKB website http://www.skbwinterswijk.nl/
  9. ^ “List of Schools”. Truy cập 9 tháng 3 năm 2015.
  10. ^ University of Sint Eustatius School of Medicine http://www.eustatiusmed.edu/island-life.html Lưu trữ 2011-12-28 tại Wayback Machine
  11. ^ “UC Berkeley's Dutch Studies Program”. Truy cập 9 tháng 3 năm 2015.
  12. ^ “Queen Beatrix Nursing Home”. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2013. Truy cập 9 tháng 3 năm 2015.
  13. ^ Aruba received status aparte in 1986.
Tiền nhiệm:
Juliana
Nữ vương Hà Lan
30 tháng 4 năm 198030 tháng 4 năm 2013
Kế nhiệm:
Willem-Alexander

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]