Erik Axel Karlfeldt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Erik Axel Karlfeldt
Chân dung của Erik Karlfeldt được Carl Larsson vẽ năm 1918
Sinh 20 tháng 7 năm 1864
Karlbo, Dalarna, Thụy Điển
Mất 8 tháng 4 năm 1931
Công việc Nhà thơ
Quốc gia Thụy Điển

Erik Axel Karlfeldt (20 tháng 7 năm 1864 – 8 tháng 4 năm 1931) là nhà thơ Thụy Điển được trao giải Nobel Văn học sau khi đã mất, vì khi còn sống ông từ chối nhận giải thưởng này.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Erik Axel Karlfeldt sinh tại một làng quê ở Delekarlia, cha là chủ một trang trại. Thuở nhỏ ông học ở Karlbo, năm 1885 tốt nghiệp trung học, sau đó học Đại học Uppsala. Vì gia đình bị phá sản, ông phải đi dạy tư để kiếm tiền nên mãi đến năm 1902 mới tốt nghiệp đại học. Từ năm 1893 tới năm 1896 ông là thầy giáo tại các trường trung học tư thục Djursholm, trường giáo dục công dân Molkom, và có thời gian ngắn làm việc cho một tờ báo ở Stockholm; sau đó ông làm ở thư viện của Viện Hàn lâm Nông nghiệp.

Năm 1895 Karlfeldt cho ra đời tập thơ đầu tiên trong số sáu tập thơ của ông, Vildmarks- och kärleksvisor (Những bài ca về thiên nhiên hoang dã và về tình yêu); tiếp đó là Fridolins visor och andra dikter (Những bài ca của Fridolin) và đặc biệt là Fridolins lustgård och Dalmålningar på rim (Vườn hoan lạc của Fridolin), trong đó có bài thơ được coi là độc đáo nhất của Karlfeldt Dalmalningar utlagda pa rim (Bức họa của Dalmalningar), mô tả những bức tranh dân gian truyền thống lấy đề tài từ Kinh Thánh và các câu chuyện huyền thoại thường thấy trong các ngôi nhà nông dân Thụy Điển.

Năm 1904, Karlfeldt được bầu làm viện sĩ Viện Hàn lâm Thụy Điển. Từ năm 1905 ông là thành viên Ủy ban Nobel của Viện Hàn lâm Thụy Điển. Năm 1912, ông trở thành thư ký thường trực của Ủy ban giải thưởng Nobel Văn học. Năm 1917 ông nhận bằng danh dự của Đại học Uppsala. Năm 1926 ông lấy một cô vợ trẻ hơn mình 20 tuổi, có hai con.

Thơ ông thường lấy đề tài từ thiên nhiên và đời sống nông thôn, đem lại những cảm xúc tươi vui hoặc những tình cảm sâu lắng cho người đọc. Karlfeldt làm thơ nhiều thể loại, ngôn ngữ thơ rất trau chuốt, theo phong cách cổ điển. Ông hầu như không viết văn xuôi, ngoại trừ một bản điếu văn đọc trong tang lễ nhà thơ Coustav Freding (Thụy Điển) và một bài phát biểu tại lễ trao giải Nobel cho nhà văn Mỹ Sinclair Lewis năm 1930. Karlfeldt được đề cử trao giải Nobel Văn học năm 1912 nhưng ông từ chối, lấy cớ mình là thư kí thường trực của ủy ban giải thưởng Nobel và không nổi tiếng lắm ở nước ngoài. Ông là người đầu tiên trên thế giới từ chối nhận giải này. Cuối năm 1931, sau khi Karlfeldt mất, Viện Hàn lâm Thụy Điển lại quyết định trao giải Nobel cho ông bởi vì tuy không được biết đến nhiều ở nước ngoài nhưng ông được đánh giá rất cao ở Thụy Điển.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vildmarks- och kärleksvisor (Những bài ca về thiên nhiên hoang dã và về tình yêu, 1895), thơ
  • Fridolins visor och andra dikter (Những bài ca của Fridolin, 1898), thơ
  • Fridolins lustgård och Dalmålningar på rim (Vườn hoan lạc của Fridolin, 1901), thơ
  • Flora och Pomona (Flora và Pomona, 1906), thơ
  • Flora och Bellona (Flora và Bellona, 1918), thơ
  • Hosthorn (Tiếng kèn mùa thu, 1927), thơ

Một số bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Sub luna
Sub luna amo.
Mörk är min brud,
brinner i bruna kvällar,
dansar i månglitterskrud,
doftar som nattglim
under en kornblixtsky,
svalkar som morgondaggen,
växlar som nedan och ny.
 
Sub luna bibo.
Mörkt är mitt öl,
svartmältat korn dess kärna,
skummet som månglittermjöl.
Tankar och löjen
sväva kring kannans rund,
sväva som läderlappar,
sväva som guldlöv i lund.
 
Sub luna canto.
Mörk är min sång,
suckar som vågor i vassen,
rullar som bränningens gång,
reser sig trotsig,
sjunker tillbaka tung,
ebbar sin tid och flödar,
gammal och kvalfullt ung.
 
Sub luna vivo.
Mörkt är mitt liv,
ringa och vanligt i öden,
sorger och tidsfördriv.
Gärna jag delar
tingens förgängliga lott,
lycklig att lida och njuta
jordelivets fulla mått.
 
Sub luna morior.
Mörk är min grav.
Giv mig åt namnlös torva
eller åt vind och hav:
vilan i mullen,
eller ett skärat stoft,
fladdrande som min längtan
fladdrat mot månklara loft.
 
Mikrokosmos
Jag är av jorden, jag är sval och tung,
trögvulen, gammalstämd fast ganska ung.
Det står ett gulnat höstträd i min själ,
dess alla grenar susa som farväl.
 
Jag är av vattnet, jag är kall och våt,
min stela flegma är som frusen gråt.
Min vinterglädje bullrar stark men bråd,
vid fulla bord med vin och villebråd.
 
Jag är av luften, jag är ljus och blid,
jag går som i beständig lådingstid.
Vad långa år försummat och försönt
står upp vid vädrens lekar friskt och grönt.
 
Jag är av elden, jag är torr och het
av sommarsol som ingen nedgång vet.
Väl må jag undra att hon ej förbränt
mig själv med alla mina element.
Dưới trăng
Sub luna amo.[1]
Cô dâu tôi màu tối
Cháy lên dưới hoàng hôn
Như ánh trăng tỏa sáng
Như hoa tỏa mùi hương
Trong đêm hè nóng bỏng
Như giọt sương mai chuyển
Từ sáng đến mờ dần.
 
Sub luna bibo.[2]
Bia của tôi màu tối
Bọt bia sáng ngời lên
Và dường như dưới đáy
Những nụ cười, ý nghĩ
Đọng lại thật ngẫu nhiên
Còn trên chiếc cốc vại
Bay những chiếc lá vàng.
 
Sub luna canto.[3]
Bài hát tôi màu tối
Như sóng vỗ dạt dào
Như đổ vào đâu đó
Như bay lên trời cao
Dịu êm và vội vã
Trẻ trung và xưa cũ
Cứ thế nối đuôi nhau.
 
Sub luna vivo.[4]
Cuộc đời tôi màu tối
Tẻ nhạt và tầm thường
Buồn bã hay hân hoan
Tôi đều đem chia sẻ
Khoái lạc và đau khổ
Của kiếp sống trần gian
Cho mình – tôi nhận đủ.
 
Sub luna morior.[5]
Mộ của tôi màu tối
Liệu có chờ có đợi
Độ sâu của đại dương
Yên lặng của vĩnh hằng
Hay tro bụi mãi mãi
Như nỗi buồn tê tái
Bay thơ thẩn trên đồng.
 
Thế giới vi mô
Tôi là đất, mát mẻ và chậm chạp
Dù trẻ trung nhưng mập mạp và cùn
Ánh sáng mùa thu chiếu giữa cõi lòng
Chiếc lá vàng cất lên lời “vĩnh biệt”.
 
Tôi là nước, giá băng và ẩm ướt
Vẻ rình rang như nước mắt mùa đông
Niềm vui mạnh mẽ nhưng cũng vội vàng
Trên những bàn có rượu và có thịt.
 
Tôi là không khí, nhẹ nhàng trong suốt
Mặc áo quần tươi đẹp của mùa xuân
Một năm tươi vui cùng với màu xanh
Rồi lớn lên, dù đổi thay thời tiết.
 
Tôi là lửa, cháy lên và khô khát
Như bầu trời dưới ánh nắng mặt trời
Và thấy ngạc nhiên vì một điều này:
Ánh mặt trời không thể nào đốt hết.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Yêu dưới trăng
  2. ^ Uống dưới trăng
  3. ^ Hát dưới trăng
  4. ^ Sống dưới trăng
  5. ^ Chết dưới trăng

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]