Cá hồng đỏ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Cá hồng đỏ
Cá hồng đỏ.JPG
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Actinopterygii
Bộ (ordo) Perciformes
Họ (familia) Lutjanidae
Chi (genus) Lutjanus
Bloch, 1790
Loài điển hình
Lutjanus erythropterus
Bloch, 1790

Cá hồng đỏ (Danh pháp khoa học: Lutjanus erythropterus) là một loài cá trong Bộ Cá vược thuộc chi Lutjanus. Đây là loài cá có giá trị kinh tế, là một trong những loài cá nuôi quý chúng được nuôi làm cá thương phẩm ở một số nước.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Cá hồng đỏ có thân hình thoi, dẹp bên, chiều dài thân bằng 2,4-2,6 lần chiều cao, đầu to miệng rộng, hàm trên mỗi bên có 2 răng nanh. Thân phải vẩy lược cứng, có cả ở má và nắp mang, thân cá màu đỏ tươi, bụng màu hồng nhạt, rìa sau vây đuôi đen xám, chiều dài lớn nhất 81,6 cm, thông thường là: 40–50 cm, thịt cá thơm ngon, ít xương nhỏ. Trong tự nhiên, cá thường sống ở sát đáy ở những vùng có rạn đá, rạn san hô, nền đáy cứng có độ sâu từ 5–100 m, cá chưa trưởng thành có chiều dài thân khoảng 2,5 cm thường sống trong các vùng nước nông có nhiều bùn.

Tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là loài rộng nhiệt và rộng muối, nhiệt độ sinh tồn của chúng nằm trong phạm vi: 2-34oC, nhiệt độ sinh trưởng là 12-30oC, đặc biệt chúng sinh trưởng nhanh trong điều kiện nhiệt độ: 25-30oC. Cá hồng đỏ có thể sống trong môi trường có độ mặn từ: 5-40‰, thích ứng nhất với độ mặn: 10-20‰, đây là loài cá ưa nước chảy, độ trong cao. Cá hồng đỏ là loài cá ăn thịt phạm vi rộng, ăn các loài thủy sản tạp nhỏ. Chúng là loài cá biển ưa nước chảy, môi trường trong sạch, có tốc độ sinh trưởng nhanh, Cá sinh trưởng nhanh, dễ nuôi, ít bệnh, nguồn thức ăn dễ tìm, rẻ tiền, đó là các loại cá ăn tạp và một số loài giáp xác, động vật không xương sống. Chúng rất tích cực bắt mồi và thường đi săn mồi về ban đêm trong điều kiện thuận lợi và ngừng bắt mồi khi điều kiện môi trường không thuận lợi.

Thủy sản[sửa | sửa mã nguồn]

Là loài cá biển có tốc độ sinh trưởng nhanh, được người dân ở một số nước đưa vào nuôi trong các ao đầm. Cá được xếp vào hàng những loài nuôi quý, được người tiêu dùng ưa thích, giá trị xuất khẩu cao. Cá có tốc độ sinh trưởng nhanh, dễ nuôi, ít bệnh, nguồn thức ăn dễ tìm, rẻ tiền. Tỷ lệ cá sống ước đạt 75%, cá phát triển khỏe mạnh, ít bệnh tật, đạt kích cỡ thương phẩm bình quân 0,6 kg/con; năng suất bình quân 9 tấn/ha. Cá hồng đỏ là loài Mật độ nuôi 15 con/m3. Sau 8 tháng thả nuôi là có thể cho thu hoạch, với trọng lượng 800g/con xuất bán ra thị trường. Cá hồng đỏ cũng là đối tượng có sức sống khá tốt, ít mắc các bệnh dịch thông thường.

Nuôi cá hồng đỏ đã trở thành phổ biến ở các nước Đông Nam Á, Australia. Một số nước như: Trung Quốc, Đài Loan… đã cho sinh sản nhân tạo thành công loài cá này. Năm 2006, tại Việt Nam cũng đã cho sinh sản nhân tạo cá hồng đỏ thành công, mở ra một nghề nuôi mới rất có triển vọng. Hiện nay ở Việt Nam cá hồng đỏ được nhiều người dân ở một số tỉnh phía Bắc như: Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định… thu gom giống ngoài tự nhiên đưa vào nuôi trong các ao đầm nước lợ.

Các tỉnh Nam Trung bộ đặc biệt là Khánh Hòa có nguồn nước biển luôn trong sạch, độ mặn cao ổn định, khí hậu ôn hòa, rất thuận lợi cho việc sản xuất giống, ương nuôi cũng như nuôi thương phẩm các loài cá biển. Vùng biển trong khu vực này ít chịu ảnh hưởng của sóng gió, thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi lồng bè trên biển. Cá hồng đỏ là một trong những đối tượng nuôi biển, chúng được nuôi trong lồng bè, trong ao đầm nước lợ, nước mặn.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]