Chì(II,IV) oxit

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chì(II,IV) oxit
Red lead.jpg
Mẫu chì(II, IV) oxit nghiền
Nhận dạng
Số CAS1314-41-6
PubChem16685188
Số EINECS215-235-6
Ảnh Jmol-3Dảnh
SMILES
Thuộc tính
Công thức phân tửPb3O4
Khối lượng mol685.6 g mol−1
Bề ngoàiTinh thể cam
Khối lượng riêng8.3 g cm−3
Điểm nóng chảy500 °C (phân hủy)
Điểm sôi
Áp suất hơi1.3 kPa (at 0 °C)
Trừ khi có ghi chú khác, dữ liệu được cung cấp cho các vật liệu trong trạng thái tiêu chuẩn của chúng (ở 25 °C [77 °F], 100 kPa).
Có  kiểm chứng (cái gì Có KhôngN ?)

Chì(II,IV) oxit, còn được gọi dưới nhiều cái tên khác là minium, chì đỏ hoặc triplumbic tetroxit, là một chất vô cơ có màu đỏ tươi hoặc cam, dưới dạng tinh thể hoặc vô định hình. Về mặt hóa học, chì đỏ là Pb3O4, hoặc 2PbO·PbO2. Hợp chất này được sử dụng trong sản xuất pin, thủy tinh chì và sơn lót chống gỉ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tên tiếng Latinh của hợp chất này có nguồn gốc từ Minius, một con sông ở Tây Bắc Iberia, nơi nó được khai thác lần đầu tiên.

Chì(II,IV) oxit được sử dụng như một sắc tố đỏ ở Rome thời cổ đại, nơi nó được điều chế bằng cách đốt thành bột chì trắng. Trong thời kỳ cổ đại và thời trung cổ, nó được sử dụng như một chất nhuộm trong việc sản xuất các tô sáng các bản thảo, và nó được đặt tên là miniumminiature, một phong cách sơn màu các bức tranh. Là một loại bột mịn, nó cũng được rải trên các bề mặt điện môi để nghiên cứu các con số của Lichtenberg.

Trong y học cổ truyền Trung Quốc, chì đỏ được sử dụng để điều trị bệnh giun gailở loét, mặc dù việc chữa trị này cần có định mức do độc tính của hóa chất này. Ngoài ra, azarón, một phương thuốc dân gian Mexico dùng trị bệnh rối loạn dạ dày-ruột, có chứa đến 95% chì(II, IV) oxit.[1]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bose, A.; Vashistha, K; O'Loughlin, B. J. (1983). “Azarcón por empacho – another cause of lead toxicity”. Pediatrics 72: 108–118.