Dương Quảng Hàm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Dương Quảng Hàm
Dương Quảng Hàm
Sinh 14 tháng 7, 1898(1898-07-14)
Hưng Yên, Đông Dương thuộc Pháp
Mất 19 tháng 12, 1946 (48 tuổi)
Hà Nội, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Công việc Nhà giáo, Nhà nghiên cứu văn học Việt Nam.

Dương Quảng Hàm (tiếng Trung: 楊廣涵[1]), tự Hải Lượng (海量), là nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo dục Việt Nam.

Tác phẩm Việt Nam văn học sử yếu, do ông dày công biên soạn, được xem là cuốn văn học sử phổ thông bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam.[2]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Dương Quảng Hàm sinh ngày 14 tháng 7 năm 1898 trong một gia đình có truyền thống nho học tại làng Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Cụ nội là Dương Duy Thanh (1804-1861), từng làm Đốc học Hà Nội. Cha của ông là Dương Trọng Phổ, anh cả là Dương Bá Trạc, một trong những người sáng lập Đông Kinh nghĩa thục, trường học cách mạng đầu tiên của thành phố Hà Nội, em là Dương Tụ Quán, đều là những danh sĩ có tiếng đương thời.

Thuở nhỏ ông học chữ Nho, sau ra Hà Nội học chữ quốc ngữ. Năm 1920, tốt nghiệp thủ khoa trường cao đẳng Sư phạm Đông Dương. Từ năm 1920 đến 1946, ông làm giáo viên trường Bưởi (tức trường trung học bảo hộ, tiền thân của trường Chu Văn An ngày nay). Sau thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông được bổ nhiệm làm thanh tra Trung học vụ, rồi làm Hiệu trưởng của trường Bưởi.

Trong hơn 20 năm (1920-1945), ông đã làm việc không mệt mỏi, vừa giảng dạy, vừa viết sách giáo khoa văn học và sử học cho nhà trường từ bậc tiểu học đến bậc trung học, vừa bằng tiếng Pháp vừa bằng tiếng Việt. Hai cuốn sách có giá trị nghiên cứu nhất của ông là Việt Nam văn học sử yếu (1941), Việt Nam thi văn hợp tuyển (1942). Riêng tác phẩm Việt Nam văn học sử yếu được Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng hòa chính thức dùng làm sách giáo khoa chương trình lớp Đệ Tam (tức là lớp 10) trong nhiều năm liền.

Dương Quảng Hàm mất khi còn đang tại chức vào 19 tháng 12 năm 1946 tại Hà Nội trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, hưởng dương 48 tuổi.[3] Theo bà Lê Thi (tên thật Dương Thị Thoa, là con gái của Dương Quảng Hàm), thì sau ngày 2 tháng 9 năm 1945, nhà giáo Dương Quảng Hàm được Việt Minh giao làm Hiệu trưởng Trường Bưởi. Tuy nhiên, đến 19 tháng 12 năm 1946 ông bị Pháp bắt và đem đi tử hình. Bà buồn rầu kể: "Khi Pháp đàn áp rất ác liệt, cả nhà tôi bảo bố trốn đi, không ở nội thành nữa nhưng ông nhất quyết không đi với lý do chưa nhận được chỉ thị của cấp trên. Bố tôi bị Pháp bắt và đem đi tử hình ở đâu cũng không biết, đến nay gia đình tôi vẫn chưa tìm thấy xác của cụ"[4].

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Vợ ông là bà Trần Thị Vân và hai người có với nhau tám người con, 4 người con gái và 4 người con trai. [5]

Cuộc hôn nhân của giáo sư Dương Quảng Hàm với bà Trần Thị Vân khá đặc biệt. Nó xuất phát từ sự hòa giải của hai dòng họ cùng đỗ đạt trong làng Phú Thị, Mễ Sở, Hưng Yên khi các tập tục phong kiến còn đang ngự trị. Đó là dòng họ Dương và dòng họ Trần. Lúc đó, cụ Tú (bố đẻ của bà Trần Thị Vân) đang giữ chức Tiên chỉ, chức vụ danh dự đứng đầu làng. Nhưng anh cả của giáo sư Dương Quảng Hàm là Dương Bá Trạc, con cụ khóa Dương Trọng Phổ, sau đó lại đỗ cử nhân (cao hơn tú tài). Cả làng lấy đó làm vinh dự nên cấp đất, sửa đường, dựng cổng đón tiếp ông lúc vinh quy. Trong họ Dương lúc đó có người muốn đòi chức Tiên chỉ cho ông Dương Bá Trạc, thậm chí gây gổ trở thành hiềm khích giữa hai họ Dương và Trần. Nhưng Dương Bá Trạc chẳng thiết gì cái chức vụ phong kiến. Ông bỏ ra Hà Nội tham gia thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục dạy học, tuyên truyền lòng yêu nước chống Pháp. Ở quê nhà, cụ Dương Trọng Phổ dẹp sự hiềm khích giữa hai họ bằng cách “xin con gái nhà họ Trần về làm dâu nhà họ Dương”. Thế là có cuộc hứa hôn giữa chị gái của cụ bà Trần Thị Vân với người anh thứ tư của giáo sư Dương Quảng Hàm. Nhưng chưa kịp tổ chức cưới thì chị gái Trần Thị Vân mắc bệnh rồi mất. Thế là “duyên chị buộc vào duyên em”.

Cụ khóa Dương Trọng Phổ hỏi cưới Trần Thị Vân cho con trai thứ năm là Dương Quảng Hàm (Dương Quảng Hàm thường được gọi là ông Năm vì là con trai thứ 5, thời phong kiến thường bỏ qua con gái. Còn tính thứ tự cả con gái thì là con thứ 6). Trần Thị Vân khi đó lớn hơn 2 tuổi nhưng các cụ cho là rất hợp, bởi vì xưa đã có câu “gái hơn hai, trai hơn một”.

Sau ngày cưới, Trần Thị Vân sang làm dâu nhà họ Dương. Suốt gần 7 năm khi người chồng Dương Quảng Hàm học ở Hà Nội, Trần Thị Vân ở quê cùng bố mẹ chồng và tiếp tục buôn bán ở chợ Mễ. Trần Thị Vân chuyên buôn vải nâu từ Mễ lên Hà Nội. Sau khi Dương Quảng Hàm tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm và được bổ nhiệm về dạy ở trường Bưởi, Trần Thị Vân mới ra Hà Nội ở cùng. Khi đó Dương Quảng Hàm 22 tuổi, còn Trần Thị Vân sang tuổi 24.

Trong ký ức những người con của giáo sư Dương Quảng Hàm, cụ bà Trần Thị Vân vừa lo buôn bán kiếm tiền, vừa lo mọi việc lớn nhỏ trong gia đình nên đôi khi khá nóng tính nhưng đối với chồng, bà luôn nể trọng, nghe theo ý kiến của chồng, nhất là trong việc dạy dỗ con cái[6].

Noi gương người cha, tám người con của vợ chồng giáo sư Dương Quảng Hàm đều là những trí thức đi theo cách mạng, nối tiếp truyền thống gia đình, đều cố gắng học tập, nghiên cứu và đóng góp cho xã hội như:

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam văn học sử yếu[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam Văn học sử yếu và Việt Nam thi văn hợp tuyển, xuất bản tại Sài Gòn vào năm 1968

Đây là một bộ sách giáo khoa văn học Việt Nam. Không kể những đề mục phụ, như: Biên tập đại ý [7], Những chữ viết tắt, Tổng kết, Biểu liệt kê, Mục lục…; Việt Nam văn học sử yếu gồm 48 chương[8] trong đó có nhiều phần có giá trị, như: Văn chương bình dân, Ảnh hưởng của nước Tàu, Các chế độ việc học, việc thi, Ảnh hưởng của nước Pháp, Vấn đề ngôn ngữ văn tự v.v…

Tác giả đã dành nhiều công sức để giới thiệu khái quát nền văn học Việt. Cuối sách còn có Biểu liệt kê các tác gia và tác phẩm, Bảng kê tên theo vần chữ cái các tác gia, tác phẩm có nói trong sách, khá tỉ mỉ và chu đáo.

Trần Hữu Tá nhận xét về sách:

Hữu Ngọc đánh giá:

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài ra, ông còn biên soạn các cuốn:

  • Lectures littéraires sur L’ Indochine (Bài tuyển văn học về Đông Dương, biên soạn cùng với Pujarnicle)
  • Quốc văn trích diễm (1925)
  • Tập bài thi bằng sơ học yếu lược (1927, soạn chung với Dương Tự Quán),
  • Những bài lịch sử Việt Nam (1927)
  • Văn học Việt Nam (1939)
  • Việt văn giáo khoa thư (1940)
  • Lý Văn Phức - tiểu sử và văn chương (viết xong khoảng năm 1945)

Và rất nhiều bài báo tiếng Việt, tiếng Pháp đăng trên các báo Nam Phong, Hữu Thanh, Tri Tân và báo của người Pháp…[9]

Ghi công[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu thế đã đánh giá về sự nghiệp trước tác của Dương Quảng Hàm là:

  • Người thầy xuất sắc đã đào tạo hàng nghìn học trò trong một phần tư thế kỷ.
  • Nhà nghiên cứu văn học đã đặt nền móng cho môn lịch sử văn học, văn học so sánh ở Việt Nam; và là người khởi xướng chương trình quốc học cho nền giáo dục hiện đại.
  • Về nhân cách, ông là "một nho sĩ yêu nước, một nhà mô phạm từ cách ăn mặc, nói năng đến mối quan hệ thầy trò, nhất nhất đều theo quan niệm chữ Lễ của Khổng học" …[10]

Để ghi nhớ công ơn, ngày 14 tháng 7 năm 1993, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Viện Khoa học giáo dục và Viện Văn học đã tổ chức lễ kỷ niệm và hội thảo khoa học về Dương Quảng Hàm nhân 95 năm ngày sinh của ông.

Hiện nay tại thị xã Hưng Yên, Thành phố Hồ Chí Minh, thủ đô Hà Nội đều có đường phố mang tên Dương Quảng Hàm [11]. Và tại huyện Văn Giang (Hưng Yên), quê hương của Dương Quảng Hàm, cũng có một trường Trung hoc phổ thông mang tên ông (lập năm 2001).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nam Phong tạp chí (南風雜誌).
  2. ^ Theo Trần Hữu Tá, Từ điển văn học, bộ mới, N.X.B Thế giới, tr.360 và Từ điển bách khoa Việt Nam, tập I, Hà Nội, 1995, tr.690.
  3. ^ a ă “Giáo sư, liệt sĩ Dương Quảng Hàm - Một trí thức uyên thâm”. 
  4. ^ nguồn: "Người kéo cờ tại lễ Tuyên ngôn độc lập", cập nhật thứ Hai ngày 02/09/2013 [1]. Cũng theo bài báo này, thì bà Thi là con gái thứ tư của Dương Quảng Hàm, và là một trong 2 cô gái kéo cờ (người kia là bà Đàm Thị Loan) cho ngày lễ độc lập của Việt Nam 2 tháng 9 năm 1945. Sau, bà là giáo sư, tiến sĩ Triết học và là người thành lập và đứng đầu Viện Nghiên cứu gia đình và giới.
  5. ^ a ă “Gia đình giáo sư Dương Quảng Hàm: Một gia đình trí thức yêu nước”. 
  6. ^ “Cuộc hôn nhân đặc biệt của giáo sư Dương Quảng Hàm”. 
  7. ^ Sách ghi ngày soạn xong: Hà nội, tháng Sáu dương lịch năm 1941
  8. ^ Sách dày 496 trang, theo bản in lần thứ 10 vào năm 1968 của Trung tâm học liệu thuộc Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng hòa.
  9. ^ G.S Thanh Lãng còn cho biết Dương Quảng Hàm có soạn bộ Việt Hán văn biểu, nhưng G.S Thanh Lãng không cho biết năm xuất bản, và ông đã khen ngợi tác phẩm này như sau: "Đối với mỗi bài văn, tác giả thường làm mấy việc như sau: 1/ Một tiểu dẫn kể qua tình tiết nhân đấy tác giả làm ra bài ấy. Nếu trích ở một cuốn truyện thì phân tích cả câu chuyện. 2/ Chú thích những từ khó hiểu. 3/ Những câu hỏi về ý tưởng và lời văn của bài trích giảng. Đó là công việc, tuy có vẻ vụn vặt nhưng vô cùng hữu ích cho công việc hiểu văn mà cho đến ngày nay ít người làm được hơn Dương Quảng Hàm "(Bảng lược đồ văn học Việt Nam, quyển hạ, Nhà xuất bản Trình Bày, Sài Gòn, không ghi năm xuất bản, tr.350)
  10. ^ Hữu Ngọc, Lãng du trong văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Thanh Niên, 2007, tr.878
  11. ^ Nguồn: [2].

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]